(SGGP) - Bị quyến rũ bởi câu ngân nga của người xưa: Nhất vui là hội phủ Giầy/ Vui thì vui vậy, chẳng tày chùa Bi, tôi lặn lội về thành Nam. Thật thú vị, lại được chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật độc đáo có sức sống gần 500 năm.

Độc nhất vô nhị

17 giờ, bà con làng trên xóm dưới đã đổ về đầy sân chùa. Mỗi người mỗi việc, người chuẩn bị lễ vật cúng thánh, phật, người lo quét dọn, người giăng đèn kết hoa, người bắc phông màn, trải chiếu, chuẩn bị trầu nước… Ai nấy tíu tít, hoan hỉ. Hôm nay phát tấu mà!

< Gác chuông chùa Bi.

Chùa Bi (còn gọi chùa Đại Bi) là ngôi chùa chung của 3 làng Vân Chàng, Giáp Ba và Giáp Tư, là một trong 4 ngôi chùa được xây dựng ở huyện Tây Chân (sau đổi thành Nam Chân) thuộc trấn Sơn Nam từ thời Lý (1010 - 1225), nay thuộc thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Chùa rộng 2.600m2 với hơn 60 gian, hầu hết bằng gỗ lim. Nhìn từ ngoài vào ta thấy chùa được nâng cao dần, kiến trúc hình chữ công (nội công, ngoại quốc), trông nguy nga đồ sộ. Hai dãy hành lang dài và thấp hai bên tả hữu càng tôn thêm vẻ đẹp của tháp chuông 2 tầng với 8 mái uốn cong mềm mại, tựa đóa sen đang nở.

Trong chùa lưu giữ nhiều cổ vật quý có từ thời hậu Lê: quả chuông cao hơn 2m, đỉnh đồng, khay, chén, đĩa… Một quần thể lăng mộ, am, tháp với kiến trúc đặc sắc; khung cảnh thiên nhiên trong lành, xanh tươi và khu chợ chùa tấp nập (ngoài việc đáp ứng nhu cầu giao thương hàng ngày của người dân quanh vùng; mùng 8 Tết, chợ còn họp phiên đặc biệt, dân quanh vùng mang đến đây từ nông cụ đến cây cảnh, đồ cổ… để buôn bán cầu may. Theo các bậc cao niên trong vùng, phiên chợ Viềng Nam Giang này ra đời trước và độc đáo hơn cả chợ Viềng phủ Giầy bên kia sông Đào) cũng tạo thêm nét duyên cho ngôi chùa cổ thanh tịnh và đã được Bộ VH-TT (cũ) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa từ năm 1984.

Đại đức Thích Thanh Quyết, trụ trì chùa Bi, cho biết: Chùa thờ vị thánh tổ Từ Đạo Hạnh, con trai của ông Từ Vinh giữ chức đô sát đời vua Lý Nhân Tông. Từ Đạo Hạnh đã kết bạn với Không Lộ thiền sư ở chùa Không Lộ và Giác Hải thiền sư ở chùa Phúc Lâm. Ba người nghiên cứu pháp môn đà la ni và cùng nhau sang Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh và được đức Phật tổ truyền cho tâm án, lục trí thần thông.

Để tưởng nhớ thánh tổ Từ Đạo Hạnh, vị thiền sư đã trụ trì ở chùa Bi, hàng năm, dân làng mở hội từ ngày 20 đến 24 tháng Giêng âm lịch. Trong suốt mấy ngày hội thường tổ chức tưng bừng rước kiệu, tế xuân và các trò vui chơi như đánh cờ, đấu vật, múa rồng, chạy đàn cầu an… Đặc biệt, suốt những đêm hội còn diễn ra các trò múa rối mà người địa phương quen gọi là trò hát rối hay ổi lỗi.

Đúng 19 giờ, trong tiếng chuông, trống, thanh la, mõ vang rộn, gần 20 ông lão mặc quần trắng, áo dài thâm, đội khăn lượt hoặc khăn xếp kính cẩn tiến vào hậu cung thắp hương, cúng lễ rồi mở hòm rước 12 đầu rối, gọi là thánh tượng, ra trước chánh điện. Trong làn hương thơm ngát của hương hoa, phẩm quả, các ông lần lượt xếp hàng trước tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh, điều khiển những thánh tượng cúi đầu lạy thánh rồi tiến ra sân khấu. Sân khấu biểu diễn chỉ đơn giản là một bức rèm che cách điệu hình sóng nước được mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong chùa (gọi là dàn). Người múa rối, người hát, người gõ nhạc cụ đứng sau tấm màn, quay mặt về phía bàn thờ Phật và bàn thờ đức thánh Từ (thế nên mới gọi là múa rối hầu thánh).

Giáo trống rộn ràng báo hiệu đêm hát rối bắt đầu. Mỗi thôn có một bài giáo trống khác nhau, hay nhất là bài của thôn Giáp Ba. Rồi lần lượt đến mở hò, dâng cách, đọc kệ. Tiếp theo, 3 nhóm rối của từng làng (mỗi nhóm 10 người) ra hát chúc làng mình rồi cùng nhau đồng ca lời chúc mừng chung cho cả 3 làng, 3 xã được an lành, phú quý. Các bài hát có những âm điệu, giai điệu khác nhau nhưng đều hát vần ra theo nhịp 1/3 hoặc 2/7. Đặc biệt các lời đệm, lời đón đều dùng tiếng Nôm cổ, làm theo thể song thất lục bát hoặc lục bát: Là ôi là lễ lã lè lại là lèn; hồ la hồ hồ la la lải la lèn; là ôi là a a a ớ dô là vậy, là vậy hờ là là vậy; lê lê là… Nội dung của các bài hát đều mang ý nghĩa chúc phúc, ca ngợi quê hương đất nước tươi đẹp, ca ngợi những chiến công trong lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông xưa, nhắc nhở mọi người biết sống thủy chung, trọng lễ nghĩa…

Rối chùa Bi thuộc thể loại rối tay. Tượng làm bằng gỗ vàng tâm khoét rỗng, phủ sơn ta, với nét mặt được các nghệ nhân dân gian khắc họa khá kỹ lưỡng, thể hiện những tính cách khác nhau, được người dân gọi là thánh tượng. Bộ thánh tượng chùa Bi không chỉ có giá trị lịch sử, tâm linh mà còn giàu tính mỹ thuật, được đánh giá là bộ đầu rối đẹp nhất miền Bắc Việt Nam.

Nguy cơ mai một

Ông Đoàn Quanh (84 tuổi) tham gia phường rối từ năm 13 tuổi và giữ chân trùm phường (chánh trùm) suốt từ năm 1970 tới nay, cho biết: “Chính tên của trò này là hội tu kỳ lệ (răn đời bỏ ác làm thiện); sau này mới có thêm các tên là rối đầu gỗ, ổi lỗi, hát rối”. Căn cứ vào kinh văn (tức lời hát) có thể phỏng đoán trò ổi lỗi được kiện toàn hình thức và nội dung từ thời Lê sơ (cách đây khoảng hơn 450 năm).

Có bài ca ngợi về việc khôi phục đế đô, có bài ca ngợi đức vua (Lê), đức chúa (Trịnh). Còn lại, hầu hết bài ca có ý nghĩa giáo dục răn dạy đạo đức phong kiến tam cương, ngũ thường, đạo gia đình... Trong ca từ có rất nhiều lời cổ, ví dụ như hòa (chàng), nường (nàng), bường (bình)... Còn rất nhiều từ tối nghĩa (nghĩa cổ) các cụ hát được nhưng không hiểu...

“Rối đầu gỗ chùa Bi là một loại hình diễn xướng dân gian rất đặc sắc và độc nhất vô nhị trên đất nước ta. Ở chùa Cổ Lễ (Nam Định) thờ thiền sư Giác Hải còn giữ được một số đầu tượng rối giống như ở chùa Đại Bi nhưng kinh văn (lời hát) ở những nơi này đã mất và cũng không còn phường rối. Ở chùa Keo (Thái Bình) thờ thiền sư Không Lộ cũng có trò diễn bằng những đầu gỗ nhưng chỉ múa đơn thuần chứ không có các làn điệu hát phụ họa và nghệ thuật tạo hình các con trò cũng không đẹp mắt…”, GS-TS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nhận xét.

Nhưng từ hàng trăm năm nay, do gắn liền với lễ hội đậm màu sắc tín ngưỡng của chùa Bi nên chỉ được diễn vài ba lần mỗi năm vào những dịp hội xuân, giỗ thánh. Năm 2002, Bộ Văn hóa - Thông tin đã tài trợ kinh phí nghiên cứu và Viện Âm nhạc Việt Nam đã về chùa Bi ghi âm và quay lại toàn bộ chương trình biểu diễn của trò ổi lỗi để lưu giữ hình ảnh với mục đích bảo tồn. Nhưng nghiên cứu của viện cũng chỉ chú ý về mặt diễn xướng và âm nhạc, không tìm hiểu sâu về nguồn gốc và lý do của trò ổi lỗi.

