(ANTĐ) - Người ta đi lễ chùa cầu tài, cầu lộc, cầu đăng khoa, đỗ đạt, còn tôi chỉ quan niệm giản dị, đi chùa là để tìm chút thư thái trong tâm, tiếp sau là vãng cảnh để hòa mình với khí thiêng của trời đất buổi đầu xuân. Trong tiết trời xuân, khi mưa rắc bụi,  một lần ghé chân tới Tổ đình Trung Hậu hẳn sẽ mang lại cho những người đi lễ chùa thật nhiều xúc cảm.

Tổ đình Trung Hậu hay dân gian vẫn quen gọi là chùa Trung Hậu thuộc xã Tiền Phong, huyện Mê Linh cách trung tâm Hà Nội chừng 25km. Điểm nổi bật của ngôi chùa chưa hẳn là cổ kính này không chỉ nằm ở những bức phù điêu gỗ đặt trong gian thờ Tổ mà còn bởi cảnh sắc tuyệt tác trong khuôn viên chùa. Khắp nơi, đâu đâu cũng là cây cỏ, từ những giống lan “khó tính” cho tới những chậu hoa đá dễ trồng đều toát lên một vẻ đẹp thanh thoát làm mê đắm người đi lễ chùa.

Đặt chân tới tam quan, cánh cửa gỗ mộc mạc như gợi nhắc du khách về một miền ký ức xưa cũ nơi làng quê Bắc bộ. Tượng đức Phật trên vọng gác từ bi đón nhận khách thập phương về bái viễn. Rồi chỉ qua tam quan ấy thôi, cả một thế giới hoa cỏ bỗng đâu ùa về để lại sau cửa Phật những bụi trần nặng trĩu.

Con đường dẫn vào gian thờ chính không trải nhựa, cũng không lát gạch mà chỉ toàn là sỏi. Chú tiểu ở chùa khẽ giải thích rằng vì khách phương xa đi đường mệt nhọc về tới đây đi trên con đường này bàn chân sẽ được những viên đá cuội kia làm cho thư thái.

Dọc lối đi sư thầy trồng rất nhiều cây mai, cây mận bung nở những bông trắng muốt, xen lẫn những thứ cây dân dã trong vườn nhà như bưởi, cam, nhãn… trên những cành cây ấy rực lên sắc đỏ của những miếng lụa cầu phúc mà người đi lễ buộc lên. Giữa hồ sen rộng, lầu Quán Âm bằng gỗ được cất lên, ở đó đức Phật bà hiền từ soi rọi mọi nỗi khổ của thế nhân mà phổ độ chúng sinh.

Vào trong sân chùa, qua ang nước hoa súng nở tràn, là những luống hoa hồng, hoa tường vi nhuộm thắm một góc sân. Lễ Phật xong, du khách an nhàn thả bước về phía hậu viện nơi mở ra một cõi tiên nơi trần thế. Ở đó vườn hoa lan của sư thầy rủ nhau khoe sắc, có những loài lan quý hiếm thuộc dạng khó trồng cũng đang độ ra hoa. Còn có cả những cây cỏ giản dị vô ngần như cây bỏng, cây hoa đá cũng đầy sức mê hoặc. Khách lạc bước chốn bồng lai cơ hồ nhận thấy cỏ cây chốn linh thiêng này cũng hữu tình lắm, nhánh cây ngọn cỏ nào cũng đẹp cũng có linh hồn. Giữa chốn cỏ cây, giữa tiếng chuông chùa điểm khẽ, lòng kẻ lữ khách thấy nhẹ nhõm lắm thay để bỗng nhận ra từng bước chân nặng nỗi lo toan thường ngày giờ thật an lạc, quên cả thời gian, quyến luyến chẳng muốn về.

Hẳn sư thầy ở đây phải là người hiền từ, đôn hậu bởi đám cỏ cây mà ngày ngày người vun trồng tưới tắm như đã kể cho lữ khách nghe về người. Chẳng thế mà chùa Trung Hậu là nơi được chọn để tổ chức các khóa tu cho học sinh, sinh viên nhằm giúp các bạn hiểu hơn về cội nguồn, về hiếu, lễ.

Trong chuyến hoằng pháp tại Việt Nam của Đức Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa, chùa cũng được ngài chọn làm nơi ngụ lại để chủ trì Pháp hội cầu nguyện Quốc thái dân an, đồng thời tổ chức nghi thức quán đỉnh cộng đồng với khoảng gần 1.000 Phật tử thập phương về dự.

Theo Tuấn Linh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Cõi Phật nơi trần thế

(ANTĐ) - Người ta đi lễ chùa cầu tài, cầu lộc, cầu đăng khoa, đỗ đạt, còn tôi chỉ quan niệm giản dị, đi chùa là để tìm chút thư thái trong tâm, tiếp sau là vãng cảnh để hòa mình với khí thiêng của trời đất buổi đầu xuân. Trong tiết trời xuân, khi mưa rắc bụi,  một lần ghé chân tới Tổ đình Trung Hậu hẳn sẽ mang lại cho những người đi lễ chùa thật nhiều xúc cảm.

Tổ đình Trung Hậu hay dân gian vẫn quen gọi là chùa Trung Hậu thuộc xã Tiền Phong, huyện Mê Linh cách trung tâm Hà Nội chừng 25km. Điểm nổi bật của ngôi chùa chưa hẳn là cổ kính này không chỉ nằm ở những bức phù điêu gỗ đặt trong gian thờ Tổ mà còn bởi cảnh sắc tuyệt tác trong khuôn viên chùa. Khắp nơi, đâu đâu cũng là cây cỏ, từ những giống lan “khó tính” cho tới những chậu hoa đá dễ trồng đều toát lên một vẻ đẹp thanh thoát làm mê đắm người đi lễ chùa.

Đặt chân tới tam quan, cánh cửa gỗ mộc mạc như gợi nhắc du khách về một miền ký ức xưa cũ nơi làng quê Bắc bộ. Tượng đức Phật trên vọng gác từ bi đón nhận khách thập phương về bái viễn. Rồi chỉ qua tam quan ấy thôi, cả một thế giới hoa cỏ bỗng đâu ùa về để lại sau cửa Phật những bụi trần nặng trĩu.

Con đường dẫn vào gian thờ chính không trải nhựa, cũng không lát gạch mà chỉ toàn là sỏi. Chú tiểu ở chùa khẽ giải thích rằng vì khách phương xa đi đường mệt nhọc về tới đây đi trên con đường này bàn chân sẽ được những viên đá cuội kia làm cho thư thái.

Dọc lối đi sư thầy trồng rất nhiều cây mai, cây mận bung nở những bông trắng muốt, xen lẫn những thứ cây dân dã trong vườn nhà như bưởi, cam, nhãn… trên những cành cây ấy rực lên sắc đỏ của những miếng lụa cầu phúc mà người đi lễ buộc lên. Giữa hồ sen rộng, lầu Quán Âm bằng gỗ được cất lên, ở đó đức Phật bà hiền từ soi rọi mọi nỗi khổ của thế nhân mà phổ độ chúng sinh.

Vào trong sân chùa, qua ang nước hoa súng nở tràn, là những luống hoa hồng, hoa tường vi nhuộm thắm một góc sân. Lễ Phật xong, du khách an nhàn thả bước về phía hậu viện nơi mở ra một cõi tiên nơi trần thế. Ở đó vườn hoa lan của sư thầy rủ nhau khoe sắc, có những loài lan quý hiếm thuộc dạng khó trồng cũng đang độ ra hoa. Còn có cả những cây cỏ giản dị vô ngần như cây bỏng, cây hoa đá cũng đầy sức mê hoặc. Khách lạc bước chốn bồng lai cơ hồ nhận thấy cỏ cây chốn linh thiêng này cũng hữu tình lắm, nhánh cây ngọn cỏ nào cũng đẹp cũng có linh hồn. Giữa chốn cỏ cây, giữa tiếng chuông chùa điểm khẽ, lòng kẻ lữ khách thấy nhẹ nhõm lắm thay để bỗng nhận ra từng bước chân nặng nỗi lo toan thường ngày giờ thật an lạc, quên cả thời gian, quyến luyến chẳng muốn về.

Hẳn sư thầy ở đây phải là người hiền từ, đôn hậu bởi đám cỏ cây mà ngày ngày người vun trồng tưới tắm như đã kể cho lữ khách nghe về người. Chẳng thế mà chùa Trung Hậu là nơi được chọn để tổ chức các khóa tu cho học sinh, sinh viên nhằm giúp các bạn hiểu hơn về cội nguồn, về hiếu, lễ.

Trong chuyến hoằng pháp tại Việt Nam của Đức Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa, chùa cũng được ngài chọn làm nơi ngụ lại để chủ trì Pháp hội cầu nguyện Quốc thái dân an, đồng thời tổ chức nghi thức quán đỉnh cộng đồng với khoảng gần 1.000 Phật tử thập phương về dự.

Theo Tuấn Linh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Chùa Hưng Thiện tọa lạc tại ấp Phú Tòng, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, cách thành phố Bạc Liêu khoảng 7 km về hướng đông.

< Tượng Quán Thế Âm Bồ tát một tay cầm bình cam lồ, một tay bắt ấn niệm kinh chú, đứng trên tòa sen với những cánh sen màu hồng nhạt.

Đây là một ngôi chùa nông thôn xưa đã tồn tại trên trăm năm, có nhiều thành tích trong hoạt động Phật sự, góp phần tích cực trong việc hoằng hóa đạo pháp và đào tạo tăng ni cho thế hệ kế thừa.

< Hai hàng tượng hóa thân Quán Thế Âm Bồ tát hai bên sân trước, lối dẫn vào khu chánh điện. Dự kiến việc dựng các pho tượng này sẽ hoàn tất vào cuối năm 2014.

Trước mặt chùa Hưng Thiện có một con kinh nhỏ, bên kia bờ kinh là một khu đất trống, tại khu đất này hơn trăm năm trước đã có một am nhỏ bằng cây lá rừng do một người phụ nữ xây cất để tu hành.

< Hai bên tòa sen có cầu thang dẫn lên nơi Quán Thế Âm Bồ tát ngự.

Đến năm 1870, một người giàu có trong vùng tên gọi Xã Mọi thấy bà là người có tâm đạo nên đã hiến cúng hai mẫu đất ở cạnh am, đồng thời bỏ tiền ra để xây dựng một ngôi chùa nhỏ bằng cây gỗ, mái lợp ngói. Ngôi chùa mang tên Hưng Thiện đã ra đời từ đó.

Sau gần hai trăm năm, qua nhiều lần xây dựng - trùng tu với bảy đời trụ trì, mỗi thời kỳ đều có sự phát triển, nhất là từ năm 1995 đến nay, chùa Hưng Thiện như thay da đổi thịt tạo được nhiều thành tích trong các hoạt động Phật sự, công tác từ thiện xã hội…

Đầu năm 2008, chùa đã khởi công dựng tượng Quán Thế Âm Bồ tát có tổng chiều cao 43,5 mét. Thánh tượng Bồ tát do nghệ nhân Châu Viết Thạnh tôn tạo, nghệ nhân này cũng chính là tác giả xây dựng thánh tượng Bồ tát Quấn Thế Âm cao 70 mét tại Đà Nẵng, tượng đứng cao nhất nước Việt Nam, tác giả đã hoàn tất xong năm 2009.

< Rất nhiều tranh, phù điêu La Hán bên trong chánh điện do phật tử khắp nơi cúng dường.

Thánh tượng tại chùa Hưng Thiện, riêng phần thân tượng do nghệ nhân Châu Viết Thạnh phụ trách, các hạn mục còn lại của công trình đều do người trong chùa thực hiện theo thiết kế.

< Phật tử hoan hỉ dùng cơm chay dưới gốc cây sala sau khi chiêm bái lễ Phật.

Đến cuối năm 2013, việc dựng tượng đã hoàn thành. Đây có thể được xem là pho tượng Quán Thế Âm lớn nhất Bạc Liêu hiện nay.

Sự ra đời của thánh tượng Bồ tát Quán Thế Âm lại càng góp phần tích cực cho việc xiển dương Phật giáo, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch tỉnh nhà có những bước phát triển tốt đẹp.

Ảnh The Saigon Times
Du lịch, GO!

Chùa Hưng Thiện ở Bạc Liêu

Chùa Hưng Thiện tọa lạc tại ấp Phú Tòng, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, cách thành phố Bạc Liêu khoảng 7 km về hướng đông.

< Tượng Quán Thế Âm Bồ tát một tay cầm bình cam lồ, một tay bắt ấn niệm kinh chú, đứng trên tòa sen với những cánh sen màu hồng nhạt.

Đây là một ngôi chùa nông thôn xưa đã tồn tại trên trăm năm, có nhiều thành tích trong hoạt động Phật sự, góp phần tích cực trong việc hoằng hóa đạo pháp và đào tạo tăng ni cho thế hệ kế thừa.

< Hai hàng tượng hóa thân Quán Thế Âm Bồ tát hai bên sân trước, lối dẫn vào khu chánh điện. Dự kiến việc dựng các pho tượng này sẽ hoàn tất vào cuối năm 2014.

Trước mặt chùa Hưng Thiện có một con kinh nhỏ, bên kia bờ kinh là một khu đất trống, tại khu đất này hơn trăm năm trước đã có một am nhỏ bằng cây lá rừng do một người phụ nữ xây cất để tu hành.

< Hai bên tòa sen có cầu thang dẫn lên nơi Quán Thế Âm Bồ tát ngự.

Đến năm 1870, một người giàu có trong vùng tên gọi Xã Mọi thấy bà là người có tâm đạo nên đã hiến cúng hai mẫu đất ở cạnh am, đồng thời bỏ tiền ra để xây dựng một ngôi chùa nhỏ bằng cây gỗ, mái lợp ngói. Ngôi chùa mang tên Hưng Thiện đã ra đời từ đó.