Tại chùa Đại Bi đang lưu giữ 2 bộ tượng rối, một bộ được làm năm 1957 dùng để tập, bộ còn lại có niên đại cao, mang nhiều giá trị lịch sử nhưng chưa có phương án bảo quản hữu hiệu để chống mối mọt. Hiện nay nơi lưu giữ tượng nằm sau chính điện thờ, ẩm thấp và thiếu ánh sáng. Nhiều đầu rối đã bong sơn, gãy tay cầm. Muốn phục chế, các cụ cũng không biết tìm đâu ra nghệ nhân. Còn làm mới thì theo như ông Sòng cho biết, giá một đầu rối vào khoảng 15 triệu đồng. Hiện nay, Sở VH-TT-DL tỉnh Nam Định đang có kế hoạch ghi hình toàn bộ diễn trình, làm hồ sơ để trình Cục Di sản văn hóa công nhận rối đầu gỗ hầu thánh là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Năm 2009, lần đầu tiên trò ổi lỗi ra mắt công chúng ngoài không gian chùa Bi. 6 nghệ nhân đã đến Hà Nội trình diễn tại tọa đàm “Để di sản sống trong đời sống đương đại” trước các nhà nghiên cứu văn hóa. Lần thứ hai, rối đầu gỗ chùa Bi “xuất ngoại” là ngày 4-3-2012. Các nghệ nhân đã lên chùa Thầy (thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội) để trình diễn trong một cuộc hội thảo về thánh Từ Đạo Hạnh và tín ngưỡng dân gian.

Theo Đỗ Quang Tuấn Hoàng (Sàigòn Giải Phóng)
Du lịch, GO!

Hát rối chùa Bi

(SGGP) - Bị quyến rũ bởi câu ngân nga của người xưa: Nhất vui là hội phủ Giầy/ Vui thì vui vậy, chẳng tày chùa Bi, tôi lặn lội về thành Nam. Thật thú vị, lại được chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật độc đáo có sức sống gần 500 năm.

Độc nhất vô nhị

17 giờ, bà con làng trên xóm dưới đã đổ về đầy sân chùa. Mỗi người mỗi việc, người chuẩn bị lễ vật cúng thánh, phật, người lo quét dọn, người giăng đèn kết hoa, người bắc phông màn, trải chiếu, chuẩn bị trầu nước… Ai nấy tíu tít, hoan hỉ. Hôm nay phát tấu mà!

< Gác chuông chùa Bi.

Chùa Bi (còn gọi chùa Đại Bi) là ngôi chùa chung của 3 làng Vân Chàng, Giáp Ba và Giáp Tư, là một trong 4 ngôi chùa được xây dựng ở huyện Tây Chân (sau đổi thành Nam Chân) thuộc trấn Sơn Nam từ thời Lý (1010 - 1225), nay thuộc thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Chùa rộng 2.600m2 với hơn 60 gian, hầu hết bằng gỗ lim. Nhìn từ ngoài vào ta thấy chùa được nâng cao dần, kiến trúc hình chữ công (nội công, ngoại quốc), trông nguy nga đồ sộ. Hai dãy hành lang dài và thấp hai bên tả hữu càng tôn thêm vẻ đẹp của tháp chuông 2 tầng với 8 mái uốn cong mềm mại, tựa đóa sen đang nở.

Trong chùa lưu giữ nhiều cổ vật quý có từ thời hậu Lê: quả chuông cao hơn 2m, đỉnh đồng, khay, chén, đĩa… Một quần thể lăng mộ, am, tháp với kiến trúc đặc sắc; khung cảnh thiên nhiên trong lành, xanh tươi và khu chợ chùa tấp nập (ngoài việc đáp ứng nhu cầu giao thương hàng ngày của người dân quanh vùng; mùng 8 Tết, chợ còn họp phiên đặc biệt, dân quanh vùng mang đến đây từ nông cụ đến cây cảnh, đồ cổ… để buôn bán cầu may. Theo các bậc cao niên trong vùng, phiên chợ Viềng Nam Giang này ra đời trước và độc đáo hơn cả chợ Viềng phủ Giầy bên kia sông Đào) cũng tạo thêm nét duyên cho ngôi chùa cổ thanh tịnh và đã được Bộ VH-TT (cũ) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa từ năm 1984.

Đại đức Thích Thanh Quyết, trụ trì chùa Bi, cho biết: Chùa thờ vị thánh tổ Từ Đạo Hạnh, con trai của ông Từ Vinh giữ chức đô sát đời vua Lý Nhân Tông. Từ Đạo Hạnh đã kết bạn với Không Lộ thiền sư ở chùa Không Lộ và Giác Hải thiền sư ở chùa Phúc Lâm. Ba người nghiên cứu pháp môn đà la ni và cùng nhau sang Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh và được đức Phật tổ truyền cho tâm án, lục trí thần thông.

Để tưởng nhớ thánh tổ Từ Đạo Hạnh, vị thiền sư đã trụ trì ở chùa Bi, hàng năm, dân làng mở hội từ ngày 20 đến 24 tháng Giêng âm lịch. Trong suốt mấy ngày hội thường tổ chức tưng bừng rước kiệu, tế xuân và các trò vui chơi như đánh cờ, đấu vật, múa rồng, chạy đàn cầu an… Đặc biệt, suốt những đêm hội còn diễn ra các trò múa rối mà người địa phương quen gọi là trò hát rối hay ổi lỗi.

Đúng 19 giờ, trong tiếng chuông, trống, thanh la, mõ vang rộn, gần 20 ông lão mặc quần trắng, áo dài thâm, đội khăn lượt hoặc khăn xếp kính cẩn tiến vào hậu cung thắp hương, cúng lễ rồi mở hòm rước 12 đầu rối, gọi là thánh tượng, ra trước chánh điện. Trong làn hương thơm ngát của hương hoa, phẩm quả, các ông lần lượt xếp hàng trước tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh, điều khiển những thánh tượng cúi đầu lạy thánh rồi tiến ra sân khấu. Sân khấu biểu diễn chỉ đơn giản là một bức rèm che cách điệu hình sóng nước được mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong chùa (gọi là dàn). Người múa rối, người hát, người gõ nhạc cụ đứng sau tấm màn, quay mặt về phía bàn thờ Phật và bàn thờ đức thánh Từ (thế nên mới gọi là múa rối hầu thánh).

Giáo trống rộn ràng báo hiệu đêm hát rối bắt đầu. Mỗi thôn có một bài giáo trống khác nhau, hay nhất là bài của thôn Giáp Ba. Rồi lần lượt đến mở hò, dâng cách, đọc kệ. Tiếp theo, 3 nhóm rối của từng làng (mỗi nhóm 10 người) ra hát chúc làng mình rồi cùng nhau đồng ca lời chúc mừng chung cho cả 3 làng, 3 xã được an lành, phú quý. Các bài hát có những âm điệu, giai điệu khác nhau nhưng đều hát vần ra theo nhịp 1/3 hoặc 2/7. Đặc biệt các lời đệm, lời đón đều dùng tiếng Nôm cổ, làm theo thể song thất lục bát hoặc lục bát: Là ôi là lễ lã lè lại là lèn; hồ la hồ hồ la la lải la lèn; là ôi là a a a ớ dô là vậy, là vậy hờ là là vậy; lê lê là… Nội dung của các bài hát đều mang ý nghĩa chúc phúc, ca ngợi quê hương đất nước tươi đẹp, ca ngợi những chiến công trong lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông xưa, nhắc nhở mọi người biết sống thủy chung, trọng lễ nghĩa…

Rối chùa Bi thuộc thể loại rối tay. Tượng làm bằng gỗ vàng tâm khoét rỗng, phủ sơn ta, với nét mặt được các nghệ nhân dân gian khắc họa khá kỹ lưỡng, thể hiện những tính cách khác nhau, được người dân gọi là thánh tượng. Bộ thánh tượng chùa Bi không chỉ có giá trị lịch sử, tâm linh mà còn giàu tính mỹ thuật, được đánh giá là bộ đầu rối đẹp nhất miền Bắc Việt Nam.

Nguy cơ mai một

Ông Đoàn Quanh (84 tuổi) tham gia phường rối từ năm 13 tuổi và giữ chân trùm phường (chánh trùm) suốt từ năm 1970 tới nay, cho biết: “Chính tên của trò này là hội tu kỳ lệ (răn đời bỏ ác làm thiện); sau này mới có thêm các tên là rối đầu gỗ, ổi lỗi, hát rối”. Căn cứ vào kinh văn (tức lời hát) có thể phỏng đoán trò ổi lỗi được kiện toàn hình thức và nội dung từ thời Lê sơ (cách đây khoảng hơn 450 năm).

Có bài ca ngợi về việc khôi phục đế đô, có bài ca ngợi đức vua (Lê), đức chúa (Trịnh). Còn lại, hầu hết bài ca có ý nghĩa giáo dục răn dạy đạo đức phong kiến tam cương, ngũ thường, đạo gia đình... Trong ca từ có rất nhiều lời cổ, ví dụ như hòa (chàng), nường (nàng), bường (bình)... Còn rất nhiều từ tối nghĩa (nghĩa cổ) các cụ hát được nhưng không hiểu...