Sau gần hai trăm năm, qua nhiều lần xây dựng - trùng tu với bảy đời trụ trì, mỗi thời kỳ đều có sự phát triển, nhất là từ năm 1995 đến nay, chùa Hưng Thiện như thay da đổi thịt tạo được nhiều thành tích trong các hoạt động Phật sự, công tác từ thiện xã hội…

Đầu năm 2008, chùa đã khởi công dựng tượng Quán Thế Âm Bồ tát có tổng chiều cao 43,5 mét. Thánh tượng Bồ tát do nghệ nhân Châu Viết Thạnh tôn tạo, nghệ nhân này cũng chính là tác giả xây dựng thánh tượng Bồ tát Quấn Thế Âm cao 70 mét tại Đà Nẵng, tượng đứng cao nhất nước Việt Nam, tác giả đã hoàn tất xong năm 2009.

< Rất nhiều tranh, phù điêu La Hán bên trong chánh điện do phật tử khắp nơi cúng dường.

Thánh tượng tại chùa Hưng Thiện, riêng phần thân tượng do nghệ nhân Châu Viết Thạnh phụ trách, các hạn mục còn lại của công trình đều do người trong chùa thực hiện theo thiết kế.

< Phật tử hoan hỉ dùng cơm chay dưới gốc cây sala sau khi chiêm bái lễ Phật.

Đến cuối năm 2013, việc dựng tượng đã hoàn thành. Đây có thể được xem là pho tượng Quán Thế Âm lớn nhất Bạc Liêu hiện nay.

Sự ra đời của thánh tượng Bồ tát Quán Thế Âm lại càng góp phần tích cực cho việc xiển dương Phật giáo, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch tỉnh nhà có những bước phát triển tốt đẹp.

Ảnh The Saigon Times
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(TBKTSG) - Có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên vì sao ông bà chủ một cái chợ lại được lập đền thờ. Ấy vậy mà ở thành phố Cao Lãnh (Đồng Tháp) có một ngôi đền như thế. Đó là đền thờ ông bà Đỗ Công Tường hay còn gọi ông bà chủ chợ Cao Lãnh. Ngôi đền rất cổ kính, trang nghiêm, nằm ngay khu trung tâm, trên đường Lê Lợi thuộc phường 2, thành phố Cao Lãnh.

< Tam quan của ngôi đền thờ Ông Bà Chủ Chợ.

Ông Đỗ Công Tường tục danh là Lãnh. Người sinh quán ở miền Trung đến lập nghiệp tại làng Mỹ Trà dưới triều Gia Long vào năm Đinh Sửu (1817). Với đức tính cần cù, chịu khó, ông bà đã khai khẩn đất hoang, trồng được một vườn quít khá lớn, cây trái sum suê.

Nơi đây thuận tiện cả đường sông, đường bộ nên dân làng thường tụ tập để trao đổi, mua bán cây trái và hàng hóa ngày. Lâu ngày, chợ đông dần, và trở thành nơi trao đổi, mua bán hàng hóa. Từ đó, gia đình ông bà khá giả dần lên. Với đức tính cương trực, thẳng thắn nên được dân làng chọn giữ chức Câu đương, phân xử những vụ tố tụng trong làng.

< Điện thờ chính trong ngôi đền Ông Bà Chủ Chợ.

Năm 1820 đất trời biến động, bệnh dịch tả phát lên dữ dội làm chết rất nhiều người trong làng, chợ vườn quít trở nên thưa vắng, không khí trong làng bao trùm cảnh tang tóc, lo âu. Với tấm lòng nhân từ, bác ái, động lòng trắc ẩn, thương cảm dân tình trong làng lâm vào đại nạn, ông bà đã lập bàn hương án, cầu nguyện phật trời xin chết thay cho dân chúng. Qua ba ngày cầu khẩn, chay lạt thì bà chết, ngày sau ông cũng chết theo vì dịch bệnh.

An táng cho ông bà xong, bịnh dịch lần hồi cũng dứt luôn. Do vậy, dân làng nghĩ rằng lòng thành của ông bà thấu đến Trời Phật, chính ông bà chết thay cho họ, nhờ đó mà họ thoát chết. Nên cùng nhau kẻ ít người nhiều, chung đậu dựng ngôi đền thờ ông bà bên rạch Thầy Khâm (nay là đại lộ Lê Lợi), ngày đêm khói hương không dứt để tưởng nhớ công lao hai người, gọi là đền Ông Bà Chủ Chợ. Hàng năm cúng bái long trọng.

< Mộ Ông và mộ Bà.

Từ đó, chợ Ông Câu, được gọi là chợ Câu Lãnh, lâu ngày nói trại thành Cao Lãnh. Lần hồi Cao Lãnh trở thành một địa danh cho đến ngày nay.

Năm 1936, đại hương cả làng Mỹ Trà là Huỳnh Kim Sanh, đệ đơn nhờ Chủ quận Cao Lãnh xin triều đình sắc phong. Cuối năm, vua Bảo Đại phong sắc cho ông bà Dực bảo trung hưng linh phù chi thần. Từ đó miếu ngày càng được trùng tu, cúng tế mỗi năm 2 lần: Ngày vía ông bà: 09 -10 tháng 6 âm lịch; Ngày sanh ông bà: 16 -17 tháng 3 âm lịch.

Do ngôi đền nằm ở trung tâm thành phố, lại có không gian rộng lớn nên rất thuận tiện cho mọi người đến viếng thăm, cúng bái. Ngôi đền được trang hoàng lộng lẫy với cổng tam quan to, chắc chắn, được trang trí rực rỡ, với kiến trúc đền miếu Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX. Phía trước cổng có tượng của bốn con sư tử đặt ở hai bên cổng. Hai con sư tử mẹ với tư thế ngồi xổm như canh chừng để xua đuổi tà khí và mọi điều xui xẻo vào đền, hai con sư tử con ở hai bên thì đùa giỡn với trái cầu, biểu tượng cho một cảnh sắc thanh bình.

Ở mỗi cửa của cổng tam quan đều có mái nóc, trên có lợp ngói, được trang trí nhiều hoa văn họa tiết, nổi bật với hai gam màu vàng và đỏ. Phía trên cổng chính có biển đề: Đền thờ Ông Bà Đỗ Công Tường. Sau cổng là một khoảng sân hơi hẹp nhưng khá sạch sẽ, được điểm xuyết bởi những cây kiểng quý như: mai vàng, mai chiếu thủy, thiên tuế… làm cho không gian trở nên dịu mát hơn giữa cảnh ban trưa nắng gắt. Đền thờ gồm có một nhà chính và một nhà phụ. Nhà phụ nằm bên phải đền thờ là nhà khách, nơi dùng để tiếp khách, sinh hoạt của những người phụ trách đền và cũng là nơi chuẩn bị thức cúng trong mỗi kỳ tế lễ.

< Hương án thờ bài vị ghi ba chữ Chủ thị miếu bằng chữ Hán.

Đền thờ, ngoài bề ngang khá rộng, chiều dài cũng khá sâu. Ngay cửa chính của đền thờ là một tấm bia bằng kim loại ghi công tích của ông bà trong lịch sử được đặt ngay chính giữa lối đi, có tác dụng như bức bình phong che chắn những cái nhìn trực diện từ ngoài vào gian chính điện. Khuôn viên bên trong đền thờ được trang hoàng rực rỡ nhưng cũng đượm vẻ thâm u, tạo nên một không khí thiêng liêng và tĩnh lặng đến lạ thường. Trong này được chia thành nhiều gian, mỗi gian có một trang thờ riêng, thờ các vị thần khác nhau, như gian thờ Quan Thánh Đế, gian thờ Khổng Tử và có cả gian thờ Thành hoàng của đình thần Đình Trung…

Sau cùng mới là gian chính điện, nơi thờ ông bà chủ chợ. Gian này cũng được trang trí rực rỡ, tinh tế với nhiều hoa văn họa tiết vừa đẹp, vửa tỉ mỉ và khéo léo. Giữa trang thờ này có bài vị to, trên đó có viết ba chữ Hán: Chủ thị miếu - tức là miếu chủ chợ. Phía trước trang thờ này còn có võng rèm bằng gỗ được chạm khắc hình rồng ẩn mây, lưỡng long tranh châu vừa lộng lẫy vừa tôn thêm sự uy nghiêm của gian thờ.

Với những gì còn lưu giữ được ngày nay, đền thờ ông bà chủ chợ đã được UBND tỉnh Đồng Tháp xếp hạng di tích vào ngày 20 tháng 4 năm 2001.

Tên tuổi ông bà Đỗ Công Tường đã gắn liền với địa danh Cao Lãnh, gắn với một giai thoại về nhân nghĩa ở đời. Vì vậy, nếu có dịp về Đồng Tháp, xin mời du khách đến tham quan đền thờ ông bà Đỗ Công Tường, một di tích lịch sử đã ngự trị mãi mãi trong lòng nhân dân Đồng Tháp nói riêng, nhân dân Nam Bộ nói chung.

Theo Trần Quang Diệu (The Saigon Times)
Du lịch, GO!

Đền thờ Ông Bà Chủ Chợ

(TBKTSG) - Có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên vì sao ông bà chủ một cái chợ lại được lập đền thờ. Ấy vậy mà ở thành phố Cao Lãnh (Đồng Tháp) có một ngôi đền như thế. Đó là đền thờ ông bà Đỗ Công Tường hay còn gọi ông bà chủ chợ Cao Lãnh. Ngôi đền rất cổ kính, trang nghiêm, nằm ngay khu trung tâm, trên đường Lê Lợi thuộc phường 2, thành phố Cao Lãnh.

< Tam quan của ngôi đền thờ Ông Bà Chủ Chợ.

Ông Đỗ Công Tường tục danh là Lãnh. Người sinh quán ở miền Trung đến lập nghiệp tại làng Mỹ Trà dưới triều Gia Long vào năm Đinh Sửu (1817). Với đức tính cần cù, chịu khó, ông bà đã khai khẩn đất hoang, trồng được một vườn quít khá lớn, cây trái sum suê.

Nơi đây thuận tiện cả đường sông, đường bộ nên dân làng thường tụ tập để trao đổi, mua bán cây trái và hàng hóa ngày. Lâu ngày, chợ đông dần, và trở thành nơi trao đổi, mua bán hàng hóa. Từ đó, gia đình ông bà khá giả dần lên. Với đức tính cương trực, thẳng thắn nên được dân làng chọn giữ chức Câu đương, phân xử những vụ tố tụng trong làng.

< Điện thờ chính trong ngôi đền Ông Bà Chủ Chợ.

Năm 1820 đất trời biến động, bệnh dịch tả phát lên dữ dội làm chết rất nhiều người trong làng, chợ vườn quít trở nên thưa vắng, không khí trong làng bao trùm cảnh tang tóc, lo âu. Với tấm lòng nhân từ, bác ái, động lòng trắc ẩn, thương cảm dân tình trong làng lâm vào đại nạn, ông bà đã lập bàn hương án, cầu nguyện phật trời xin chết thay cho dân chúng. Qua ba ngày cầu khẩn, chay lạt thì bà chết, ngày sau ông cũng chết theo vì dịch bệnh.

An táng cho ông bà xong, bịnh dịch lần hồi cũng dứt luôn. Do vậy, dân làng nghĩ rằng lòng thành của ông bà thấu đến Trời Phật, chính ông bà chết thay cho họ, nhờ đó mà họ thoát chết. Nên cùng nhau kẻ ít người nhiều, chung đậu dựng ngôi đền thờ ông bà bên rạch Thầy Khâm (nay là đại lộ Lê Lợi), ngày đêm khói hương không dứt để tưởng nhớ công lao hai người, gọi là đền Ông Bà Chủ Chợ. Hàng năm cúng bái long trọng.

< Mộ Ông và mộ Bà.

Từ đó, chợ Ông Câu, được gọi là chợ Câu Lãnh, lâu ngày nói trại thành Cao Lãnh. Lần hồi Cao Lãnh trở thành một địa danh cho đến ngày nay.

Năm 1936, đại hương cả làng Mỹ Trà là Huỳnh Kim Sanh, đệ đơn nhờ Chủ quận Cao Lãnh xin triều đình sắc phong. Cuối năm, vua Bảo Đại phong sắc cho ông bà Dực bảo trung hưng linh phù chi thần. Từ đó miếu ngày càng được trùng tu, cúng tế mỗi năm 2 lần: Ngày vía ông bà: 09 -10 tháng 6 âm lịch; Ngày sanh ông bà: 16 -17 tháng 3 âm lịch.

Do ngôi đền nằm ở trung tâm thành phố, lại có không gian rộng lớn nên rất thuận tiện cho mọi người đến viếng thăm, cúng bái. Ngôi đền được trang hoàng lộng lẫy với cổng tam quan to, chắc chắn, được trang trí rực rỡ, với kiến trúc đền miếu Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX. Phía trước cổng có tượng của bốn con sư tử đặt ở hai bên cổng. Hai con sư tử mẹ với tư thế ngồi xổm như canh chừng để xua đuổi tà khí và mọi điều xui xẻo vào đền, hai con sư tử con ở hai bên thì đùa giỡn với trái cầu, biểu tượng cho một cảnh sắc thanh bình.

Ở mỗi cửa của cổng tam quan đều có mái nóc, trên có lợp ngói, được trang trí nhiều hoa văn họa tiết, nổi bật với hai gam màu vàng và đỏ. Phía trên cổng chính có biển đề: Đền thờ Ông Bà Đỗ Công Tường. Sau cổng là một khoảng sân hơi hẹp nhưng khá sạch sẽ, được điểm xuyết bởi những cây kiểng quý như: mai vàng, mai chiếu thủy, thiên tuế… làm cho không gian trở nên dịu mát hơn giữa cảnh ban trưa nắng gắt. Đền thờ gồm có một nhà chính và một nhà phụ. Nhà phụ nằm bên phải đền thờ là nhà khách, nơi dùng để tiếp khách, sinh hoạt của những người phụ trách đền và cũng là nơi chuẩn bị thức cúng trong mỗi kỳ tế lễ.

< Hương án thờ bài vị ghi ba chữ Chủ thị miếu bằng chữ Hán.

Đền thờ, ngoài bề ngang khá rộng, chiều dài cũng khá sâu. Ngay cửa chính của đền thờ là một tấm bia bằng kim loại ghi công tích của ông bà trong lịch sử được đặt ngay chính giữa lối đi, có tác dụng như bức bình phong che chắn những cái nhìn trực diện từ ngoài vào gian chính điện. Khuôn viên bên trong đền thờ được trang hoàng rực rỡ nhưng cũng đượm vẻ thâm u, tạo nên một không khí thiêng liêng và tĩnh lặng đến lạ thường. Trong này được chia thành nhiều gian, mỗi gian có một trang thờ riêng, thờ các vị thần khác nhau, như gian thờ Quan Thánh Đế, gian thờ Khổng Tử và có cả gian thờ Thành hoàng của đình thần Đình Trung…

Sau cùng mới là gian chính điện, nơi thờ ông bà chủ chợ. Gian này cũng được trang trí rực rỡ, tinh tế với nhiều hoa văn họa tiết vừa đẹp, vửa tỉ mỉ và khéo léo. Giữa trang thờ này có bài vị to, trên đó có viết ba chữ Hán: Chủ thị miếu - tức là miếu chủ chợ. Phía trước trang thờ này còn có võng rèm bằng gỗ được chạm khắc hình rồng ẩn mây, lưỡng long tranh châu vừa lộng lẫy vừa tôn thêm sự uy nghiêm của gian thờ.

Với những gì còn lưu giữ được ngày nay, đền thờ ông bà chủ chợ đã được UBND tỉnh Đồng Tháp xếp hạng di tích vào ngày 20 tháng 4 năm 2001.

Tên tuổi ông bà Đỗ Công Tường đã gắn liền với địa danh Cao Lãnh, gắn với một giai thoại về nhân nghĩa ở đời. Vì vậy, nếu có dịp về Đồng Tháp, xin mời du khách đến tham quan đền thờ ông bà Đỗ Công Tường, một di tích lịch sử đã ngự trị mãi mãi trong lòng nhân dân Đồng Tháp nói riêng, nhân dân Nam Bộ nói chung.

Theo Trần Quang Diệu (The Saigon Times)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Tổ đình Sắc tứ Phước Sơn (còn gọi là chùa Phước Sơn) tọa lạc tại thôn Tân Phước, xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa được dựng trên núi Phú Mỹ Sơn, mặt hướng Nam, trước có cánh đồng lúa tên Đồng Tròn và con sông La Hai chảy qua.

Có hai hướng đến chùa: Một là theo con đường vào chùa Triều Tôn ở xã Xuân Thọ 2, huyện Sông Cầu (gần cầu Lò Vôi), đi tiếp khoảng 6 km. Hai là từ thị trấn Chí Thạnh, rẽ vào chùa Bảo Sơn ở xã An Định, huyện Tuy An, đi tiếp đến chùa.

Chùa do ngài Liễu Năng, hiệu Đức Chất khai sơn vào năm Gia Long nguyên niên (1802). Chùa Triều Tôn ở Sông Cầu và chùa Bảo Sơn ở Tuy An do hai vị sư đệ của ngài Liễu Năng là Liễu Diệu và Liễu Căn khai sơn vào năm Gia Long nhị niên (1803).

< Bản sao văn bia ở chùa phước Sơn.

Lúc đầu chỉ là ngôi chùa nhỏ, lợp tranh vách đất. Đến đời ngài Quảng Thiện trụ trì, đã xây dựng ngôi chùa khang trang vào năm 1836. Các vị trụ trì kế tiếp là Huệ Nhãn, Pháp Tạng, Thiền Phương, Phước Trí đã tiếp tục việc trùng tu tôn tạo ngôi chùa thành ngôi danh lam cổ tự trên đất miền Trung.

Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa tôn trí tượng đức Phật Thích Ca ngồi thiền định trên tòa sen, án hai bên thờ tượng Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Chuẩn Đề và Bồ tát Địa Tạng. Trước tượng Bổn sư, có bộ tượng Di Đà Tam Tôn (A Di Đà, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí) và hai tượng Hộ Pháp. Sau điện Phật là nhà tổ, thờ Tổ sư Đạt Ma và long vị chư tổ của chùa.

Dọc theo triền núi, phía trái có hai ngôi tháp, một của Tổ khai sơn Liễu Năng và ngài Thiền Phương. Phía tay phải trên đường vào chùa, là tháp của các ngài Huệ Nhãn, Quảng Thiện và Pháp Tạng. Chùa còn giữ nhiều bảo vật của Triều đình nhà Nguyễn ban thưởng 6 lần từ năm 1881 đến 1939. Năm Bảo Đại thứ 14 (1939), chùa được ban biểu ngạch Sắc tứ.

Đây là ngôi tổ đình của chi phái Chúc Thánh dòng Lâm Tế chánh tông tại Phú Yên, ngôi danh lam của miền Trung nước Việt.

Theo Vuonhoaphatgiao
Du lịch, GO!

Chùa Phước Sơn - Phú Yên

Tổ đình Sắc tứ Phước Sơn (còn gọi là chùa Phước Sơn) tọa lạc tại thôn Tân Phước, xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa được dựng trên núi Phú Mỹ Sơn, mặt hướng Nam, trước có cánh đồng lúa tên Đồng Tròn và con sông La Hai chảy qua.

Có hai hướng đến chùa: Một là theo con đường vào chùa Triều Tôn ở xã Xuân Thọ 2, huyện Sông Cầu (gần cầu Lò Vôi), đi tiếp khoảng 6 km. Hai là từ thị trấn Chí Thạnh, rẽ vào chùa Bảo Sơn ở xã An Định, huyện Tuy An, đi tiếp đến chùa.

Chùa do ngài Liễu Năng, hiệu Đức Chất khai sơn vào năm Gia Long nguyên niên (1802). Chùa Triều Tôn ở Sông Cầu và chùa Bảo Sơn ở Tuy An do hai vị sư đệ của ngài Liễu Năng là Liễu Diệu và Liễu Căn khai sơn vào năm Gia Long nhị niên (1803).

< Bản sao văn bia ở chùa phước Sơn.

Lúc đầu chỉ là ngôi chùa nhỏ, lợp tranh vách đất. Đến đời ngài Quảng Thiện trụ trì, đã xây dựng ngôi chùa khang trang vào năm 1836. Các vị trụ trì kế tiếp là Huệ Nhãn, Pháp Tạng, Thiền Phương, Phước Trí đã tiếp tục việc trùng tu tôn tạo ngôi chùa thành ngôi danh lam cổ tự trên đất miền Trung.

Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa tôn trí tượng đức Phật Thích Ca ngồi thiền định trên tòa sen, án hai bên thờ tượng Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Chuẩn Đề và Bồ tát Địa Tạng. Trước tượng Bổn sư, có bộ tượng Di Đà Tam Tôn (A Di Đà, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí) và hai tượng Hộ Pháp. Sau điện Phật là nhà tổ, thờ Tổ sư Đạt Ma và long vị chư tổ của chùa.

Dọc theo triền núi, phía trái có hai ngôi tháp, một của Tổ khai sơn Liễu Năng và ngài Thiền Phương. Phía tay phải trên đường vào chùa, là tháp của các ngài Huệ Nhãn, Quảng Thiện và Pháp Tạng. Chùa còn giữ nhiều bảo vật của Triều đình nhà Nguyễn ban thưởng 6 lần từ năm 1881 đến 1939. Năm Bảo Đại thứ 14 (1939), chùa được ban biểu ngạch Sắc tứ.

Đây là ngôi tổ đình của chi phái Chúc Thánh dòng Lâm Tế chánh tông tại Phú Yên, ngôi danh lam của miền Trung nước Việt.

Theo Vuonhoaphatgiao
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(GNO) - Sa Đéc là thị xã nhỏ nhưng giàu tiềm năng của tỉnh Đồng Tháp. Nơi đây không chỉ nổi tiếng bởi các làng nghề truyền thống, các cơ sở chế biến nông thủy sản xuất khẩu, trái ngọt cây lành... mà du khách đặt chân đến đây còn ngạc nhiên và sùng kính với 50 ngôi tự viện uy nghi tọa lạc trên các nẻo đường.

Người dân có lời truyền tụng: Sa Đéc là “đất Phật”... và Phước Hưng là một trong những chùa đẹp cổ kính trên vùng đất ấy. Phước Hưng Cổ Tự (còn gọi là Chùa Hương) là một cổ tự nằm trên đường Hùng Vương, trung tâm thị xã Sa Đéc (Đồng Tháp). Chùa được xây dựng vào năm 1838, vài trải qua một vài lần trùng tu sau đó.

Chùa có lối kiến trúc khá đặc biệt hơn các cổ tự ở miền Nam Việt Nam (kiểu giống ngôi đình làng hơn là ngôi chùa). Chùa có 08 mái và 02 cấp, được lợp ngói âm dương. Nóc và các bức phù điêu trên mái chùa được cẩn miểng gốm màu, tạo dáng hình long, lân, qui, phụng...

Năm tháng trôi qua, thời gian bạc màu trên mái ngói rêu phong, cổ kính. Phước Hưng cổ tự đã gần 2 thế kỷ dãi dầu sương nắng, 7 đời trụ trì nối tiếp nhau tu bồi đạo nghiệp. Chùa do Thiền sư Thích Minh Phước khai sơn năm Mậu Tuất 1838, thuở Sa Đéc còn rất hoang sơ. Năm Bính Ngọ 1846, chùa Minh Hương của cộng đồng người Hoa, cũng ở Sa Đéc, do một biến cố phải di dời rồi sáp nhập với Phước Hưng tự.

Trong số các pháp khí có giá trị của ngôi cổ tự này phải kể đến chiếc mõ hình song ngư được tạo từ năm Mậu Tý 1888, mỗi khi thời tiết nắng nhiều thì tiếng mõ có âm thanh chát, trời mát thì âm thanh mõ lại trầm ấm. Ở chánh điện còn có thêm cái mõ gỗ nặng khoảng 15kg, đường kính ngang 1,4m; bề dọc 70cm do cố HT.Thích Vĩnh Tràng, trụ trì đời thứ tư phát nguyện ra tận miền Bắc thỉnh về.

Tương truyền, khi đi cũng như lúc về, ngài đều đi bộ, đặc biệt là trên suốt lộ trình từ miền Bắc về lại Sa Đéc, Hòa thượng đã đội mõ trên đầu, mỗi bước chân đều niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà.

Chùa Phước Hưng được thiết kế theo hình chữ Sơn. Chùa có tất cả 8 mái, theo cấu trúc 2 cấp. Phía trên đều lợp ngói âm dương truyền thống như những ngôi chùa thuở xưa. Xung quanh có hình đắp nổi, cỏ cây hoa lá chim muông đủ loại, lại thêm tứ linh Long, Lân, Qui, Phụng.

Chánh điện chùa Hương thờ phượng theo lối văn hoá cổ Đôn Hoàng. Những tượng Phật, tượng Bồ tát, và các pháp khí trên chánh điện đa phần có tuổi thọ không dưới trăm năm. Đặc biệt, trên chánh điện còn có cái mõ bằng gỗ, chạm hình song ngư tinh xảo, nặng hơn 10 ký, được Tổ Vĩnh Tràng thỉnh về từ Hà Tây ngoài Bắc. Nghe nói Tổ Vĩnh Tràng phát nguyện du hoá tận vùng kinh bắc, vừa đi bộ vừa niệm Phật, thành tâm thỉnh về chùa này làm pháp khí phụng thờ.

Ngoài ra, chùa còn có tôn tượng đức Hộ pháp, đức Tiêu Diện bằng đồng, nặng trên 30 ký, có tuổi thọ bằng tuổi của Tổ Vĩnh Đạt. Chiếc trống Bát Nhã nguyên bộng cây tròn vừa lớn lại vừa xưa. Tiếng trống phát ra âm thanh rất hùng hồn, ai nghe cũng thích. Chuông Đại Hồng Chung của chùa âm thanh u nhã vô cùng, chỉ cần thỉnh một tiếng nhẹ là cả vùng nghe rõ như ban ngày. Sau này, không biết vì lý do gì, hồng chung bị nứt, tiếng chuông không còn như xưa nữa.

Trên chánh điện phía trước còn hệ thống cửa sắt thật dày, thật kiên cố, súng bắn chưa chắc bể. Giữa Chánh Điện, Tổ Đường là một khoảng trống sâu rộng, giống như cái trũng được tráng xi-măng sạch sẽ.

Khu Tổ đường thiết kế 3 dãy bàn để chư tăng thọ trai trong những tháng ngày An cư kiết hạ. Ngay trung tâm Tổ đường là bàn thờ liệt vị Tổ sư từ thời khai sơn đến đương đại. Những di ảnh, linh vị được thiết trí, tôn thờ trong chiếc khánh bằng gỗ mun, được khắc hoạ, chạm trổ vô số hoa văn vừa tinh xảo vừa uy nghiêm.

Khu vực Đông Lang bao gồm phòng cho vị trưởng ban nhà trù, rồi nhà trù, nhà kho và những phòng nhỏ để đón tiếp thập phương Phật tử, bá tánh xa gần đầy đủ thiện duyên tới lui công quả. Khu vực Tây Lang, nguyên thuỷ là những phòng Tăng, phòng lưu giữ pháp khí, pháp bảo.

Trong chùa còn lưu giữ nhiều bảng khắc gỗ các kinh điển Đại thừa như Kim Cang, Địa Tạng, phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, kinh Di Đà; các bộ luật Tì-ni nhật dụng yếu lược, Sa-di luật giải được tạo từ thời HT.Vạn Hiển, trụ trì đời thứ 3. Hiện nay, chùa Phước Hưng còn lưu giữ một bản in kinh Kim Cang gần một thế kỷ mà nét vẫn đẹp, sắc rõ, giấy khá trắng và bền.

Qua hai thời kỳ kháng chiến bảo vệ đất nước, hầu như hoạt động Phật giáo tỉnh nhà đều tập trung ở Phước Hưng. Ngay tại cơ sở tự viện, nề nếp tu học của chư Tăng đều được nhiều đời tôn đức trụ trì chú trọng. Ngoài các thời khóa công phu, tham thiền mỗi ngày, chư Tăng còn đến trường học văn hóa, tự học Hán văn. Hòa thượng trụ trì đời thứ 5, Thích Vĩnh Đạt còn cho các hộ nghèo lân cận vào vườn chùa hái rau, kiếm củi, tùy duyên giảng dạy giáo lý độ người.