“Rối đầu gỗ chùa Bi là một loại hình diễn xướng dân gian rất đặc sắc và độc nhất vô nhị trên đất nước ta. Ở chùa Cổ Lễ (Nam Định) thờ thiền sư Giác Hải còn giữ được một số đầu tượng rối giống như ở chùa Đại Bi nhưng kinh văn (lời hát) ở những nơi này đã mất và cũng không còn phường rối. Ở chùa Keo (Thái Bình) thờ thiền sư Không Lộ cũng có trò diễn bằng những đầu gỗ nhưng chỉ múa đơn thuần chứ không có các làn điệu hát phụ họa và nghệ thuật tạo hình các con trò cũng không đẹp mắt…”, GS-TS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nhận xét.

Nhưng từ hàng trăm năm nay, do gắn liền với lễ hội đậm màu sắc tín ngưỡng của chùa Bi nên chỉ được diễn vài ba lần mỗi năm vào những dịp hội xuân, giỗ thánh. Năm 2002, Bộ Văn hóa - Thông tin đã tài trợ kinh phí nghiên cứu và Viện Âm nhạc Việt Nam đã về chùa Bi ghi âm và quay lại toàn bộ chương trình biểu diễn của trò ổi lỗi để lưu giữ hình ảnh với mục đích bảo tồn. Nhưng nghiên cứu của viện cũng chỉ chú ý về mặt diễn xướng và âm nhạc, không tìm hiểu sâu về nguồn gốc và lý do của trò ổi lỗi.

Tại chùa Đại Bi đang lưu giữ 2 bộ tượng rối, một bộ được làm năm 1957 dùng để tập, bộ còn lại có niên đại cao, mang nhiều giá trị lịch sử nhưng chưa có phương án bảo quản hữu hiệu để chống mối mọt. Hiện nay nơi lưu giữ tượng nằm sau chính điện thờ, ẩm thấp và thiếu ánh sáng. Nhiều đầu rối đã bong sơn, gãy tay cầm. Muốn phục chế, các cụ cũng không biết tìm đâu ra nghệ nhân. Còn làm mới thì theo như ông Sòng cho biết, giá một đầu rối vào khoảng 15 triệu đồng. Hiện nay, Sở VH-TT-DL tỉnh Nam Định đang có kế hoạch ghi hình toàn bộ diễn trình, làm hồ sơ để trình Cục Di sản văn hóa công nhận rối đầu gỗ hầu thánh là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Năm 2009, lần đầu tiên trò ổi lỗi ra mắt công chúng ngoài không gian chùa Bi. 6 nghệ nhân đã đến Hà Nội trình diễn tại tọa đàm “Để di sản sống trong đời sống đương đại” trước các nhà nghiên cứu văn hóa. Lần thứ hai, rối đầu gỗ chùa Bi “xuất ngoại” là ngày 4-3-2012. Các nghệ nhân đã lên chùa Thầy (thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội) để trình diễn trong một cuộc hội thảo về thánh Từ Đạo Hạnh và tín ngưỡng dân gian.

Theo Đỗ Quang Tuấn Hoàng (Sàigòn Giải Phóng)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(Infonet) - Trò chơi dân gian nặn pháo đất từ lâu trở thành một phần không thể thiếu trong Lễ hội đền Trần Thái Bình.
Với sự góp vui của hàng chục pháo thủ đến từ xã Chi Lăng, huyện Hưng Hà, họ đã mang lại cho du khách thập phương về trẩy hội những tiếng cười phấn khích.

Trò chơi pháo đất bắt nguồn theo tích xưa: Vào năm 1288 trong lúc quân ta đang đánh chiến ác liệt với giặc ở Bạch Đằng thì con voi của Trần Hưng Đạo bất ngờ bị sa vào vũng lầy ở bãi sông Hóa thuộc làng A Sào nay thuộc xã ( An Thái – Quỳnh Phụ). Dân quanh vùng thấy vậy liền hô hoán gọi nhau vác quốc xẻng ra đào đất, vác đất hỗ trợ cùng với quân lính ném đất xuống bãi lầy đế đắp đường cho voi lên bờ.

< Mỗi quả pháo đất thường nặng 30 – 40 kg.

Cũng theo các cụ cao niên trong làng cho biết, trò chơi pháo đất huyện Hưng Hà còn gắn liền với tích chuyện quai đê chống lũ lụt ngày xưa. Để tưởng nhớ vết tích của voi thần và vị tướng tài đức, người dân Thái Bình vào những ngày đầu xuân thường xuyên cùng nhau diễn lại màn tung đất cứu voi xưa. Thời gian nông nhàn họ cùng nhau ra ruộng lấy đất sét mang về nhà nhào nặn, rồi trổ tài bằng màn “ nặn pháo đất” như vậy.

Pháo đất có hình dạng giống như một chiếc thuyền. Nguyên liệu được làm bằng đất sét siêu mịn. Người dân nơi đây quan niệm, pháo đất chính là sự biểu tượng mang lại may mắn, một năm làm ăn thuận buồm xuôi gió.

Theo ông Tuấn, trưởng nhóm cho biết, để pháo đất có được những tiếng nổ vang và đanh thì người nặn phải làm theo đúng, đủ quy trình. Trong đó quan trọng nhất là bước nén pháo chặt.

< Để quả pháo hình thù một chiếc thuyền, người làm pháo cần phải sử dụng đến tấm tôn làm khuôn mẫu.

Cụ Nguyễn Mạnh Quân (70 tuổi) là thành viên cao tuổi nhất trong hội và cũng là người dày dặn kinh nghiệm, vừa làm cụ hào hứng chia sẻ: “ Năm nào tôi cũng tham gia, góp vui với hội thi pháo tại đền Trần. Ngày trước còn khỏe mạnh, phong độ vẫn luôn được giao trọng trách quan trọng là gieo pháo. Giờ thì tuổi cao sức yếu, chỉ trổ tài cùng anh em trong đội với những đường nặn dẻo dai vành pháo cơ bản này thôi ”.

< Chuẩn bĩ gieo pháo.

Người được giao trọng trách gieo pháo, phải là người có sức khỏe, dày dặn kinh nghiệm. Có như vậy người chơi mới mang lại được những tiếng nổ vui tai cho khán giả đứng hô hò xem.

< Giám khảo đo giềng pháo sau khi nổ.

Đội nào có giềng pháo dài nhất trong tổng các lần gieo sẽ là đội thắng cuộc. Theo ghi nhận của PV thì giềng phao cao nhất của các đội nỗ lực đạt được có chiều dài gần 3m.

Hội thi pháo đất cuốn hút đông đảo nhiều người đứng xem cổ vũ. Ai cũng muốn tận mắt ngắm những khung “ thuyền pháo” được tạo nặn ra từ đôi bàn tay khéo léo đa tài của thanh niên trai tráng hay các lão nông làm ăn kinh tế giỏi đang sinh sống và làm việc tại mảnh đất quê hương Hưng Hà.

Theo Thanh Tuyền (Infonet)
Du lịch, GO!

Lễ hội pháo đất Hải Dương

Chơi pháo đất ở đền Trần

(Infonet) - Trò chơi dân gian nặn pháo đất từ lâu trở thành một phần không thể thiếu trong Lễ hội đền Trần Thái Bình.
Với sự góp vui của hàng chục pháo thủ đến từ xã Chi Lăng, huyện Hưng Hà, họ đã mang lại cho du khách thập phương về trẩy hội những tiếng cười phấn khích.

Trò chơi pháo đất bắt nguồn theo tích xưa: Vào năm 1288 trong lúc quân ta đang đánh chiến ác liệt với giặc ở Bạch Đằng thì con voi của Trần Hưng Đạo bất ngờ bị sa vào vũng lầy ở bãi sông Hóa thuộc làng A Sào nay thuộc xã ( An Thái – Quỳnh Phụ). Dân quanh vùng thấy vậy liền hô hoán gọi nhau vác quốc xẻng ra đào đất, vác đất hỗ trợ cùng với quân lính ném đất xuống bãi lầy đế đắp đường cho voi lên bờ.

< Mỗi quả pháo đất thường nặng 30 – 40 kg.

Cũng theo các cụ cao niên trong làng cho biết, trò chơi pháo đất huyện Hưng Hà còn gắn liền với tích chuyện quai đê chống lũ lụt ngày xưa. Để tưởng nhớ vết tích của voi thần và vị tướng tài đức, người dân Thái Bình vào những ngày đầu xuân thường xuyên cùng nhau diễn lại màn tung đất cứu voi xưa. Thời gian nông nhàn họ cùng nhau ra ruộng lấy đất sét mang về nhà nhào nặn, rồi trổ tài bằng màn “ nặn pháo đất” như vậy.

Pháo đất có hình dạng giống như một chiếc thuyền. Nguyên liệu được làm bằng đất sét siêu mịn. Người dân nơi đây quan niệm, pháo đất chính là sự biểu tượng mang lại may mắn, một năm làm ăn thuận buồm xuôi gió.

Theo ông Tuấn, trưởng nhóm cho biết, để pháo đất có được những tiếng nổ vang và đanh thì người nặn phải làm theo đúng, đủ quy trình. Trong đó quan trọng nhất là bước nén pháo chặt.