Từ năm 1989 đến năm 1997, chùa là cơ sở trung cấp Phật học khóa I và II cho chư Tăng, mỗi khóa trên 100 vị. Từ năm 1982 đến năm 2010, chùa 9 lần mở giới đàn truyền trao giới pháp cho gần 3.000 giới tử trong và ngoài tỉnh. Năm 1993, được sự chấp thuận của TƯGH, Đồng Tháp đã đăng cai tổ chức Hội thi diễn giảng liên tỉnh Phật giáo miền Tây nam Bộ, ngôi cổ tự Phước Hưng lại trở thành trung tâm của sự kiện này.

Hiện nay, dù đã phục chế lại các phần hư hao xuống cấp, nhưng chùa vẫn được bảo tồn nét cổ, đảm bảo hài hòa với tổng thể kiến trúc nguyên thủy, lưu giữ những giá trị văn hóa, mỹ thuật, kiến trúc đặc thù của Phật giáo Nam Bộ.

Theo Giác Ngộ online và nhiều nguồn khác
Du lịch, GO!

Về Sa Đéc thăm Phước Hưng cổ tự

(GNO) - Sa Đéc là thị xã nhỏ nhưng giàu tiềm năng của tỉnh Đồng Tháp. Nơi đây không chỉ nổi tiếng bởi các làng nghề truyền thống, các cơ sở chế biến nông thủy sản xuất khẩu, trái ngọt cây lành... mà du khách đặt chân đến đây còn ngạc nhiên và sùng kính với 50 ngôi tự viện uy nghi tọa lạc trên các nẻo đường.

Người dân có lời truyền tụng: Sa Đéc là “đất Phật”... và Phước Hưng là một trong những chùa đẹp cổ kính trên vùng đất ấy. Phước Hưng Cổ Tự (còn gọi là Chùa Hương) là một cổ tự nằm trên đường Hùng Vương, trung tâm thị xã Sa Đéc (Đồng Tháp). Chùa được xây dựng vào năm 1838, vài trải qua một vài lần trùng tu sau đó.

Chùa có lối kiến trúc khá đặc biệt hơn các cổ tự ở miền Nam Việt Nam (kiểu giống ngôi đình làng hơn là ngôi chùa). Chùa có 08 mái và 02 cấp, được lợp ngói âm dương. Nóc và các bức phù điêu trên mái chùa được cẩn miểng gốm màu, tạo dáng hình long, lân, qui, phụng...

Năm tháng trôi qua, thời gian bạc màu trên mái ngói rêu phong, cổ kính. Phước Hưng cổ tự đã gần 2 thế kỷ dãi dầu sương nắng, 7 đời trụ trì nối tiếp nhau tu bồi đạo nghiệp. Chùa do Thiền sư Thích Minh Phước khai sơn năm Mậu Tuất 1838, thuở Sa Đéc còn rất hoang sơ. Năm Bính Ngọ 1846, chùa Minh Hương của cộng đồng người Hoa, cũng ở Sa Đéc, do một biến cố phải di dời rồi sáp nhập với Phước Hưng tự.

Trong số các pháp khí có giá trị của ngôi cổ tự này phải kể đến chiếc mõ hình song ngư được tạo từ năm Mậu Tý 1888, mỗi khi thời tiết nắng nhiều thì tiếng mõ có âm thanh chát, trời mát thì âm thanh mõ lại trầm ấm. Ở chánh điện còn có thêm cái mõ gỗ nặng khoảng 15kg, đường kính ngang 1,4m; bề dọc 70cm do cố HT.Thích Vĩnh Tràng, trụ trì đời thứ tư phát nguyện ra tận miền Bắc thỉnh về.

Tương truyền, khi đi cũng như lúc về, ngài đều đi bộ, đặc biệt là trên suốt lộ trình từ miền Bắc về lại Sa Đéc, Hòa thượng đã đội mõ trên đầu, mỗi bước chân đều niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà.

Chùa Phước Hưng được thiết kế theo hình chữ Sơn. Chùa có tất cả 8 mái, theo cấu trúc 2 cấp. Phía trên đều lợp ngói âm dương truyền thống như những ngôi chùa thuở xưa. Xung quanh có hình đắp nổi, cỏ cây hoa lá chim muông đủ loại, lại thêm tứ linh Long, Lân, Qui, Phụng.

Chánh điện chùa Hương thờ phượng theo lối văn hoá cổ Đôn Hoàng. Những tượng Phật, tượng Bồ tát, và các pháp khí trên chánh điện đa phần có tuổi thọ không dưới trăm năm. Đặc biệt, trên chánh điện còn có cái mõ bằng gỗ, chạm hình song ngư tinh xảo, nặng hơn 10 ký, được Tổ Vĩnh Tràng thỉnh về từ Hà Tây ngoài Bắc. Nghe nói Tổ Vĩnh Tràng phát nguyện du hoá tận vùng kinh bắc, vừa đi bộ vừa niệm Phật, thành tâm thỉnh về chùa này làm pháp khí phụng thờ.

Ngoài ra, chùa còn có tôn tượng đức Hộ pháp, đức Tiêu Diện bằng đồng, nặng trên 30 ký, có tuổi thọ bằng tuổi của Tổ Vĩnh Đạt. Chiếc trống Bát Nhã nguyên bộng cây tròn vừa lớn lại vừa xưa. Tiếng trống phát ra âm thanh rất hùng hồn, ai nghe cũng thích. Chuông Đại Hồng Chung của chùa âm thanh u nhã vô cùng, chỉ cần thỉnh một tiếng nhẹ là cả vùng nghe rõ như ban ngày. Sau này, không biết vì lý do gì, hồng chung bị nứt, tiếng chuông không còn như xưa nữa.

Trên chánh điện phía trước còn hệ thống cửa sắt thật dày, thật kiên cố, súng bắn chưa chắc bể. Giữa Chánh Điện, Tổ Đường là một khoảng trống sâu rộng, giống như cái trũng được tráng xi-măng sạch sẽ.

Khu Tổ đường thiết kế 3 dãy bàn để chư tăng thọ trai trong những tháng ngày An cư kiết hạ. Ngay trung tâm Tổ đường là bàn thờ liệt vị Tổ sư từ thời khai sơn đến đương đại. Những di ảnh, linh vị được thiết trí, tôn thờ trong chiếc khánh bằng gỗ mun, được khắc hoạ, chạm trổ vô số hoa văn vừa tinh xảo vừa uy nghiêm.

Khu vực Đông Lang bao gồm phòng cho vị trưởng ban nhà trù, rồi nhà trù, nhà kho và những phòng nhỏ để đón tiếp thập phương Phật tử, bá tánh xa gần đầy đủ thiện duyên tới lui công quả. Khu vực Tây Lang, nguyên thuỷ là những phòng Tăng, phòng lưu giữ pháp khí, pháp bảo.

Trong chùa còn lưu giữ nhiều bảng khắc gỗ các kinh điển Đại thừa như Kim Cang, Địa Tạng, phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, kinh Di Đà; các bộ luật Tì-ni nhật dụng yếu lược, Sa-di luật giải được tạo từ thời HT.Vạn Hiển, trụ trì đời thứ 3. Hiện nay, chùa Phước Hưng còn lưu giữ một bản in kinh Kim Cang gần một thế kỷ mà nét vẫn đẹp, sắc rõ, giấy khá trắng và bền.

Qua hai thời kỳ kháng chiến bảo vệ đất nước, hầu như hoạt động Phật giáo tỉnh nhà đều tập trung ở Phước Hưng. Ngay tại cơ sở tự viện, nề nếp tu học của chư Tăng đều được nhiều đời tôn đức trụ trì chú trọng. Ngoài các thời khóa công phu, tham thiền mỗi ngày, chư Tăng còn đến trường học văn hóa, tự học Hán văn. Hòa thượng trụ trì đời thứ 5, Thích Vĩnh Đạt còn cho các hộ nghèo lân cận vào vườn chùa hái rau, kiếm củi, tùy duyên giảng dạy giáo lý độ người.

Từ năm 1989 đến năm 1997, chùa là cơ sở trung cấp Phật học khóa I và II cho chư Tăng, mỗi khóa trên 100 vị. Từ năm 1982 đến năm 2010, chùa 9 lần mở giới đàn truyền trao giới pháp cho gần 3.000 giới tử trong và ngoài tỉnh. Năm 1993, được sự chấp thuận của TƯGH, Đồng Tháp đã đăng cai tổ chức Hội thi diễn giảng liên tỉnh Phật giáo miền Tây nam Bộ, ngôi cổ tự Phước Hưng lại trở thành trung tâm của sự kiện này.

Hiện nay, dù đã phục chế lại các phần hư hao xuống cấp, nhưng chùa vẫn được bảo tồn nét cổ, đảm bảo hài hòa với tổng thể kiến trúc nguyên thủy, lưu giữ những giá trị văn hóa, mỹ thuật, kiến trúc đặc thù của Phật giáo Nam Bộ.

Theo Giác Ngộ online và nhiều nguồn khác
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(PNO) - Suối Đổ nằm ở phía Tây dãy núi Hoàng Ngưu, thuộc địa phận huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Mùa xuân, phong cảnh nơi đây vốn đã đẹp lại càng đẹp hơn với suối reo, thác đổ và màu xanh bạt ngàn của cây lá.

< Đường lên chùa Suối Đổ.

Đường lên Suối Đổ là hơn trăm bậc xi măng khá cheo leo. Bên trái là rừng cây bạt ngàn, râm ran tiếng ve kêu. Bên phải, dòng suối róc rách trườn qua các khe đá, lúc ẩn lúc hiện giữa những tán cây cổ thụ rậm rạp. Tiếng suối róc rách hòa lẫn tiếng hót lảnh lót của chim rừng. Bản hòa tấu thanh bình khiến tâm hồn du khách nhẹ nhàng thanh thản.

< Một góc suối Đổ.

Gọi là suối Đổ vì suối bắt nguồn từ trên núi cao, tục gọi là hòn Chùa, băng qua những triền núi nhấp nhô, những phiến đá hoa cương đa hình dáng, nhiều màu sắc, đủ kích cỡ… chảy xuống dưới, tạo nên những dòng thác và những hồ nước thơ mộng.

Lên cao chừng 200 m, trước mắt bạn sẽ có hai con đường dẫn đến hai nơi: “Quan Âm Sơn tự” bên trái và “ Phổ Đà Sơn tự” bên phải. Khách thập phương đến suối Đổ không chỉ để ngắm cảnh, dầm mình trong suối mát, hít thở bầu không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót, ve kêu …mà còn để vãn cảnh chùa, cầu xin những điều tốt lành.

< Tam Quan Phổ Đà Sơn tự.

Chùa Quan Âm tọa lạc trên khoảng đất rộng chừng vài trăm mét vuông, bên cạnh dòng suối rì rào chảy qua khe đá, tạo thành những dòng thác nhỏ trắng xóa. Trước sân chùa là tượng Phật Quan Âm. Ngôi chánh điện nằm trên cao, sơn son thếp vàng, uy nghi lộng lẫy. Bên trái có miếu thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Bên cạnh là đền thờ “ Ngũ mẫu” (5 mẹ : Kim Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ).


< Cánh đồng Phước Trạch.

Men theo những triền đá bên suối, bạn hãy sang Phổ Đà Sơn tự. Đây là nơi thờ Phật Bổn sư Di Đà. Tuy nhỏ hơn chùa Quan Âm nhưng cảnh sắc cũng rất nên thơ với hồ sen trước mặt và núi đá bao quanh.

Phía sau chùa Phổ Đà có đường mòn quanh co dẫn lên giếng Tiên trên đỉnh núi. Những người dân bản địa cho biết, Giếng Tiên rất sâu, dường như không thấy đáy. Nước ở giếng Tiên từ trên núi đổ xuống, trong và mát, quanh năm không bao giờ cạn, theo các triền đá chảy xuống dưới, tạo thành những dòng suối nhỏ của suối Đổ.

Trên suối Đổ còn có một địa danh rất linh thiêng: Động MaHa. Đó là một túp lều đá thiên nhiên dựng từ hai vách đá. Người dân bản địa đặt bàn thờ, bốn mùa đủ hương hoa.

Nếu có dịp đến suối Đổ, bạn còn có cơ hội gặp gỡ, trò chuyện với các thầy lang đang hái thuốc và nghe họ kể chuyện trị bệnh cứu người từ các lọai cây rừng của suối Đổ.

Theo Giao Thủy (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Đầu xuân đi chùa Suối Đổ

Đường lên suối Đổ

(PNO) - Suối Đổ nằm ở phía Tây dãy núi Hoàng Ngưu, thuộc địa phận huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Mùa xuân, phong cảnh nơi đây vốn đã đẹp lại càng đẹp hơn với suối reo, thác đổ và màu xanh bạt ngàn của cây lá.

< Đường lên chùa Suối Đổ.

Đường lên Suối Đổ là hơn trăm bậc xi măng khá cheo leo. Bên trái là rừng cây bạt ngàn, râm ran tiếng ve kêu. Bên phải, dòng suối róc rách trườn qua các khe đá, lúc ẩn lúc hiện giữa những tán cây cổ thụ rậm rạp. Tiếng suối róc rách hòa lẫn tiếng hót lảnh lót của chim rừng. Bản hòa tấu thanh bình khiến tâm hồn du khách nhẹ nhàng thanh thản.

< Một góc suối Đổ.

Gọi là suối Đổ vì suối bắt nguồn từ trên núi cao, tục gọi là hòn Chùa, băng qua những triền núi nhấp nhô, những phiến đá hoa cương đa hình dáng, nhiều màu sắc, đủ kích cỡ… chảy xuống dưới, tạo nên những dòng thác và những hồ nước thơ mộng.

Lên cao chừng 200 m, trước mắt bạn sẽ có hai con đường dẫn đến hai nơi: “Quan Âm Sơn tự” bên trái và “ Phổ Đà Sơn tự” bên phải. Khách thập phương đến suối Đổ không chỉ để ngắm cảnh, dầm mình trong suối mát, hít thở bầu không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót, ve kêu …mà còn để vãn cảnh chùa, cầu xin những điều tốt lành.