< Để quả pháo hình thù một chiếc thuyền, người làm pháo cần phải sử dụng đến tấm tôn làm khuôn mẫu.

Cụ Nguyễn Mạnh Quân (70 tuổi) là thành viên cao tuổi nhất trong hội và cũng là người dày dặn kinh nghiệm, vừa làm cụ hào hứng chia sẻ: “ Năm nào tôi cũng tham gia, góp vui với hội thi pháo tại đền Trần. Ngày trước còn khỏe mạnh, phong độ vẫn luôn được giao trọng trách quan trọng là gieo pháo. Giờ thì tuổi cao sức yếu, chỉ trổ tài cùng anh em trong đội với những đường nặn dẻo dai vành pháo cơ bản này thôi ”.

< Chuẩn bĩ gieo pháo.

Người được giao trọng trách gieo pháo, phải là người có sức khỏe, dày dặn kinh nghiệm. Có như vậy người chơi mới mang lại được những tiếng nổ vui tai cho khán giả đứng hô hò xem.

< Giám khảo đo giềng pháo sau khi nổ.

Đội nào có giềng pháo dài nhất trong tổng các lần gieo sẽ là đội thắng cuộc. Theo ghi nhận của PV thì giềng phao cao nhất của các đội nỗ lực đạt được có chiều dài gần 3m.

Hội thi pháo đất cuốn hút đông đảo nhiều người đứng xem cổ vũ. Ai cũng muốn tận mắt ngắm những khung “ thuyền pháo” được tạo nặn ra từ đôi bàn tay khéo léo đa tài của thanh niên trai tráng hay các lão nông làm ăn kinh tế giỏi đang sinh sống và làm việc tại mảnh đất quê hương Hưng Hà.

Theo Thanh Tuyền (Infonet)
Du lịch, GO!

Lễ hội pháo đất Hải Dương
Đọc thêm..
(NGVN) - Khi vừa cất tiếng khóc chào đời đến khi tóc trên đầu phơ phơ bạc, thì con trai sẽ được gọi là cò, còn con gái sẽ được gọi là đĩ. Trăm nhà như một, cấm có sai. Tiếng gọi độc đáo ấy chỉ chấm dứt cùng với âm thanh của búa đóng đinh lộp bộp trên nắp cỗ quan tài.

Làng cò

“Cò Ký đã về đấy à? Thế Tết này mày ở quê chơi có được lâu không hả cháu?”. Người đàn ông tóc đã hoa râm xa quê bấy lâu chợt luống cuống khi nghe tiếng gọi thân mật ấy phát ra từ chính miệng bà cô mình. Đối với người đàn bà nông dân này thì thằng cháu (PGS.TS Phạm Văn Ký) tuổi ngót lục tuần, giảng viên một trường đại học danh tiếng tại Hà Nội cũng chỉ là cò Ký ngày nào còn chân đất, đầu trần chơi ô ăn quan, chơi khăng, chơi đáo ở làng mà thôi.

Ở Ngô Xuyên (Văn Lâm, Hưng Yên) khi một đứa trẻ trai mới sinh ra liền được gọi là cò. Vợ ông Phạm Trọng Khoát đẻ ra được một đàn cò gồm cò Ký (tức PGS.TS Phạm Văn Ký), cò Đạt, cò Tâm, cò Trường trong đó người là PGS, người là thạc sĩ, chí ít cũng là kỹ sư.

Con cái xa nhà, phương trưởng cả, thỉnh thoảng bà Khoát lại hỏi chồng: “Ông ơi cò Khoa có gọi điện về không?”. Cò Khoa tức là đứa cháu nội đang học đại học tận bên Mỹ. Cách nửa vòng trái đất mà bà ngỡ như thằng bé vẫn còn ở cái thủa lẫm chẫm tập đi hồi ở làng cò. Những cụ già phơ phơ đầu bạc cũng một mực khẳng định với tôi rằng cái chuyện gọi con trai là cò từ đời cụ kỵ sinh ra đã thấy rồi, không biết do ai đặt. Tuy nhiên cũng có người kể với tôi lệ ấy có cả một gốc tích rễ chuỗi hẳn hoi.

Một gia đình nọ trong thôn đẻ ra đứa con trai đặt tên là cò Cường. Cò Cường lấy vợ đẻ ra cò Tráng. Cò Tráng lập gia thất sinh ra cò Kiện. Thấy hay hay cả thôn liền gọi theo, làng cò hình thành từ bấy.

Không phải ai muốn mở miệng gọi người khác là cò cũng được mà phải ở vai trên hoặc chí ít cũng bằng vai phải lứa. Chuyện rằng một cô mẫu giáo về Ngô Xuyên nhận công tác, đến giờ đón cháu, các bà, các mẹ cứ ời ời gọi: “Cô cho tôi đón cò Dân”, rồi “Cò Luân ơi cho ra bà ẵm”, “Cò Nam ơi ra với mẹ nào”… khiến cho cô giáo trẻ cứ quýnh quáng, tay chân thừa thãi, mặt mày thộn ra chẳng biết cò nào với cò nào. Mấy cô giáo cũ nom thấy cảnh ấy cứ gọi là ôm bụng cười lăn cười bò.

Làng cò trước đây có nghề luyện chó bắt chuột chân truyền. Thủa nhỏ, ông Khoát từng cùng đội thiếu nhi nô nức rủ nhau đi bắt chuột nộp đuôi lấy thưởng trên xã. Trung bình mỗi người mỗi ngày bắt được đến 50 con, giấy khen xếp cả đống. Chuột đồng chặt đuôi xong được các cò đun nước, làm lông trắng phau phau như lợn cạo. Luộc vừa chín tới, chuột được bẻ đôi ra xếp lên tấm ván sạch rồi rắc lá chanh thái chỉ bên trên rồi đặt tấm ván khác có dằn một hòn đá nặng giống như người ta ép bánh trưng vậy. Thịt chuột khô kiệt nước, xé miếng chấm với muối giã nhỏ trộn ớt tươi, mới đưa lên mũi thôi đã như đánh thức từng con tì, con vị, đã làm cho nước trong miệng tứa ra ngập cả răng lẫn lợi.

Hết sinh hoạt trong đội thiếu nhi ông Khoát làm trưởng ban thông tin tuyên truyền xã, suốt ngày vác cái loa bằng ống bầu khô đi đọc nghị quyết, cổ động. Đọc dưới đất chưa thỏa, ông còn leo tuốt lên mấy ngọn đa, ngọn muỗm cao chót vót trong làng mà phát thanh. Sau này làm đến chức Chủ tịch xã rồi xung phong nhập ngũ, giữa lửa khói mù trời của đủ loại bom đạn mà ông vẫn khôn nguôi nhớ mùi khói hun chuột nơi quê nhà, nhớ miếng thịt chuột ép khô thơm lựng mùi lá chanh thái chỉ.

Ngoài món thịt chuột luộc ép lá chanh trứ danh làng cò còn có một món đặc sản nữa gọi là bánh âm, một thứ bánh thường chỉ làm vào dịp Tết. Người ta đốt quả xoan, lá bưởi, vỏ bưởi, rơm nếp ra thành tro rồi đem ngâm tro theo tỷ lệ ba tro, chín nước, một vôi trong suốt một tuần lễ. Lọc nước tro ấy ngâm gạo nếp, lấy gạo nếp no nước gói thành bánh mà luộc.

Cái bánh chỉ to bằng cỡ cái chuôi liềm, đổ màu óng ả như hổ phách với những nhân gạo nẩy hình hạt dền mới gọi là đạt. Bánh âm đem chấm với chè kho thực hợp như cậu với mợ. Sau mấy ngày Tết liên miên cỗ bàn, nhìn thấy miếng thịt, miếng cá đã ngấy ngá đến tận cổ họng mà nhẩn nha nhai miếng bánh âm mới thấy nó mát, nó lành, nó thanh tao làm sao. Bánh âm từng đến tận nước Mỹ trên hành trình du học của cò Khoa tức đứa cháu nội ông Khoát. Khi tôi ra khỏi cửa, thấy tiếng bước chân bà Khoát lịch bịch chạy theo, dúi vào tay mấy cái bánh âm buộc lạt đỏ vẫn còn hôi hổi nóng.

Làng đĩ

Cách Ngô Xuyên một con sông nhỏ tên gọi sông Ghênh chảy từ Thuận Thành (Bắc Ninh) đổ ra dòng Bắc Hưng Hải là thôn Hành Lạc. Cái tên đến lạ, nó như đề cao nỗi sung sướng bản năng ở đời. Thời bốn ông tổ Nguyễn, Vũ, Trần, Ngô đến đây vỡ hoang, lập ấp Hòa Lạc rồi Bình Lạc cuối cùng cải thành Hành Lạc (tục gọi là làng Bến) ngày nay ngoài lệ gọi con trai là cò như ở Ngô Xuyên còn có tục gọi con gái là đĩ.

Vợ ông Ngô Ngọc Xướng đẻ một mạch mấy đứa con là Ca, Dịu, Dàng, Vang, Lừng, Ba trong đó có ba đĩ Dịu, Dàng, Lừng. Người làng gặp ông từ đầu ngõ cứ gọi là liền tắp, cứ xướng một mạch Xướng, Ca, Dịu, Dàng, Vang, Lừng luôn cho nó khoái khẩu, khoái nhĩ. Cả gia đình ông Xướng hiện vẫn tứ đại đồng đường theo lối cổ. Đấy là tên thật, rất ngộ, ở Hành Lạc còn có những gia đình ngoài tên khai sinh còn có tên thường gọi rất vần vè như bà Giành đẻ một mạch “ngũ long công chúa” gồm năm đứa con gái là Giỏ, Cua, Cá, Tôm, Tép.

Ông Giành năm nay đã 55 tuổi nhưng gặp đâu dân làng vẫn gọi là bố đĩ dù cuối cùng vợ ông cũng sinh ra cho dòng họ Ngô một thằng cò chính hiệu. Cái Hường nhà bà giờ đang học thạc sĩ, về làng vẫn thường giật thột mình khi bị người ta bất ngờ réo: “Đĩ Cá đã về rồi à?”.

Kỷ lục nhất ở Hành Lạc là cặp vợ chồng ông Đỗ Đức Bần và bà Nguyễn Thị Sóng khi sở hữu trong tay tới 6 đĩ. Đĩ mẹ Sóng đẻ ra con gái đầu lòng gọi là đĩ nhớn, đứa kế là đĩ bé, đứa tiếp nữa là đĩ cỏn, đứa tiếp nữa nữa là đĩ con. Đến đứa thứ năm thì bà Sóng bí, bí thực sự vì vốn từ vựng tiếng Việt sau từ nhớn chỉ có bé, cỏn, con thôi nên đành gọi là đĩ Lan. Đứa thứ sáu bà gọi luôn là đĩ Út. Út mà chưa chót phận út, về sau khi đã đứng tuổi ông bà cố gắng nhào nặn một lần nữa để cho ra đời cò Công - cái tên gói ghém bao công sức lặn lội của cặp vợ chồng cho đặng nỗi khát khao một thằng chống gậy.

Tiếng là Bần nhưng ông cho xây cái nhà tầng to, cao vào diện nhất nhì làng như minh chứng cho cả đời chắt chiu tần tảo. Hôm tôi đến, sáu đĩ nhà ông bà, đứa đi lấy chồng, đứa đi làm, đứa đi học chỉ nhõn cò Công ở nhà. Mẹ gọi ồi ồi, thằng bé từ trong chăn ló mặt ra nhìn khách lạ rồi lại ngáp một cái rõ to, rúc đầu vào chăn như đà điểu rúc cát, điềm nhiên ngủ tiếp.

Theo Dương Đình Tường - Nông Nghiệp Việt Nam
Du lịch, GO!

Ngôi làng gọi trai là cò, gái là đĩ

(NGVN) - Khi vừa cất tiếng khóc chào đời đến khi tóc trên đầu phơ phơ bạc, thì con trai sẽ được gọi là cò, còn con gái sẽ được gọi là đĩ. Trăm nhà như một, cấm có sai. Tiếng gọi độc đáo ấy chỉ chấm dứt cùng với âm thanh của búa đóng đinh lộp bộp trên nắp cỗ quan tài.

Làng cò

“Cò Ký đã về đấy à? Thế Tết này mày ở quê chơi có được lâu không hả cháu?”. Người đàn ông tóc đã hoa râm xa quê bấy lâu chợt luống cuống khi nghe tiếng gọi thân mật ấy phát ra từ chính miệng bà cô mình. Đối với người đàn bà nông dân này thì thằng cháu (PGS.TS Phạm Văn Ký) tuổi ngót lục tuần, giảng viên một trường đại học danh tiếng tại Hà Nội cũng chỉ là cò Ký ngày nào còn chân đất, đầu trần chơi ô ăn quan, chơi khăng, chơi đáo ở làng mà thôi.

Ở Ngô Xuyên (Văn Lâm, Hưng Yên) khi một đứa trẻ trai mới sinh ra liền được gọi là cò. Vợ ông Phạm Trọng Khoát đẻ ra được một đàn cò gồm cò Ký (tức PGS.TS Phạm Văn Ký), cò Đạt, cò Tâm, cò Trường trong đó người là PGS, người là thạc sĩ, chí ít cũng là kỹ sư.

Con cái xa nhà, phương trưởng cả, thỉnh thoảng bà Khoát lại hỏi chồng: “Ông ơi cò Khoa có gọi điện về không?”. Cò Khoa tức là đứa cháu nội đang học đại học tận bên Mỹ. Cách nửa vòng trái đất mà bà ngỡ như thằng bé vẫn còn ở cái thủa lẫm chẫm tập đi hồi ở làng cò. Những cụ già phơ phơ đầu bạc cũng một mực khẳng định với tôi rằng cái chuyện gọi con trai là cò từ đời cụ kỵ sinh ra đã thấy rồi, không biết do ai đặt. Tuy nhiên cũng có người kể với tôi lệ ấy có cả một gốc tích rễ chuỗi hẳn hoi.

Một gia đình nọ trong thôn đẻ ra đứa con trai đặt tên là cò Cường. Cò Cường lấy vợ đẻ ra cò Tráng. Cò Tráng lập gia thất sinh ra cò Kiện. Thấy hay hay cả thôn liền gọi theo, làng cò hình thành từ bấy.

Không phải ai muốn mở miệng gọi người khác là cò cũng được mà phải ở vai trên hoặc chí ít cũng bằng vai phải lứa. Chuyện rằng một cô mẫu giáo về Ngô Xuyên nhận công tác, đến giờ đón cháu, các bà, các mẹ cứ ời ời gọi: “Cô cho tôi đón cò Dân”, rồi “Cò Luân ơi cho ra bà ẵm”, “Cò Nam ơi ra với mẹ nào”… khiến cho cô giáo trẻ cứ quýnh quáng, tay chân thừa thãi, mặt mày thộn ra chẳng biết cò nào với cò nào. Mấy cô giáo cũ nom thấy cảnh ấy cứ gọi là ôm bụng cười lăn cười bò.

Làng cò trước đây có nghề luyện chó bắt chuột chân truyền. Thủa nhỏ, ông Khoát từng cùng đội thiếu nhi nô nức rủ nhau đi bắt chuột nộp đuôi lấy thưởng trên xã. Trung bình mỗi người mỗi ngày bắt được đến 50 con, giấy khen xếp cả đống. Chuột đồng chặt đuôi xong được các cò đun nước, làm lông trắng phau phau như lợn cạo. Luộc vừa chín tới, chuột được bẻ đôi ra xếp lên tấm ván sạch rồi rắc lá chanh thái chỉ bên trên rồi đặt tấm ván khác có dằn một hòn đá nặng giống như người ta ép bánh trưng vậy. Thịt chuột khô kiệt nước, xé miếng chấm với muối giã nhỏ trộn ớt tươi, mới đưa lên mũi thôi đã như đánh thức từng con tì, con vị, đã làm cho nước trong miệng tứa ra ngập cả răng lẫn lợi.

Hết sinh hoạt trong đội thiếu nhi ông Khoát làm trưởng ban thông tin tuyên truyền xã, suốt ngày vác cái loa bằng ống bầu khô đi đọc nghị quyết, cổ động. Đọc dưới đất chưa thỏa, ông còn leo tuốt lên mấy ngọn đa, ngọn muỗm cao chót vót trong làng mà phát thanh. Sau này làm đến chức Chủ tịch xã rồi xung phong nhập ngũ, giữa lửa khói mù trời của đủ loại bom đạn mà ông vẫn khôn nguôi nhớ mùi khói hun chuột nơi quê nhà, nhớ miếng thịt chuột ép khô thơm lựng mùi lá chanh thái chỉ.

Ngoài món thịt chuột luộc ép lá chanh trứ danh làng cò còn có một món đặc sản nữa gọi là bánh âm, một thứ bánh thường chỉ làm vào dịp Tết. Người ta đốt quả xoan, lá bưởi, vỏ bưởi, rơm nếp ra thành tro rồi đem ngâm tro theo tỷ lệ ba tro, chín nước, một vôi trong suốt một tuần lễ. Lọc nước tro ấy ngâm gạo nếp, lấy gạo nếp no nước gói thành bánh mà luộc.

Cái bánh chỉ to bằng cỡ cái chuôi liềm, đổ màu óng ả như hổ phách với những nhân gạo nẩy hình hạt dền mới gọi là đạt. Bánh âm đem chấm với chè kho thực hợp như cậu với mợ. Sau mấy ngày Tết liên miên cỗ bàn, nhìn thấy miếng thịt, miếng cá đã ngấy ngá đến tận cổ họng mà nhẩn nha nhai miếng bánh âm mới thấy nó mát, nó lành, nó thanh tao làm sao. Bánh âm từng đến tận nước Mỹ trên hành trình du học của cò Khoa tức đứa cháu nội ông Khoát. Khi tôi ra khỏi cửa, thấy tiếng bước chân bà Khoát lịch bịch chạy theo, dúi vào tay mấy cái bánh âm buộc lạt đỏ vẫn còn hôi hổi nóng.