< Tam Quan Phổ Đà Sơn tự.

Chùa Quan Âm tọa lạc trên khoảng đất rộng chừng vài trăm mét vuông, bên cạnh dòng suối rì rào chảy qua khe đá, tạo thành những dòng thác nhỏ trắng xóa. Trước sân chùa là tượng Phật Quan Âm. Ngôi chánh điện nằm trên cao, sơn son thếp vàng, uy nghi lộng lẫy. Bên trái có miếu thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Bên cạnh là đền thờ “ Ngũ mẫu” (5 mẹ : Kim Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ).


< Cánh đồng Phước Trạch.

Men theo những triền đá bên suối, bạn hãy sang Phổ Đà Sơn tự. Đây là nơi thờ Phật Bổn sư Di Đà. Tuy nhỏ hơn chùa Quan Âm nhưng cảnh sắc cũng rất nên thơ với hồ sen trước mặt và núi đá bao quanh.

Phía sau chùa Phổ Đà có đường mòn quanh co dẫn lên giếng Tiên trên đỉnh núi. Những người dân bản địa cho biết, Giếng Tiên rất sâu, dường như không thấy đáy. Nước ở giếng Tiên từ trên núi đổ xuống, trong và mát, quanh năm không bao giờ cạn, theo các triền đá chảy xuống dưới, tạo thành những dòng suối nhỏ của suối Đổ.

Trên suối Đổ còn có một địa danh rất linh thiêng: Động MaHa. Đó là một túp lều đá thiên nhiên dựng từ hai vách đá. Người dân bản địa đặt bàn thờ, bốn mùa đủ hương hoa.

Nếu có dịp đến suối Đổ, bạn còn có cơ hội gặp gỡ, trò chuyện với các thầy lang đang hái thuốc và nghe họ kể chuyện trị bệnh cứu người từ các lọai cây rừng của suối Đổ.

Theo Giao Thủy (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Đầu xuân đi chùa Suối Đổ
Đọc thêm..
(VnExpress) - Không cần một loại thuốc tẩm ướp xác mà di thể của hai vị thiền sư vẫn không bị phân hủy, hay bức tượng Đức Ông với một chân trần là những pho tượng độc đáo ở Hà Nội.

Bức tượng Phật ngự trên lưng Vua

Chùa Hòe Nhai (quận Ba Đình) tọa lạc trên khuôn viên rộng, không gian xanh mát bóng cau, cây bồ đề cổ thụ. Chùa gồm hai bái đường, mỗi tòa 5 gian, chính điện 3 gian và nhà tổ 7 gian tạo thành hình chữ công. Sân chùa có hai ngọn tháp cao ba tầng, bên cạnh dựng hai bia đá lớn.

Trong chùa, du khách vãn cảnh sẽ nhìn thấy một bức tượng "Vua sám hối". Theo trụ trì chùa, pho tượng này là kết quả từ một cuộc pháp nạn của các tăng ni Phật giáo Việt Nam năm 1678. Lúc đó, Phật giáo không còn được đứng ở vị trí quốc giáo nữa, thay vào đó là Nho giáo thịnh hành.

Vua Lê Hy Tông có một sắc lệnh đuổi hết các sư sãi lên rừng, nếu không tuân lệnh sẽ bị trừng trị. Lúc này, hòa thượng Chân Dun, vị sư Tổ thứ hai chùa Hòe Nhai đã viết bài biểu bỏ vào tráp đem đến triều đình dâng vua và tâu trong hộp có ngọc minh châu.

Khi vua mở hộp xem không thấy ngọc, chỉ có bài biểu nội dung nói về sự độ trì của đức Phật đã giúp các triều đại tại vị lâu bền. Sau đó, vua Lê hạ chiếu sám hối thay đổi thái độ với Phật giáo. Xuất phát từ việc này mà bức tượng một vị vua trong tư thế để Phật ngồi trên lưng đặt ở chùa Hòe Nhai.

Pho tượng như người thật

Gian Quan âm chùa Quán Sứ (quận Hoàn Kiếm) đang trưng bày pho tượng hoà thượng Thích Thanh Tứ, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, với kích cỡ như người thật. Tượng được đưa về chùa dịp lễ Tiểu tường - một năm ngày hoà thượng viên tịch. Nhiều người đi lễ chùa ngạc nhiên vì không biết đây là người thật hay tượng.

Tượng được làm bằng sáp nhưng nhìn trông như người thật với từng đường nét trên khuôn mặt như đôi lông mày, nét mũi, miệng, nếp nhăn hai bên khóe mép, nếp nhăn cuối má, những đường gân hay nếp nhăn trên cổ... đều trông như của người sống. Bàn tay trái bức tượng đang lần tràng hạt, nét gân nổi xanh, bàn chân được tạo ngón với những đường nét rất chân thật.

Tượng được làm tại Thái Lan trong một năm. Đây là thành quả của các tăng, ni, phật tử Thái Lan hiến tặng. Họ từng có tâm nguyện này từ năm 2008 nhân dịp Đại lễ Phật đản Liên hợp Quốc tại Hà Nội.

Tượng Đức Ông với một chân trần độc đáo

Chùa Bộc thuộc làng Khương Thượng (quận Đống Đa) là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở Hà Nội được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Ngôi chùa cổ kính, trầm mặc nằm bên con phố lúc nào cũng tấp nập. Trong tòa tam bảo của ngôi chùa ngoài thờ Phật, bên phía gian thờ bên phải còn có một ban thờ Đức Ông từ xa xưa đã mang nhiều bí mật.

Ở ban thờ này có tới 3 vị Đức Ông, trong đó, tượng Đức Ông to hơn, ngồi cao hơn một bậc, ở phía dưới có hai tượng ngồi. Pho tượng Đức Ông ngồi trên lại đội mũ xung thiên, một chân để trong hài một chân để ở ngoài dáng vẻ rất thoải mái. Ngài mặc áo ngoài có thêu rồng ẩn trong mây, lưng thắt đai trông rất oai nghiêm. Đây là điều hiếm thấy trong các pho tượng thờ Đức Ông ở các ngôi chùa khác. Cho đến ngày nay, cũng không ai biết được chùa được xây dựng từ thời nào.

Hai bức tượng táng chùa Đậu

Cách Hà Nội hơn 20 km, ngôi chùa Đậu nổi tiếng linh thiêng bởi hai pho tượng táng của Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường sau khi viên tịch, thân xác vẫn còn nguyên vẹn. Di hài của hai vị sư trong tư thế ngồi thiền, được bó sơn ta.

Nhiều nhà khoa học Việt Nam hiện nay vẫn chưa giải mã được bí ẩn về việc không cần đến một loại thuốc tẩm ướp xác mà di thể của hai vị thiền sư vẫn không bị phân hủy.

Ngoài những giá trị kiến trúc, chùa Đậu còn bảo lưu được nhiều di vật quý như: hai con chồn đá ở thềm Tam Quan có niên hiệu thời Trần, đôi rồng đá ở thềm Bậc Tiền Đường, đến nay đã có hơn 500 tuổi; các loại gạch đất nung có văn hoa thời Mạc, thời Lê…Với hai pho tượng táng quý hiếm và những di vật có giá trị, như vậy, chùa Đậu luôn là một bí ẩn và độc đáo đối với du khách khắp nơi.

Theo Anh Phương (VnExpress)
Du lịch, GO!

4 pho tượng độc đáo ở Hà Nội

(VnExpress) - Không cần một loại thuốc tẩm ướp xác mà di thể của hai vị thiền sư vẫn không bị phân hủy, hay bức tượng Đức Ông với một chân trần là những pho tượng độc đáo ở Hà Nội.

Bức tượng Phật ngự trên lưng Vua

Chùa Hòe Nhai (quận Ba Đình) tọa lạc trên khuôn viên rộng, không gian xanh mát bóng cau, cây bồ đề cổ thụ. Chùa gồm hai bái đường, mỗi tòa 5 gian, chính điện 3 gian và nhà tổ 7 gian tạo thành hình chữ công. Sân chùa có hai ngọn tháp cao ba tầng, bên cạnh dựng hai bia đá lớn.

Trong chùa, du khách vãn cảnh sẽ nhìn thấy một bức tượng "Vua sám hối". Theo trụ trì chùa, pho tượng này là kết quả từ một cuộc pháp nạn của các tăng ni Phật giáo Việt Nam năm 1678. Lúc đó, Phật giáo không còn được đứng ở vị trí quốc giáo nữa, thay vào đó là Nho giáo thịnh hành.

Vua Lê Hy Tông có một sắc lệnh đuổi hết các sư sãi lên rừng, nếu không tuân lệnh sẽ bị trừng trị. Lúc này, hòa thượng Chân Dun, vị sư Tổ thứ hai chùa Hòe Nhai đã viết bài biểu bỏ vào tráp đem đến triều đình dâng vua và tâu trong hộp có ngọc minh châu.

Khi vua mở hộp xem không thấy ngọc, chỉ có bài biểu nội dung nói về sự độ trì của đức Phật đã giúp các triều đại tại vị lâu bền. Sau đó, vua Lê hạ chiếu sám hối thay đổi thái độ với Phật giáo. Xuất phát từ việc này mà bức tượng một vị vua trong tư thế để Phật ngồi trên lưng đặt ở chùa Hòe Nhai.

Pho tượng như người thật

Gian Quan âm chùa Quán Sứ (quận Hoàn Kiếm) đang trưng bày pho tượng hoà thượng Thích Thanh Tứ, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, với kích cỡ như người thật. Tượng được đưa về chùa dịp lễ Tiểu tường - một năm ngày hoà thượng viên tịch. Nhiều người đi lễ chùa ngạc nhiên vì không biết đây là người thật hay tượng.

Tượng được làm bằng sáp nhưng nhìn trông như người thật với từng đường nét trên khuôn mặt như đôi lông mày, nét mũi, miệng, nếp nhăn hai bên khóe mép, nếp nhăn cuối má, những đường gân hay nếp nhăn trên cổ... đều trông như của người sống. Bàn tay trái bức tượng đang lần tràng hạt, nét gân nổi xanh, bàn chân được tạo ngón với những đường nét rất chân thật.

Tượng được làm tại Thái Lan trong một năm. Đây là thành quả của các tăng, ni, phật tử Thái Lan hiến tặng. Họ từng có tâm nguyện này từ năm 2008 nhân dịp Đại lễ Phật đản Liên hợp Quốc tại Hà Nội.

Tượng Đức Ông với một chân trần độc đáo

Chùa Bộc thuộc làng Khương Thượng (quận Đống Đa) là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở Hà Nội được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Ngôi chùa cổ kính, trầm mặc nằm bên con phố lúc nào cũng tấp nập. Trong tòa tam bảo của ngôi chùa ngoài thờ Phật, bên phía gian thờ bên phải còn có một ban thờ Đức Ông từ xa xưa đã mang nhiều bí mật.

Ở ban thờ này có tới 3 vị Đức Ông, trong đó, tượng Đức Ông to hơn, ngồi cao hơn một bậc, ở phía dưới có hai tượng ngồi. Pho tượng Đức Ông ngồi trên lại đội mũ xung thiên, một chân để trong hài một chân để ở ngoài dáng vẻ rất thoải mái. Ngài mặc áo ngoài có thêu rồng ẩn trong mây, lưng thắt đai trông rất oai nghiêm. Đây là điều hiếm thấy trong các pho tượng thờ Đức Ông ở các ngôi chùa khác. Cho đến ngày nay, cũng không ai biết được chùa được xây dựng từ thời nào.

Hai bức tượng táng chùa Đậu

Cách Hà Nội hơn 20 km, ngôi chùa Đậu nổi tiếng linh thiêng bởi hai pho tượng táng của Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường sau khi viên tịch, thân xác vẫn còn nguyên vẹn. Di hài của hai vị sư trong tư thế ngồi thiền, được bó sơn ta.

Nhiều nhà khoa học Việt Nam hiện nay vẫn chưa giải mã được bí ẩn về việc không cần đến một loại thuốc tẩm ướp xác mà di thể của hai vị thiền sư vẫn không bị phân hủy.

Ngoài những giá trị kiến trúc, chùa Đậu còn bảo lưu được nhiều di vật quý như: hai con chồn đá ở thềm Tam Quan có niên hiệu thời Trần, đôi rồng đá ở thềm Bậc Tiền Đường, đến nay đã có hơn 500 tuổi; các loại gạch đất nung có văn hoa thời Mạc, thời Lê…Với hai pho tượng táng quý hiếm và những di vật có giá trị, như vậy, chùa Đậu luôn là một bí ẩn và độc đáo đối với du khách khắp nơi.

Theo Anh Phương (VnExpress)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(Kienthuc) - Chùa Cầu không chỉ là linh hồn của người dân phố cổ Hội An mà trên hết là địa chỉ tâm linh với những câu chuyện kỳ bí suốt bao đời nay.

Chùa Cầu, cây cầu trấn yểm thuỷ quái!

Trong sách “Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán”, một nhà sư Trung Quốc có nhắc đến lịch sử xây Chùa Cầu. Theo đó, năm 1719, nhân chuyến tuần du phương Nam, Chúa Nguyễn Phúc Chu khi từ phương Bắc đến Hội An đã thấy phía Tây phố có cầu, thuyền buôn tụ họp đông đúc bên phố chợ sông Hoài nên mới bèn đặt tên cho là “Lai Viễn kiều” (tức khách phương xa đến). Cùng với đó, Chúa đã cho mạ khắc biển vàng thành bức hoành phi nhằm ghi dấu nơi ngài đã đi qua. Cho đến nay, bức hoành phi chúa ban vẫn còn treo bên trong Chùa Cầu.

Tuy nhiên, trong một thư tịch cổ khác của nước nhà lại chép, cây cầu cổ này được tìm thấy vào năm 1617 với tên gọi là cầu Nhật Bản. Trong nhiều tài liệu ghi chép của các học giả nước ngoài đều xác định, Chùa Cầu được xây dựng vào năm 1593 cũng với tên gọi là Cầu Nhật Bản để thông thương buôn bán của người Hoa kiều, Nhật kiều. Như vậy, theo suy đoán, Chùa Cầu phải xây dựng ở cảng thị Hội An vào thời gian trước đó và có chậm nhất phải năm 1617 như ghi nhận trong thư tịch cổ của nước ta.