Làng đĩ

Cách Ngô Xuyên một con sông nhỏ tên gọi sông Ghênh chảy từ Thuận Thành (Bắc Ninh) đổ ra dòng Bắc Hưng Hải là thôn Hành Lạc. Cái tên đến lạ, nó như đề cao nỗi sung sướng bản năng ở đời. Thời bốn ông tổ Nguyễn, Vũ, Trần, Ngô đến đây vỡ hoang, lập ấp Hòa Lạc rồi Bình Lạc cuối cùng cải thành Hành Lạc (tục gọi là làng Bến) ngày nay ngoài lệ gọi con trai là cò như ở Ngô Xuyên còn có tục gọi con gái là đĩ.

Vợ ông Ngô Ngọc Xướng đẻ một mạch mấy đứa con là Ca, Dịu, Dàng, Vang, Lừng, Ba trong đó có ba đĩ Dịu, Dàng, Lừng. Người làng gặp ông từ đầu ngõ cứ gọi là liền tắp, cứ xướng một mạch Xướng, Ca, Dịu, Dàng, Vang, Lừng luôn cho nó khoái khẩu, khoái nhĩ. Cả gia đình ông Xướng hiện vẫn tứ đại đồng đường theo lối cổ. Đấy là tên thật, rất ngộ, ở Hành Lạc còn có những gia đình ngoài tên khai sinh còn có tên thường gọi rất vần vè như bà Giành đẻ một mạch “ngũ long công chúa” gồm năm đứa con gái là Giỏ, Cua, Cá, Tôm, Tép.

Ông Giành năm nay đã 55 tuổi nhưng gặp đâu dân làng vẫn gọi là bố đĩ dù cuối cùng vợ ông cũng sinh ra cho dòng họ Ngô một thằng cò chính hiệu. Cái Hường nhà bà giờ đang học thạc sĩ, về làng vẫn thường giật thột mình khi bị người ta bất ngờ réo: “Đĩ Cá đã về rồi à?”.

Kỷ lục nhất ở Hành Lạc là cặp vợ chồng ông Đỗ Đức Bần và bà Nguyễn Thị Sóng khi sở hữu trong tay tới 6 đĩ. Đĩ mẹ Sóng đẻ ra con gái đầu lòng gọi là đĩ nhớn, đứa kế là đĩ bé, đứa tiếp nữa là đĩ cỏn, đứa tiếp nữa nữa là đĩ con. Đến đứa thứ năm thì bà Sóng bí, bí thực sự vì vốn từ vựng tiếng Việt sau từ nhớn chỉ có bé, cỏn, con thôi nên đành gọi là đĩ Lan. Đứa thứ sáu bà gọi luôn là đĩ Út. Út mà chưa chót phận út, về sau khi đã đứng tuổi ông bà cố gắng nhào nặn một lần nữa để cho ra đời cò Công - cái tên gói ghém bao công sức lặn lội của cặp vợ chồng cho đặng nỗi khát khao một thằng chống gậy.

Tiếng là Bần nhưng ông cho xây cái nhà tầng to, cao vào diện nhất nhì làng như minh chứng cho cả đời chắt chiu tần tảo. Hôm tôi đến, sáu đĩ nhà ông bà, đứa đi lấy chồng, đứa đi làm, đứa đi học chỉ nhõn cò Công ở nhà. Mẹ gọi ồi ồi, thằng bé từ trong chăn ló mặt ra nhìn khách lạ rồi lại ngáp một cái rõ to, rúc đầu vào chăn như đà điểu rúc cát, điềm nhiên ngủ tiếp.

Theo Dương Đình Tường - Nông Nghiệp Việt Nam
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Tết phượt lên bản cao mà say nhạc đuống của cô gái Thái, Mường... mà tận hưởng nét văn hóa đặc biệt có ý nghĩa phồn thực sâu xa. Đuống vừa là chiếc cối giã gạo cung cấp lương thực hàng ngày, đuống vừa là nhạc cụ không thể thiếu trong những sự kiện lớn của người Thái như lễ hội mừng xuân, mừng được mùa, mừng nhà mới…

Ở Việt Nam, nhiều dân tộc có đuống, nhưng chiếc đuống dài là đặc trưng của dân tộc Thái, được tạo ra bằng việc khoét thân gỗ tròn thành hình thuyền, dài khoảng 1 - 2m. Ban đầu, đuống chỉ dùng để giã gạo. Theo chuyện được người Thái lưu truyền từ nhiều đời nay, chiếc đuống đã có từ xa xưa, trước cả khi những người đàn ông đi đánh giặc làm đuống để phụ nữ Thái ở nhà có thể giã gạo nuôi gia đình và nuôi quân. Khi đồng bào đánh Tây, chiếc đuống cũng góp phần cung cấp lương thực cho tiền tuyến...

Chiếc đuống dài được chia làm 2 phần, một chiếc cối nhỏ ở phần đầu và một khoang dài phía sau. Ở khoang dài ấy, người ta bỏ bông lúa vào, giã cho ra những hạt lúa, rồi bỏ những hạt lúa ấy lên chiếc cối nhỏ để giã thành gạo. Mỗi chiếc đuống dành cho vài ba người, thậm chí 12 người cùng giã một lúc. Ngày nay chức năng giã gạo bằng đuống đã giảm hẳn, nhưng đuống còn mang một chức năng khác, là nhạc cụ truyền thống của đồng bào dân tộc Thái.

Đuống có thể làm bằng các loại gỗ khác nhau. Nếu làm bằng gỗ phèn, loại gỗ vốn cứng, thì tiếng đuống vọng xa, nghe sẽ rất hay, nhưng ở gần thì nghe tiếng kêu không được dài; nếu làm bằng gỗ lim, thì đuống có tiếng kêu bộp, cốc, nghe thô hơn. Tiếng đuống sẽ hay nhất và vang xa khắp cả một vùng nếu đuống làm bằng gỗ vàng trăng...

Không phải mọi gia đình người Thái đều có đuống, mà phải là gia đình có người chồng siêng năng. Bởi làm đuống mất nhiều công sức và thời gian, từ cây gỗ tròn, phải đẽo gọt tỉ mỉ, lại phải có kỹ thuật đẽo. Nếu đẽo mỏng thì đuống kêu to nhưng sẽ dễ vỡ, đuống dày tùy theo gỗ mà tiếng kêu to hay không, có đuống làm ra không kêu.

Cũng bởi âm thanh phát ra phụ thuộc vào loại gỗ, độ dày mỏng của đuống, nên mỗi đuống có một âm thanh riêng. Ngày nay, do gỗ ngày càng khan hiếm, và đòi hỏi có kỹ thuật, đầu tư nhiều thời gian, nên lớp trẻ hầu như không ai còn biết làm đuống...

Không chỉ là một nhạc cụ, đuống còn là đạo cụ chính trong các sự kiện quan trọng của người Thái. Đánh đuống thường do phụ nữ đảm nhiệm. Trong những dịp lễ tết, mọi người từ già tới trẻ tập hợp quanh chiếc đuống. Người già sẽ cầm chày đánh đuống trước, rồi mới tới người trung tuổi, sau đó tới lớp trẻ. Khi chỉ là tiếng chày giã gạo thì nhịp điệu đơn điệu, khô khan, nhưng khi có khoảng 8 - 10 người đánh, đuống sẽ tạo ra những giai điệu hay, cho ra nhiều bản nhạc khác nhau.

Nhịp đâm đuống được đổi theo “Kênh kình, kênh kình”, “kênh kênh kình, kênh kình”, “kình kình, kình kình”… Tất cả tạo nên bản hòa nhạc bằng cối giã gạo. Thường có 4 giai điệu phổ biến, được đặt theo tên các ngày lễ tết, sự kiện, là: mừng xuân, mừng lúa mới, mừng nhà mới, đám ma. Khi đánh đuống, mỗi người sẽ dùng chày gõ vào đuống theo kiểu khác nhau, người cầm chày giã bên trong đuống, người gõ bên thành ngoài, người giã trước, người giã sau, phối hợp nhịp nhàng để hòa thành một bản nhạc độc đáo.

Học đánh đuống không dễ. Chị Đinh Thị Nguyệt, thành viên Đội cồng chiêng, đánh đuống của người Thái, Nghệ An chia sẻ: “Tôi học tới 4 - 5 năm mới có thể đánh đuống. Khi học, trước hết phải nghe tiếng chày của các chị, các mẹ gõ, xem nhịp phách như thế nào, có bao nhiêu nhịp, bao nhiêu phách. Khi đã nghe được rồi, mới đặt chày xuống gõ xem đã đúng chưa.

Lúc đầu gõ sẽ không đều, cần gõ nhiều mới đúng nhịp. Đặc biệt, trong nhiều kiểu đánh đuống, như gõ đan 3, gõ đan 8, gõ dệt vải, đan khung cửi... thì gõ đan 3 rất khó, phải học nhiều thì mọi người mới có thể gõ hay và đổi vị trí cho nhau”. Bởi vậy, có tới 50% trong số lớp trẻ dân tộc Thái hiện nay không hiểu và không thể đánh đuống, không nghe được giai điệu...

Để giữ gìn tiếng chày khua đuống của người Thái, chị Nguyệt cho biết, một số lớp dạy đánh đuống cho các em nhỏ đã được mở. Đồng thời, Đội cồng chiêng, đánh đuống của người Thái Nghệ An cũng tham dự các sự kiện như Festival Cồng chiêng Quốc tế ở Gia Lai, Kon Tum, Đại hội các dân tộc tỉnh Nghệ An lần thứ nhất, hay trong các chương trình của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam... để quảng bá, giới thiệu loại nhạc cụ độc đáo này tới bạn bè trong nước và quốc tế.

Du lịch, GO!

Lạc vào tiếng đuống

Tết phượt lên bản cao mà say nhạc đuống của cô gái Thái, Mường... mà tận hưởng nét văn hóa đặc biệt có ý nghĩa phồn thực sâu xa. Đuống vừa là chiếc cối giã gạo cung cấp lương thực hàng ngày, đuống vừa là nhạc cụ không thể thiếu trong những sự kiện lớn của người Thái như lễ hội mừng xuân, mừng được mùa, mừng nhà mới…

Ở Việt Nam, nhiều dân tộc có đuống, nhưng chiếc đuống dài là đặc trưng của dân tộc Thái, được tạo ra bằng việc khoét thân gỗ tròn thành hình thuyền, dài khoảng 1 - 2m. Ban đầu, đuống chỉ dùng để giã gạo. Theo chuyện được người Thái lưu truyền từ nhiều đời nay, chiếc đuống đã có từ xa xưa, trước cả khi những người đàn ông đi đánh giặc làm đuống để phụ nữ Thái ở nhà có thể giã gạo nuôi gia đình và nuôi quân. Khi đồng bào đánh Tây, chiếc đuống cũng góp phần cung cấp lương thực cho tiền tuyến...

Chiếc đuống dài được chia làm 2 phần, một chiếc cối nhỏ ở phần đầu và một khoang dài phía sau. Ở khoang dài ấy, người ta bỏ bông lúa vào, giã cho ra những hạt lúa, rồi bỏ những hạt lúa ấy lên chiếc cối nhỏ để giã thành gạo. Mỗi chiếc đuống dành cho vài ba người, thậm chí 12 người cùng giã một lúc. Ngày nay chức năng giã gạo bằng đuống đã giảm hẳn, nhưng đuống còn mang một chức năng khác, là nhạc cụ truyền thống của đồng bào dân tộc Thái.

Đuống có thể làm bằng các loại gỗ khác nhau. Nếu làm bằng gỗ phèn, loại gỗ vốn cứng, thì tiếng đuống vọng xa, nghe sẽ rất hay, nhưng ở gần thì nghe tiếng kêu không được dài; nếu làm bằng gỗ lim, thì đuống có tiếng kêu bộp, cốc, nghe thô hơn. Tiếng đuống sẽ hay nhất và vang xa khắp cả một vùng nếu đuống làm bằng gỗ vàng trăng...

Không phải mọi gia đình người Thái đều có đuống, mà phải là gia đình có người chồng siêng năng. Bởi làm đuống mất nhiều công sức và thời gian, từ cây gỗ tròn, phải đẽo gọt tỉ mỉ, lại phải có kỹ thuật đẽo. Nếu đẽo mỏng thì đuống kêu to nhưng sẽ dễ vỡ, đuống dày tùy theo gỗ mà tiếng kêu to hay không, có đuống làm ra không kêu.

Cũng bởi âm thanh phát ra phụ thuộc vào loại gỗ, độ dày mỏng của đuống, nên mỗi đuống có một âm thanh riêng. Ngày nay, do gỗ ngày càng khan hiếm, và đòi hỏi có kỹ thuật, đầu tư nhiều thời gian, nên lớp trẻ hầu như không ai còn biết làm đuống...

Không chỉ là một nhạc cụ, đuống còn là đạo cụ chính trong các sự kiện quan trọng của người Thái. Đánh đuống thường do phụ nữ đảm nhiệm. Trong những dịp lễ tết, mọi người từ già tới trẻ tập hợp quanh chiếc đuống. Người già sẽ cầm chày đánh đuống trước, rồi mới tới người trung tuổi, sau đó tới lớp trẻ. Khi chỉ là tiếng chày giã gạo thì nhịp điệu đơn điệu, khô khan, nhưng khi có khoảng 8 - 10 người đánh, đuống sẽ tạo ra những giai điệu hay, cho ra nhiều bản nhạc khác nhau.

Nhịp đâm đuống được đổi theo “Kênh kình, kênh kình”, “kênh kênh kình, kênh kình”, “kình kình, kình kình”… Tất cả tạo nên bản hòa nhạc bằng cối giã gạo. Thường có 4 giai điệu phổ biến, được đặt theo tên các ngày lễ tết, sự kiện, là: mừng xuân, mừng lúa mới, mừng nhà mới, đám ma. Khi đánh đuống, mỗi người sẽ dùng chày gõ vào đuống theo kiểu khác nhau, người cầm chày giã bên trong đuống, người gõ bên thành ngoài, người giã trước, người giã sau, phối hợp nhịp nhàng để hòa thành một bản nhạc độc đáo.

Học đánh đuống không dễ. Chị Đinh Thị Nguyệt, thành viên Đội cồng chiêng, đánh đuống của người Thái, Nghệ An chia sẻ: “Tôi học tới 4 - 5 năm mới có thể đánh đuống. Khi học, trước hết phải nghe tiếng chày của các chị, các mẹ gõ, xem nhịp phách như thế nào, có bao nhiêu nhịp, bao nhiêu phách. Khi đã nghe được rồi, mới đặt chày xuống gõ xem đã đúng chưa.

Lúc đầu gõ sẽ không đều, cần gõ nhiều mới đúng nhịp. Đặc biệt, trong nhiều kiểu đánh đuống, như gõ đan 3, gõ đan 8, gõ dệt vải, đan khung cửi... thì gõ đan 3 rất khó, phải học nhiều thì mọi người mới có thể gõ hay và đổi vị trí cho nhau”. Bởi vậy, có tới 50% trong số lớp trẻ dân tộc Thái hiện nay không hiểu và không thể đánh đuống, không nghe được giai điệu...

Để giữ gìn tiếng chày khua đuống của người Thái, chị Nguyệt cho biết, một số lớp dạy đánh đuống cho các em nhỏ đã được mở. Đồng thời, Đội cồng chiêng, đánh đuống của người Thái Nghệ An cũng tham dự các sự kiện như Festival Cồng chiêng Quốc tế ở Gia Lai, Kon Tum, Đại hội các dân tộc tỉnh Nghệ An lần thứ nhất, hay trong các chương trình của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam... để quảng bá, giới thiệu loại nhạc cụ độc đáo này tới bạn bè trong nước và quốc tế.

Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Giữa trời đất bao la núi rừng trùng điệp, người Thái ở Tú Lệ (Văn Chấn - Yên Bái) không kể già, trẻ, nam, nữ: tất cả cứ tự nhiên trút bỏ xiêm y cùng tắm chung bên bờ con suối Nặm Lung như bao đời nay vẫn vậy, nhất là trong ngày đầu năm.

Tú Lệ là một thung lũng nằm giữa ba ngọn núi cao là: Khau Phạ, Khau Thán, Khau Song, đây cũng là nơi cư trú của hơn một ngàn hộ dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái. “Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò”, câu ca ấy đã vượt ra khỏi ranh giới vùng đất đất Yên Bái để đến với người dân các vùng miền trong cả nước và gợi lên sự háo hức trong tâm hồn những kẻ lữ hành.

< Mạch nước ngầm ấm nóng chảy ra suối được người dân ngăn lại, quây bể để làm nơi tắm.

Dân đi bụi, dân phượt ở miền Bắc một thú vui khá kỳ lạ “Đi thăm lúa”. Khắp ở trên mọi nẻo đường của Tây Bắc, Đông Bắc, bất cứ nơi nào có núi, có ruộng bậc thang, có mùa gieo hạt, có tháng lúa xanh, tuần lúa chín, hay ngày cơm mới, là có những bước chân háo hức lên đường.

< Từ 4 giờ chiều người dân Tú Lệ lục tục kéo nhau ra suối Nặm Lung tắm nước nóng.

Cái thú vị đầu tiên đó là vùng đất này không quá xa xôi cách trở, ôtô và xe máy đều có thể đến và đi một cách dễ dàng. Những thung lũng, cánh đồng, biển lúa hầu hết đều nằm hai bên đường của quốc lộ 32 từ Nghĩa Lộ đi Mù Căng Chải. Tú Lệ thích hợp cho một chuyến đi từ 2 - 2,5 ngày cuối tuần, rất dễ thu xếp vào bất kỳ một quãng thời gian nào quanh năm.

< Không kể nam, nữ mọi người tự nhiên trút bỏ xiêm y. Thích thì alo gọi bạn đến tắm chung.