Niên đại xây dựng cây cầu vốn đã mơ hồ thì chuyện ai là người đứng ra đề xướng xây dựng đến nay vẫn còn bỏ ngỏ. Về vấn đề này, sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn dưới thời vua Tự Đức (1847 - 1883) chép rằng: “Cầu ở xã Cẩm Phô về phía tây phố Hội An, huyện Diên Phước, nước khe chảy về phía Nam đổ vào sông Cái, cầu bắc ở trên. Tương truyền cầu này do người khách buôn Nhật Bản bắc, dưới cầu xây đá, trên lát ván, gác mái gồm bảy gian lợp ngói”. Còn nhà nghiên cứu người Pháp Albert Sallet đã cho biết thêm rằng: “Các truyền thuyết còn kể lại rằng một người Nhật Bản tên là Thanh đã xây dựng cây cầu này trên những cột bằng đá với bộ sườn siêu cấu trúc và một mái bằng ngói”. Rồi cũng có sách viết, từ cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII, người Minh Hương (Trung Hoa) ở Hội An đã khởi xướng xây cầu bắc qua nhằm tạo điều kiện để người dân hai con phố Faifo (Nhật Bản) và Ba Tàu (Trung Hoa) thông thương buôn bán.

Sách “Quảng Nam Minh Hương Tam Bảo Vụ” có đề cập sơ về lược sử người Minh Hương ở Hội An. Sách chép lại rằng, vào năm 1644, tình hình Trung Hoa chiến tranh loạn lạc. Nhiều người nhà Minh vì sợ nhà Thanh truy sát nên mới vượt một chặng đường dài đến đất Hội An để xin Chúa Nguyễn Phúc Lan tự nguyện gia nhập quốc tịch Việt Nam và thành lập nên làng Minh Hương tại cảng thị Hội An. Nhưng so với những người Nhật Bản thì người Minh Hương đến muộn hơn cả một thế kỷ nên không thể là chủ nhân của Nhật Kiều được.

Năm 1633, tình hình Nhật Bản có biến động, Nhật hoàng đã ban bố lệnh đóng cửa không quan hệ giao thương với nước ngoài, đồng thời yêu cầu những người Nhật kiều đang sống và buôn bán ở nước ngoài phải hồi hương. Từ đó, phố Nhật Bản bắt đầu rơi vào thời kỳ suy tàn và cầu Nhật Bản được người Việt ở Hội An cai quản. Sau đó vài đó, chúa Nguyễn đã giao Chùa Cầu cho người Minh Hương quản lý và có nhiệm vụ chăm lo sửa chữa cầu.

Đến năm 1653, ngài Trung Lương Hầu Khổng Thiên Như, là một trong mười vị tiền hiền đầu tiên có công khai phá, thành lập làng Minh Hương ở Hội An đã đề xướng lên chúa Nguyễn đề nghị tu sửa cầu, và cho xây dựng thêm ngôi chùa nhỏ nằm sát cầu ở phía Tây để thờ Bắc Đế Chân Võ Tổ Sư (hay Huyền Thiên Đại Đế) cùng Trừng Hán Cung thờ Quan Công và Minh Hương Phật tự thờ Phật Quan Âm. Sau khi ra đời phức hợp kiến trúc cầu Nhật Bản là chùa Bắc Đế. Ngoài chức năng đi lại, chùa còn là nơi thờ tự tâm linh của những Hoa Kiều, Nhật Kiều và cả người Việt. Từ đó danh xưng cầu Nhật Bản dần bị quên lãng và được thay vào đó bằng tên gọi quen thuộc Chùa Cầu. Đó cũng chính là nguyên nhân mà chùa có tên gọi là Chùa Cầu.

Bên cạnh những tranh luận về niên đại, chủ nhân Chùa Cầu thì trong giới nghiên cứu và dân gian vẫn lưu truyền nhau những truyền thuyết rùng rợn xung quanh ngôi Chùa Cầu linh thiêng này. Ai cũng biết việc xây dựng Chùa Cầu duy chỉ để phục vụ cho nhu cầu đi lại nhưng đằng sau đó còn nhiều lý giải bí ẩn. Sách “Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước”, nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng có đề cập vài chi tiết ngắn gọn về vị thế trấn yểm của Chùa Cầu. Theo tương truyền, những người Nhật đầu tiên qua đây sinh sống trên con phố Faifo gần Chùa Cầu thường xuyên nhìn thấy trên mặt sông Hoài hay xuất hiện sống lưng con cù. Họ cho rằng đó là một quái vật giống như con rồng, có hình dáng đầu ở Ấn Độ mà đuôi ở tận vùng đất Phù Tang của xứ sở Nhật Bản.

Tục xa xưa người Nhật Bản nhắc đến đây là một con thuỷ quái mà khi nó trở mình hay quẫy đuôi thì mặt đất nước Nhật bị động đất dữ dội, thậm chí có cả núi lửa phun trào, gây đại hoạ. Vì là đất nước thường xuyên xảy ra động đất, núi lửa, sóng thần, người Nhật mới đưa ra những thần tích về nguồn gốc của thiên tai, họ cho rằng, ở phía đông lục địa châu Á có con Thuỷ quái này với kích thước rất dài. Đầu phương bắc Châu Á (giáp Châu Bắc Cực), mình ở bên Nhật Bản, đuôi kéo dài xuống tận Việt Nam. Mỗi lần Thuỷ quái trở mình, cả lục địa châu Á rung chuyển. Với kinh nghiệm của mình, người Nhật khi qua định cư tại Hội An đã cố tìm “thầy phù thuỷ” giỏi về phong thủy để xem thế đất, cắm điểm dựng đền thờ Huyền Thiên đại đế và các vị thần Trấn Vũ Bát đế.

Cũng giống như những lời đồn “ma ám” tại cây cầu này của người Nhật, gia phả của người Minh Hương đến ngụ cư lập làng từ thuở ban sơ cũng chép lại rằng, dưới chân cây cầu này khi xưa mang trong mình những huyền thoại về thần tích hang ổ loài thủy quái tên Cù dữ tợn. Họ cho rằng, loài thủy quái kia thường xuyên ẩn mình dưới đáy bùn nước, khi gặp điều kiện sóng to, gió lớn, nước dâng cao mới tỉnh giấc trở mình quẫy đuôi làm nước sông dâng ngập cả phố cổ gây nhiều thiệt hại cho dân làng. Để yểm trừ, người dân lập hai khu phố đã xây miếu thờ, đắp tượng thần rồi làm rễ rước Huyền Thiên đại đế, Quan Văn Trấn Vũ, các vị thần linh về đây thờ tự nhằm ngăn chặn tai họa mà thuỷ quái gây ra.

Và điều ngẫu nhiên, khi những người Nhật, người Hoa đầu tiên đến sinh sống và buôn bán làm ăn trên vùng đất quanh năm lũ lụt này hiểu rõ điều đó. Họ đã cho dựng lên cầu này, coi như yểm thanh kiếm xuống huyệt lưng con cù, làm nó không cựa quậy, vùng vẫy, quẫy đuôi khi nước lớn, mong trừ tai họa “ập” đến người dân phố Hội.

Cũng có một giai thoại khác được ghi lại, trước khi những thương gia Nhật Bản, Trung Hoa đến cảng thị Hội An buôn bán, thông thương thì chưa có danh xưng Hội An như bây giờ. Khi đó, vùng đất này là địa bàn phân bố của người Chiêm Thành, cảng thị nổi tiếng bây giờ gọi là cảng Đại Chiêm. Và cũng như nhiều dân tộc khác ở vùng Đông Nam Châu Á, người Chiêm Thành có tục thờ sinh thực khí mà cụ thể là “Lingar – Yoni”. Do đó, khi xây dựng Chùa Cầu những chủ nhân vùng đất này dùng để thờ Linh Phù Thủy Khấu. “Linh Phù” có thể bắt nguồn từ chữ linga (sinh thực khí nam giới), còn “Thủy Khấu” dùng chỉ bọn cướp biển. Linh Phù Thủy Khấu là nhằm ám chỉ thủy thần phù hộ người đi biển tránh khỏi những tai ương khi đi biển, thoát khỏi những thuỷ quái. Cách lý giải này cũng có nhiều cơ sở vì người Chiêm Thành từng được biết đến với nghề đi biển giỏi và cũng có gốc gác từ người Đông Nam Á hải đảo trôi dạt sang.

Sự thật có thể thấy, cứ mỗi năm đến mùa mưa, nước sông Hoài dâng cao đã nhấn chìm chùa Cầu. Nhiều người tin rằng, thuỷ quái bị người dân xây một cái cầu bắc qua “yểm bùa” nên rất giận dữ, muốn tìm cơ hội báo thù. Năm nào cũng vậy, Hội An cũng đều chịu chung cảnh lụt lội bì bõm… đe dọa. Có thể thấy, những trận lụt lịch sử mà theo người dân, “thuỷ quái” giận dữ những năm trước đây đã cuốn phăng bức tượng gỗ Huyền Thiên đại đế thờ trong chùa và một tượng khỉ đá. Mãi đến hơn 20 năm sau mới tìm thấy. Khi tìm thấy thì tượng khỉ đá đã mất dạng, hư hỏng hoàn toàn, phải đúc mới lại. Người dân lại truyền tai nhau nghe sở dĩ bức tượng gỗ và tượng khỉ đá mất tích sau tìm lại được nhưng đã bị biến dạng cũng với trong thời gian qua liên tiếp Hội An bị nhấn chìm trong lũ lụt là do bùa ngải “trấn yểm” qua thời gian đã mất linh nghiệm.

Tượng “Thần Hầu” và tượng “Linh Cẩu” bảo hộ dân làng

Chùa Cầu được làm theo kiểu thượng chùa - hạ cầu, có kích thích 3m x 18m. Mái Chùa lợp ngói âm dương, có trụ xây bằng đá, mặt cầu lát ván, hai đầu cầu nối với 7 gian giữa theo hình chữ I. Phía tây cầu đặt 2 tượng khỉ đá, phía đông đặt 2 tượng chó đá, đó là hai con linh vật “độc tôn” chỉ có ở phố cổ Hội An. Đó là lối kết cấu kiến trúc và trang trí nội thất đã chứa đựng dấu ấn của nền văn hóa Phù Tang (Nhật Bản) như: mái ngói mềm mại, uyển chuyển với độ dốc thấp, những cột vuông, nền cầu lát vát hình vòng cung, nhưng “Thần Khỉ” và “Thần Chó” (những con vật người Nhật luôn quý trọng) thờ ở hai đầu cầu.

Theo nhiều tài liệu khảo cổ học cho hay, tục thờ chó là tín ngưỡng chung ở nhiều dân tộc trên thế giới, nhưng có lẽ phổ biến nhất là ở các quốc gia Đông Nam Châu Á, cụ thể trong những thần thoại vùng Đông Nam Á lục địa. Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo khi gia nhập vào các quốc gia Đông Nam Á với tên gọi là Hindu giáo thì hai con vật chó và khỉ được đề cập rất nhiều trong Kinh thánh, trong điêu khắc, kiến trúc. Và hiện nay, trên nhiều bệ thờ người Chiêm Thành còn sót lại ở miền Trung Việt Nam đều có mô phỏng hình dáng con khỉ, con chó nhảy múa.

Theo đó, tục thờ chó của cư dân Việt được thể hiện dưới hai dạng thức gọi là linh cẩu. Một là chôn tượng chó đá trước cổng nhà như một linh vật để canh cổng với ý nghĩ như vị thần bảo hộ trừ tà ma, cầu phúc may. Hai là đặt chó đá trên những bệ thờ như một thần linh để thờ phụng như con kỳ lân. Cùng với đó, trong những chùa chiền vẫn thường thấy con khỉ được chưng tụng. Người dân gọi đây là con “Linh Hầu” hay “Thần Hầu” nhằm trấn giữ xứ đất chống lại những điều xấu xâm hại. Từ đó, khi ngẫm về con “Linh Cẩu” và con “Linh Hầu” được lập miếu thờ “có đôi có cặp” tại Chùa Cầu với ý niệm cầu mọi điều trong cuộc sống sẽ suôn sẻ, may mắn.

Lý giải về tượng thờ chó và khỉ tại Chùa Cầu, nhiều người cho rằng việc cân xứng 2 bên đầu cầu hai con linh vật trên là để ngụ ý về thời gian xây dựng công trình kéo dài 3 năm, bắt đầu động thổ từ năm Thân (con khỉ) và hoàn thành năm Tuất (con chó). Hơn nữa, có người cho rằng việc xây dựng hai bên đầu cầu những con chó và khỉ là một cách chỉ phương hướng trên địa bàn: Thân chỉ hướng “tây nam”; còn Tuất chỉ hướng “tây bắc”.

Trong Tô – tem giáo của người Nhật, họ sùng bái, thờ tự trong nhiều công trình tín ngưỡng từ cổ xưa về hai con linh vật này. Khi đến thăm Chùa Cầu sẽ dễ dàng đọc được thấy những câu chữ đối khá hay về hai con linh vật “trấn yểm” hai đầu Chùa Cầu. Riêng con Linh Cẩu được khắc những dòng chữ Hán: “Thiên cẩu song tinh an cấn thổ, Tử vi lưỡng tỉnh định khôn thân”. Tạm dịch là: Hai sao thiên cẩu trấn an đất cấn Hai tướng tử vi định giữ cung khôn. Cặp Linh Cẩu này ngồi trên một bệ thờ quay mặt nhìn nhau.

Quan sát kỹ có thể dễ phát hiện là một cặp “thanh mai trúc mã” tức một con đực, một con cái cao to bằng chó thật, ngồi khoan thai canh gác, chân trước đứng, hai chân sau ngồi trên bệ như chó sắp nhổm lên, xông ra đương đầu với cái ác để bảo vệ sự an lành của người dân phố Hội. Vì vậy, không riêng gì người dân phố cổ mà mỗi khách thập phương khi “hành hương” về Chùa Cầu đều cố nán lại trước mặt hai linh vật này để thắp hương thành tâm cúng vái cầu bình an gia hộ. Nhiều người có điều kiện còn sắp mâm lễ vật, hoa quả, hương đèn dâng lên hai ngài “Linh Cẩu” và “Linh Hầu”, nhất là vào những ngày Rằm, Lễ Tết.

Chất liệu tạc nên những bức tượng trên mới thoạt nhìn cứ ngỡ rằng được làm bằng đá bởi lớp sơn bên ngoài màu xám nhưng thực chất đó là bằng gỗ, mạ màu cho giống tượng chó đá, khỉ đá. Đó chính là sự kỳ bí mà cho đến nay mặc dù đã trải qua ngót 500 năm nhưng những pho tượng gỗ này vẫn ngồi uy nghi, khôn mặt đầy thấn bí và trầm mặc, trường tồn trước sự nghiệt ngã của thời gian. Vẫn biết là vậy, nhưng những câu chuyện huyền bí xung quanh Chùa Cầu và hai tượng “Thần Hầu”, “Linh Cẩu” toạ thiền vẫn tồn tại.

Theo Hà Kiều (báo Kiến Thức)
Du lịch, GO!

Bí ẩn Chùa Cầu Hội An

(Kienthuc) - Chùa Cầu không chỉ là linh hồn của người dân phố cổ Hội An mà trên hết là địa chỉ tâm linh với những câu chuyện kỳ bí suốt bao đời nay.

Chùa Cầu, cây cầu trấn yểm thuỷ quái!

Trong sách “Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán”, một nhà sư Trung Quốc có nhắc đến lịch sử xây Chùa Cầu. Theo đó, năm 1719, nhân chuyến tuần du phương Nam, Chúa Nguyễn Phúc Chu khi từ phương Bắc đến Hội An đã thấy phía Tây phố có cầu, thuyền buôn tụ họp đông đúc bên phố chợ sông Hoài nên mới bèn đặt tên cho là “Lai Viễn kiều” (tức khách phương xa đến). Cùng với đó, Chúa đã cho mạ khắc biển vàng thành bức hoành phi nhằm ghi dấu nơi ngài đã đi qua. Cho đến nay, bức hoành phi chúa ban vẫn còn treo bên trong Chùa Cầu.

Tuy nhiên, trong một thư tịch cổ khác của nước nhà lại chép, cây cầu cổ này được tìm thấy vào năm 1617 với tên gọi là cầu Nhật Bản. Trong nhiều tài liệu ghi chép của các học giả nước ngoài đều xác định, Chùa Cầu được xây dựng vào năm 1593 cũng với tên gọi là Cầu Nhật Bản để thông thương buôn bán của người Hoa kiều, Nhật kiều. Như vậy, theo suy đoán, Chùa Cầu phải xây dựng ở cảng thị Hội An vào thời gian trước đó và có chậm nhất phải năm 1617 như ghi nhận trong thư tịch cổ của nước ta.

Niên đại xây dựng cây cầu vốn đã mơ hồ thì chuyện ai là người đứng ra đề xướng xây dựng đến nay vẫn còn bỏ ngỏ. Về vấn đề này, sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn dưới thời vua Tự Đức (1847 - 1883) chép rằng: “Cầu ở xã Cẩm Phô về phía tây phố Hội An, huyện Diên Phước, nước khe chảy về phía Nam đổ vào sông Cái, cầu bắc ở trên. Tương truyền cầu này do người khách buôn Nhật Bản bắc, dưới cầu xây đá, trên lát ván, gác mái gồm bảy gian lợp ngói”. Còn nhà nghiên cứu người Pháp Albert Sallet đã cho biết thêm rằng: “Các truyền thuyết còn kể lại rằng một người Nhật Bản tên là Thanh đã xây dựng cây cầu này trên những cột bằng đá với bộ sườn siêu cấu trúc và một mái bằng ngói”. Rồi cũng có sách viết, từ cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII, người Minh Hương (Trung Hoa) ở Hội An đã khởi xướng xây cầu bắc qua nhằm tạo điều kiện để người dân hai con phố Faifo (Nhật Bản) và Ba Tàu (Trung Hoa) thông thương buôn bán.

Sách “Quảng Nam Minh Hương Tam Bảo Vụ” có đề cập sơ về lược sử người Minh Hương ở Hội An. Sách chép lại rằng, vào năm 1644, tình hình Trung Hoa chiến tranh loạn lạc. Nhiều người nhà Minh vì sợ nhà Thanh truy sát nên mới vượt một chặng đường dài đến đất Hội An để xin Chúa Nguyễn Phúc Lan tự nguyện gia nhập quốc tịch Việt Nam và thành lập nên làng Minh Hương tại cảng thị Hội An. Nhưng so với những người Nhật Bản thì người Minh Hương đến muộn hơn cả một thế kỷ nên không thể là chủ nhân của Nhật Kiều được.

Năm 1633, tình hình Nhật Bản có biến động, Nhật hoàng đã ban bố lệnh đóng cửa không quan hệ giao thương với nước ngoài, đồng thời yêu cầu những người Nhật kiều đang sống và buôn bán ở nước ngoài phải hồi hương. Từ đó, phố Nhật Bản bắt đầu rơi vào thời kỳ suy tàn và cầu Nhật Bản được người Việt ở Hội An cai quản. Sau đó vài đó, chúa Nguyễn đã giao Chùa Cầu cho người Minh Hương quản lý và có nhiệm vụ chăm lo sửa chữa cầu.

Đến năm 1653, ngài Trung Lương Hầu Khổng Thiên Như, là một trong mười vị tiền hiền đầu tiên có công khai phá, thành lập làng Minh Hương ở Hội An đã đề xướng lên chúa Nguyễn đề nghị tu sửa cầu, và cho xây dựng thêm ngôi chùa nhỏ nằm sát cầu ở phía Tây để thờ Bắc Đế Chân Võ Tổ Sư (hay Huyền Thiên Đại Đế) cùng Trừng Hán Cung thờ Quan Công và Minh Hương Phật tự thờ Phật Quan Âm. Sau khi ra đời phức hợp kiến trúc cầu Nhật Bản là chùa Bắc Đế. Ngoài chức năng đi lại, chùa còn là nơi thờ tự tâm linh của những Hoa Kiều, Nhật Kiều và cả người Việt. Từ đó danh xưng cầu Nhật Bản dần bị quên lãng và được thay vào đó bằng tên gọi quen thuộc Chùa Cầu. Đó cũng chính là nguyên nhân mà chùa có tên gọi là Chùa Cầu.

Bên cạnh những tranh luận về niên đại, chủ nhân Chùa Cầu thì trong giới nghiên cứu và dân gian vẫn lưu truyền nhau những truyền thuyết rùng rợn xung quanh ngôi Chùa Cầu linh thiêng này. Ai cũng biết việc xây dựng Chùa Cầu duy chỉ để phục vụ cho nhu cầu đi lại nhưng đằng sau đó còn nhiều lý giải bí ẩn. Sách “Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước”, nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng có đề cập vài chi tiết ngắn gọn về vị thế trấn yểm của Chùa Cầu. Theo tương truyền, những người Nhật đầu tiên qua đây sinh sống trên con phố Faifo gần Chùa Cầu thường xuyên nhìn thấy trên mặt sông Hoài hay xuất hiện sống lưng con cù. Họ cho rằng đó là một quái vật giống như con rồng, có hình dáng đầu ở Ấn Độ mà đuôi ở tận vùng đất Phù Tang của xứ sở Nhật Bản.

Tục xa xưa người Nhật Bản nhắc đến đây là một con thuỷ quái mà khi nó trở mình hay quẫy đuôi thì mặt đất nước Nhật bị động đất dữ dội, thậm chí có cả núi lửa phun trào, gây đại hoạ. Vì là đất nước thường xuyên xảy ra động đất, núi lửa, sóng thần, người Nhật mới đưa ra những thần tích về nguồn gốc của thiên tai, họ cho rằng, ở phía đông lục địa châu Á có con Thuỷ quái này với kích thước rất dài. Đầu phương bắc Châu Á (giáp Châu Bắc Cực), mình ở bên Nhật Bản, đuôi kéo dài xuống tận Việt Nam. Mỗi lần Thuỷ quái trở mình, cả lục địa châu Á rung chuyển. Với kinh nghiệm của mình, người Nhật khi qua định cư tại Hội An đã cố tìm “thầy phù thuỷ” giỏi về phong thủy để xem thế đất, cắm điểm dựng đền thờ Huyền Thiên đại đế và các vị thần Trấn Vũ Bát đế.

Cũng giống như những lời đồn “ma ám” tại cây cầu này của người Nhật, gia phả của người Minh Hương đến ngụ cư lập làng từ thuở ban sơ cũng chép lại rằng, dưới chân cây cầu này khi xưa mang trong mình những huyền thoại về thần tích hang ổ loài thủy quái tên Cù dữ tợn. Họ cho rằng, loài thủy quái kia thường xuyên ẩn mình dưới đáy bùn nước, khi gặp điều kiện sóng to, gió lớn, nước dâng cao mới tỉnh giấc trở mình quẫy đuôi làm nước sông dâng ngập cả phố cổ gây nhiều thiệt hại cho dân làng. Để yểm trừ, người dân lập hai khu phố đã xây miếu thờ, đắp tượng thần rồi làm rễ rước Huyền Thiên đại đế, Quan Văn Trấn Vũ, các vị thần linh về đây thờ tự nhằm ngăn chặn tai họa mà thuỷ quái gây ra.

Và điều ngẫu nhiên, khi những người Nhật, người Hoa đầu tiên đến sinh sống và buôn bán làm ăn trên vùng đất quanh năm lũ lụt này hiểu rõ điều đó. Họ đã cho dựng lên cầu này, coi như yểm thanh kiếm xuống huyệt lưng con cù, làm nó không cựa quậy, vùng vẫy, quẫy đuôi khi nước lớn, mong trừ tai họa “ập” đến người dân phố Hội.

Cũng có một giai thoại khác được ghi lại, trước khi những thương gia Nhật Bản, Trung Hoa đến cảng thị Hội An buôn bán, thông thương thì chưa có danh xưng Hội An như bây giờ. Khi đó, vùng đất này là địa bàn phân bố của người Chiêm Thành, cảng thị nổi tiếng bây giờ gọi là cảng Đại Chiêm. Và cũng như nhiều dân tộc khác ở vùng Đông Nam Châu Á, người Chiêm Thành có tục thờ sinh thực khí mà cụ thể là “Lingar – Yoni”. Do đó, khi xây dựng Chùa Cầu những chủ nhân vùng đất này dùng để thờ Linh Phù Thủy Khấu. “Linh Phù” có thể bắt nguồn từ chữ linga (sinh thực khí nam giới), còn “Thủy Khấu” dùng chỉ bọn cướp biển. Linh Phù Thủy Khấu là nhằm ám chỉ thủy thần phù hộ người đi biển tránh khỏi những tai ương khi đi biển, thoát khỏi những thuỷ quái. Cách lý giải này cũng có nhiều cơ sở vì người Chiêm Thành từng được biết đến với nghề đi biển giỏi và cũng có gốc gác từ người Đông Nam Á hải đảo trôi dạt sang.

Sự thật có thể thấy, cứ mỗi năm đến mùa mưa, nước sông Hoài dâng cao đã nhấn chìm chùa Cầu. Nhiều người tin rằng, thuỷ quái bị người dân xây một cái cầu bắc qua “yểm bùa” nên rất giận dữ, muốn tìm cơ hội báo thù. Năm nào cũng vậy, Hội An cũng đều chịu chung cảnh lụt lội bì bõm… đe dọa. Có thể thấy, những trận lụt lịch sử mà theo người dân, “thuỷ quái” giận dữ những năm trước đây đã cuốn phăng bức tượng gỗ Huyền Thiên đại đế thờ trong chùa và một tượng khỉ đá. Mãi đến hơn 20 năm sau mới tìm thấy. Khi tìm thấy thì tượng khỉ đá đã mất dạng, hư hỏng hoàn toàn, phải đúc mới lại. Người dân lại truyền tai nhau nghe sở dĩ bức tượng gỗ và tượng khỉ đá mất tích sau tìm lại được nhưng đã bị biến dạng cũng với trong thời gian qua liên tiếp Hội An bị nhấn chìm trong lũ lụt là do bùa ngải “trấn yểm” qua thời gian đã mất linh nghiệm.

Tượng “Thần Hầu” và tượng “Linh Cẩu” bảo hộ dân làng

Chùa Cầu được làm theo kiểu thượng chùa - hạ cầu, có kích thích 3m x 18m. Mái Chùa lợp ngói âm dương, có trụ xây bằng đá, mặt cầu lát ván, hai đầu cầu nối với 7 gian giữa theo hình chữ I. Phía tây cầu đặt 2 tượng khỉ đá, phía đông đặt 2 tượng chó đá, đó là hai con linh vật “độc tôn” chỉ có ở phố cổ Hội An. Đó là lối kết cấu kiến trúc và trang trí nội thất đã chứa đựng dấu ấn của nền văn hóa Phù Tang (Nhật Bản) như: mái ngói mềm mại, uyển chuyển với độ dốc thấp, những cột vuông, nền cầu lát vát hình vòng cung, nhưng “Thần Khỉ” và “Thần Chó” (những con vật người Nhật luôn quý trọng) thờ ở hai đầu cầu.

Theo nhiều tài liệu khảo cổ học cho hay, tục thờ chó là tín ngưỡng chung ở nhiều dân tộc trên thế giới, nhưng có lẽ phổ biến nhất là ở các quốc gia Đông Nam Châu Á, cụ thể trong những thần thoại vùng Đông Nam Á lục địa. Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo khi gia nhập vào các quốc gia Đông Nam Á với tên gọi là Hindu giáo thì hai con vật chó và khỉ được đề cập rất nhiều trong Kinh thánh, trong điêu khắc, kiến trúc. Và hiện nay, trên nhiều bệ thờ người Chiêm Thành còn sót lại ở miền Trung Việt Nam đều có mô phỏng hình dáng con khỉ, con chó nhảy múa.

Theo đó, tục thờ chó của cư dân Việt được thể hiện dưới hai dạng thức gọi là linh cẩu. Một là chôn tượng chó đá trước cổng nhà như một linh vật để canh cổng với ý nghĩ như vị thần bảo hộ trừ tà ma, cầu phúc may. Hai là đặt chó đá trên những bệ thờ như một thần linh để thờ phụng như con kỳ lân. Cùng với đó, trong những chùa chiền vẫn thường thấy con khỉ được chưng tụng. Người dân gọi đây là con “Linh Hầu” hay “Thần Hầu” nhằm trấn giữ xứ đất chống lại những điều xấu xâm hại. Từ đó, khi ngẫm về con “Linh Cẩu” và con “Linh Hầu” được lập miếu thờ “có đôi có cặp” tại Chùa Cầu với ý niệm cầu mọi điều trong cuộc sống sẽ suôn sẻ, may mắn.

Lý giải về tượng thờ chó và khỉ tại Chùa Cầu, nhiều người cho rằng việc cân xứng 2 bên đầu cầu hai con linh vật trên là để ngụ ý về thời gian xây dựng công trình kéo dài 3 năm, bắt đầu động thổ từ năm Thân (con khỉ) và hoàn thành năm Tuất (con chó). Hơn nữa, có người cho rằng việc xây dựng hai bên đầu cầu những con chó và khỉ là một cách chỉ phương hướng trên địa bàn: Thân chỉ hướng “tây nam”; còn Tuất chỉ hướng “tây bắc”.

Trong Tô – tem giáo của người Nhật, họ sùng bái, thờ tự trong nhiều công trình tín ngưỡng từ cổ xưa về hai con linh vật này. Khi đến thăm Chùa Cầu sẽ dễ dàng đọc được thấy những câu chữ đối khá hay về hai con linh vật “trấn yểm” hai đầu Chùa Cầu. Riêng con Linh Cẩu được khắc những dòng chữ Hán: “Thiên cẩu song tinh an cấn thổ, Tử vi lưỡng tỉnh định khôn thân”. Tạm dịch là: Hai sao thiên cẩu trấn an đất cấn Hai tướng tử vi định giữ cung khôn. Cặp Linh Cẩu này ngồi trên một bệ thờ quay mặt nhìn nhau.

Quan sát kỹ có thể dễ phát hiện là một cặp “thanh mai trúc mã” tức một con đực, một con cái cao to bằng chó thật, ngồi khoan thai canh gác, chân trước đứng, hai chân sau ngồi trên bệ như chó sắp nhổm lên, xông ra đương đầu với cái ác để bảo vệ sự an lành của người dân phố Hội. Vì vậy, không riêng gì người dân phố cổ mà mỗi khách thập phương khi “hành hương” về Chùa Cầu đều cố nán lại trước mặt hai linh vật này để thắp hương thành tâm cúng vái cầu bình an gia hộ. Nhiều người có điều kiện còn sắp mâm lễ vật, hoa quả, hương đèn dâng lên hai ngài “Linh Cẩu” và “Linh Hầu”, nhất là vào những ngày Rằm, Lễ Tết.

Chất liệu tạc nên những bức tượng trên mới thoạt nhìn cứ ngỡ rằng được làm bằng đá bởi lớp sơn bên ngoài màu xám nhưng thực chất đó là bằng gỗ, mạ màu cho giống tượng chó đá, khỉ đá. Đó chính là sự kỳ bí mà cho đến nay mặc dù đã trải qua ngót 500 năm nhưng những pho tượng gỗ này vẫn ngồi uy nghi, khôn mặt đầy thấn bí và trầm mặc, trường tồn trước sự nghiệt ngã của thời gian. Vẫn biết là vậy, nhưng những câu chuyện huyền bí xung quanh Chùa Cầu và hai tượng “Thần Hầu”, “Linh Cẩu” toạ thiền vẫn tồn tại.

Theo Hà Kiều (báo Kiến Thức)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(iHay) - Hành trình ‘rùng rợn’ khám phá rừng Ma ao Dứa, chùa Địa Ngục ở Tam Đảo sẽ khiến những kẻ ham phượt phấn khích từ đầu đến cuối.

Với người Hà Nội, Tam Đảo là một địa điểm nghỉ dưỡng lý tưởng để nghỉ ngơi sau một tuần làm việc vất vả.
Không khí mát mẻ, trong lành nơi đây sẽ làm bất cứ cái đầu đầy khói bụi thành phố nào cũng được thư giãn và tái tạo sức sáng tạo một cách thần kỳ. Chẳng phải tự nhiên mà người ta còn ví Tam Đảo như một Sapa dưới đồng bằng.

< Những con đường dẫn đến chùa khi qua rừng rậm, lúc qua rừng trúc...

Tuy nhiên, dân bụi thì lại khác, họ không tìm chốn bình yên và mong ngóng nghỉ dưỡng ở thị trấn mà háo hức khám phá những điều bí mật ẩn sâu trong Vườn quốc gia Tam Đảo.

Từ Hà Nội, chỉ sau khoảng 2 giờ chạy xe là chạm đến khu vực Tam Đảo. Đi tiếp qua thị trấn, đến trạm kiểm lâm vườn quốc gia rồi gửi xe và bạn sẽ có một chuyến phiêu lưu mini đầy kỳ thú đến chùa Địa Ngục và rừng Ma ao Dứa.

< Chùa Địa Ngục bao quanh bởi rừng im lìm và đâu đó lất phất bùa yểm.

Hãy chuẩn bị hành trang gọn nhẹ để đi bộ qua  khoảng 12km đường rừng bắt đầu từ trạm kiểm lâm để đến Địa Ngục. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên vì hiếm có ngôi chùa nào mà đường đi vào lại khiến người ta cảm thấy lạnh sống lưng đến vậy.

Đường cứ hun hút dài, cứ lãng đãng như sương trước mặt và thiếu nắng làm cái rợn rợn lan trong không khí, trong từng tiếng vang của bước chân người nhịp đều. Không chỉ thế, trên những thân cây lại phấp phới những tờ bùa giấy vàng chữ đỏ càng làm khung cảnh thêm rờn rợn liêu trai.

< Đến chùa, bạn đừng quá ngạc nhiên vì vẻ đơn sơ của nó.

Cũng chính vì thế nên hiện nay, rất ít người biết tới ngôi chùa này. Có lẽ chỉ có dân bụi, dân phượt mới hứng thú với những khó khăn vất vả khi đi vào chùa mà thôi.

Tuy nhiên, đi qua những con đường mòn nhỏ hẹp, hai bên cây cối um xanh và vắng tiếng người, thừa tiếng của rừng. mỗi người sẽ tự chiêm nghiệm được nhiều thứ. Hết rừng trúc lại nối tiếp những cây gỗ lớn với tiếng chim, tiếng lá cây lạo xạo, tiếng thú di chuyển cũng cho bạn cảm giác gần thiên nhiên hơn bao giờ hết.

Người ta không biết chùa được xây cất từ năm nào nhưng theo cuốn Kiến Văn Tiểu lục của Lê Quý Đôn mô tả thì chùa là một khối kiến trúc vuông vức, mỗi cạnh dài khoảng một trượng, các tường bao quanh chùa đều bằng đá.

< Chùa có chiếc chuông nặng đến 2,2 tấn và chỉ vang tiếng 2 lần/ngày.

Thường ngày hai cánh cửa ra vào khóa kỹ bằng một khóa sắt lớn và trong khuôn viên có đặt viên đá ghi rõ: Địa Ngục tự (tức chùa Địa Ngục).

Chùa Địa Ngục không phải chỉ có cái tên ghê rợn mà không khí xung quanh cũng kỳ lạ. Có lẽ do được bao bọc bởi rừng cây, đường đến lại khó, ít khách vãng lai nên lặng lẽ và thâm trầm đến vậy.

< Chùa giữa rừng, vừa thâm trầm, vừa lặng lẽ nhưng vẫn rất thanh tịnh, hiền lành và sạch sẽ.

Nghe nói, chiếc chuông chùa ở đây có khối lượng 2,2 tấn, là một trong những chiếc chuông lớn nhất Việt Nam hiện nay. Và chuông chùa Địa Ngục chỉ vang lên hai lần mỗi ngày vào 19 giờ và 5 giờ.

Khi đến chùa mới biết những lá bùa là để yểm cho du khách đi đường an toàn, không lạc hồn giữa rừng Ma ao Dứa. Đến chùa sẽ được nghe nhiều chuyện ly kỳ và không kém phần rùng rợn về rừng Ma, ao Dứa. Cái thực thực hư hư càng làm cho khu rừng nơi đây có sức hấp dẫn lạ kỳ nhưng cũng làm người ta thấy e ngại và kiêng dè.

Không quá vất vả, không quá mất thời gian cho một cung trekking cuối tuần, Tam Đảo với chùa Địa Ngục, rừng Ma ao Dứa là một lựa chọn hợp lý cho các bạn ưa khám phá nhưng ít thời gian.

Phượt ký của Keeng (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Huyền bí nơi phát tích đạo Phật VN

Thăm chùa Địa Ngục

(iHay) - Hành trình ‘rùng rợn’ khám phá rừng Ma ao Dứa, chùa Địa Ngục ở Tam Đảo sẽ khiến những kẻ ham phượt phấn khích từ đầu đến cuối.

Với người Hà Nội, Tam Đảo là một địa điểm nghỉ dưỡng lý tưởng để nghỉ ngơi sau một tuần làm việc vất vả.
Không khí mát mẻ, trong lành nơi đây sẽ làm bất cứ cái đầu đầy khói bụi thành phố nào cũng được thư giãn và tái tạo sức sáng tạo một cách thần kỳ. Chẳng phải tự nhiên mà người ta còn ví Tam Đảo như một Sapa dưới đồng bằng.

< Những con đường dẫn đến chùa khi qua rừng rậm, lúc qua rừng trúc...

Tuy nhiên, dân bụi thì lại khác, họ không tìm chốn bình yên và mong ngóng nghỉ dưỡng ở thị trấn mà háo hức khám phá những điều bí mật ẩn sâu trong Vườn quốc gia Tam Đảo.

Từ Hà Nội, chỉ sau khoảng 2 giờ chạy xe là chạm đến khu vực Tam Đảo. Đi tiếp qua thị trấn, đến trạm kiểm lâm vườn quốc gia rồi gửi xe và bạn sẽ có một chuyến phiêu lưu mini đầy kỳ thú đến chùa Địa Ngục và rừng Ma ao Dứa.

< Chùa Địa Ngục bao quanh bởi rừng im lìm và đâu đó lất phất bùa yểm.

Hãy chuẩn bị hành trang gọn nhẹ để đi bộ qua  khoảng 12km đường rừng bắt đầu từ trạm kiểm lâm để đến Địa Ngục. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên vì hiếm có ngôi chùa nào mà đường đi vào lại khiến người ta cảm thấy lạnh sống lưng đến vậy.

Đường cứ hun hút dài, cứ lãng đãng như sương trước mặt và thiếu nắng làm cái rợn rợn lan trong không khí, trong từng tiếng vang của bước chân người nhịp đều. Không chỉ thế, trên những thân cây lại phấp phới những tờ bùa giấy vàng chữ đỏ càng làm khung cảnh thêm rờn rợn liêu trai.

< Đến chùa, bạn đừng quá ngạc nhiên vì vẻ đơn sơ của nó.

Cũng chính vì thế nên hiện nay, rất ít người biết tới ngôi chùa này. Có lẽ chỉ có dân bụi, dân phượt mới hứng thú với những khó khăn vất vả khi đi vào chùa mà thôi.

Tuy nhiên, đi qua những con đường mòn nhỏ hẹp, hai bên cây cối um xanh và vắng tiếng người, thừa tiếng của rừng. mỗi người sẽ tự chiêm nghiệm được nhiều thứ. Hết rừng trúc lại nối tiếp những cây gỗ lớn với tiếng chim, tiếng lá cây lạo xạo, tiếng thú di chuyển cũng cho bạn cảm giác gần thiên nhiên hơn bao giờ hết.

Người ta không biết chùa được xây cất từ năm nào nhưng theo cuốn Kiến Văn Tiểu lục của Lê Quý Đôn mô tả thì chùa là một khối kiến trúc vuông vức, mỗi cạnh dài khoảng một trượng, các tường bao quanh chùa đều bằng đá.

< Chùa có chiếc chuông nặng đến 2,2 tấn và chỉ vang tiếng 2 lần/ngày.

Thường ngày hai cánh cửa ra vào khóa kỹ bằng một khóa sắt lớn và trong khuôn viên có đặt viên đá ghi rõ: Địa Ngục tự (tức chùa Địa Ngục).

Chùa Địa Ngục không phải chỉ có cái tên ghê rợn mà không khí xung quanh cũng kỳ lạ. Có lẽ do được bao bọc bởi rừng cây, đường đến lại khó, ít khách vãng lai nên lặng lẽ và thâm trầm đến vậy.

< Chùa giữa rừng, vừa thâm trầm, vừa lặng lẽ nhưng vẫn rất thanh tịnh, hiền lành và sạch sẽ.

Nghe nói, chiếc chuông chùa ở đây có khối lượng 2,2 tấn, là một trong những chiếc chuông lớn nhất Việt Nam hiện nay. Và chuông chùa Địa Ngục chỉ vang lên hai lần mỗi ngày vào 19 giờ và 5 giờ.

Khi đến chùa mới biết những lá bùa là để yểm cho du khách đi đường an toàn, không lạc hồn giữa rừng Ma ao Dứa. Đến chùa sẽ được nghe nhiều chuyện ly kỳ và không kém phần rùng rợn về rừng Ma, ao Dứa. Cái thực thực hư hư càng làm cho khu rừng nơi đây có sức hấp dẫn lạ kỳ nhưng cũng làm người ta thấy e ngại và kiêng dè.

Không quá vất vả, không quá mất thời gian cho một cung trekking cuối tuần, Tam Đảo với chùa Địa Ngục, rừng Ma ao Dứa là một lựa chọn hợp lý cho các bạn ưa khám phá nhưng ít thời gian.

Phượt ký của Keeng (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Huyền bí nơi phát tích đạo Phật VN
Đọc thêm..