Cái thú vị tiếp theo đó là cảnh sắc mỗi mùa một nét gợi cảm riêng biệt, thú vị và không bao giờ gây nhàm chán. Mùa làm đất thì long lanh sắc nước, bờ be đất nâu một màu trù phú. Mùa gieo mạ, lúa xanh như tấm thảm, xanh từng mảnh rời rạc tạo thành những điểm nhấn ấn tượng.

< Thích thì cứ khỏa trần mà tắm, quần áo cứ bỏ trên thành hồ...

Cái thú vị khác nữa là những món đặc sản không thể bỏ qua cùng phong tục tắm suối khoáng độc đáo của người dân vùng cao, nhất là cữ tắm giũ trần đón năm mới ngay ngày đầu năm trong lúc trời rét căm căm - tắm để ấm và nhận lộc khỏe Trời ban cho cả năm mới.

< ... rồi bước xuống ngâm mình vào làn khoáng nóng mà không ai thắc mắc gì. Chỉ ngại ngần đôi chút khi bị chụp hình, dĩ nhiên rồi.

Nơi có mạch nước ngầm quanh năm ấm nóng nằm bên con suối Nặm Lung hiền hòa, người dân xã Tú Lệ xây hai chiếc bể với diện tích chỉ trên dưới chục mét vuông để làm nơi tắm công cộng.

< Khách ngại hay chưa quen thì cứ mặc đồ lót hay bikini xuống bể khoáng.

Ở đây có một bể tắm rất nóng và một bể tắm ấm. Việc chọn tắm nóng nhiều hay ít là tùy ý mỗi người. Do bể nhỏ nên cứ chiều chiều hàng trăm người dân trong xã lần lượt đến tắm và kéo dài đến nửa đêm.

< Còn các chị lớn tuổi hơn thì rất tự nhiên khỏa trần, xưa nay vẫn thế mà.

Điểm đặc biệt là dù chiếc bể nằm ngay ven suối nhưng chỉ mạch nước trong bể mới nóng. Cũng chẳng biết từ bao giờ người dân nơi đây có thói quen tắm tập thể và khỏa thân khi tắm. Cả trai lẫn gái, bà già , trẻ con, thanh niên nam nữ... cứ mỗi sáng, đặc biệt là buổi chiều sau khi đi làm về đều ra đây nhúng mình trong làn nước ấm hồi phục lại sức khỏe. Họ cứ vô tư thả rông bộ ngực ngoại trừ một vài cô trẻ, nếu e thẹn thì mặc áo lót.

< Nước nóng, lại chứa khoáng làm tỉnh hẳn cả người - lộc năm mới như hội tụ vào cơ thể, phấn chấn hẳn lên.

Về mùa đông, nhất là trong những ngày đầu xuân thì trời lạnh và khô hanh, tắm khoáng nóng thật là lý tưởng. Khi đó, bể tắm chật cứng người và tất nhiên không sạch chút nào. Vậy nhưng điều đó không hề hấn gì: người ta vẫn gội đầu và rửa mặt tại một vũng nước ấm trên cao lạ là nước vẫn rất trong và ấm.

< Do có người chụp ảnh viết bài nên người ta thầm lặng chứ khi cất máy vào túi rồi nhào xuống hồ thì ai nấy lại tíu tít chuyện tết, vui lắm.

< Hết lượt này đến lượt khác, bể tắm đông dần lên khi chiều muộn.

Người tắm xong thay quần áo ra về, lại người khác sẽ đến, rất đông vui. Trước kia người ta đã xây thêm một bể dành riêng cho nam cách xa khoảng 50m, nước chỉ nóng 25 độ nhưng chẳng anh nào muốn tắm ở đấy. Họ cứ ào vô tắm chung với chị em nhưng trong ánh mắt mọi người không ai có ý dung tục cả. Thật là một tập tục , một nét văn hóa rất đặc thù của người Thái ở Tú Lệ

Ngoài những ngày xuân, tắm nước nóng còn là cách thư giãn của người dân Tú Lệ sau một ngày làm việc mệt mỏi đã tồn tại từ nhiều đời nay. Cứ mỗi khi chiều xuống, sau một ngày lao động vất vả thì những cô gái Thái lại kéo nhau xuống dòng suối Tú Lệ hoặc hồ nóng khoáng rồi tự nhiên trút bỏ xiêm y và trở thành những nàng tiên giữa đất trời. À, mà trong những ngày hè nóng nực, các cô gái Thái nơi đây sẽ không tắm khoáng nóng mà tắm khỏa thân trên dòng suối Lừng trong vắt và mát lạnh đấy.

Cũng như mọi năm, những ngày tết Giáp Ngọ này những người con của Tú Lệ ở khắp nơi trở về vui tết cùng bản làng khiến lượng người tắm càng đông đúc hơn.

Bạn chưa biết điều này? Vậy mời bạn năm sau cùng đến Tú Lệ thưởng thức nếp thơm  và tắm khoáng nóng để nhận lộc đầu xuân nhé.

Du lịch, GO! - ảnh Vietnamnet

Kỳ thú Tú Lệ: Thăm ruộng lúa và tắm tiên.

Tết, cùng tắm tiên với người Thái

Giữa trời đất bao la núi rừng trùng điệp, người Thái ở Tú Lệ (Văn Chấn - Yên Bái) không kể già, trẻ, nam, nữ: tất cả cứ tự nhiên trút bỏ xiêm y cùng tắm chung bên bờ con suối Nặm Lung như bao đời nay vẫn vậy, nhất là trong ngày đầu năm.

Tú Lệ là một thung lũng nằm giữa ba ngọn núi cao là: Khau Phạ, Khau Thán, Khau Song, đây cũng là nơi cư trú của hơn một ngàn hộ dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái. “Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò”, câu ca ấy đã vượt ra khỏi ranh giới vùng đất đất Yên Bái để đến với người dân các vùng miền trong cả nước và gợi lên sự háo hức trong tâm hồn những kẻ lữ hành.

< Mạch nước ngầm ấm nóng chảy ra suối được người dân ngăn lại, quây bể để làm nơi tắm.

Dân đi bụi, dân phượt ở miền Bắc một thú vui khá kỳ lạ “Đi thăm lúa”. Khắp ở trên mọi nẻo đường của Tây Bắc, Đông Bắc, bất cứ nơi nào có núi, có ruộng bậc thang, có mùa gieo hạt, có tháng lúa xanh, tuần lúa chín, hay ngày cơm mới, là có những bước chân háo hức lên đường.

< Từ 4 giờ chiều người dân Tú Lệ lục tục kéo nhau ra suối Nặm Lung tắm nước nóng.

Cái thú vị đầu tiên đó là vùng đất này không quá xa xôi cách trở, ôtô và xe máy đều có thể đến và đi một cách dễ dàng. Những thung lũng, cánh đồng, biển lúa hầu hết đều nằm hai bên đường của quốc lộ 32 từ Nghĩa Lộ đi Mù Căng Chải. Tú Lệ thích hợp cho một chuyến đi từ 2 - 2,5 ngày cuối tuần, rất dễ thu xếp vào bất kỳ một quãng thời gian nào quanh năm.

< Không kể nam, nữ mọi người tự nhiên trút bỏ xiêm y. Thích thì alo gọi bạn đến tắm chung.

Cái thú vị tiếp theo đó là cảnh sắc mỗi mùa một nét gợi cảm riêng biệt, thú vị và không bao giờ gây nhàm chán. Mùa làm đất thì long lanh sắc nước, bờ be đất nâu một màu trù phú. Mùa gieo mạ, lúa xanh như tấm thảm, xanh từng mảnh rời rạc tạo thành những điểm nhấn ấn tượng.

< Thích thì cứ khỏa trần mà tắm, quần áo cứ bỏ trên thành hồ...

Cái thú vị khác nữa là những món đặc sản không thể bỏ qua cùng phong tục tắm suối khoáng độc đáo của người dân vùng cao, nhất là cữ tắm giũ trần đón năm mới ngay ngày đầu năm trong lúc trời rét căm căm - tắm để ấm và nhận lộc khỏe Trời ban cho cả năm mới.

< ... rồi bước xuống ngâm mình vào làn khoáng nóng mà không ai thắc mắc gì. Chỉ ngại ngần đôi chút khi bị chụp hình, dĩ nhiên rồi.

Nơi có mạch nước ngầm quanh năm ấm nóng nằm bên con suối Nặm Lung hiền hòa, người dân xã Tú Lệ xây hai chiếc bể với diện tích chỉ trên dưới chục mét vuông để làm nơi tắm công cộng.

< Khách ngại hay chưa quen thì cứ mặc đồ lót hay bikini xuống bể khoáng.

Ở đây có một bể tắm rất nóng và một bể tắm ấm. Việc chọn tắm nóng nhiều hay ít là tùy ý mỗi người. Do bể nhỏ nên cứ chiều chiều hàng trăm người dân trong xã lần lượt đến tắm và kéo dài đến nửa đêm.

< Còn các chị lớn tuổi hơn thì rất tự nhiên khỏa trần, xưa nay vẫn thế mà.

Điểm đặc biệt là dù chiếc bể nằm ngay ven suối nhưng chỉ mạch nước trong bể mới nóng. Cũng chẳng biết từ bao giờ người dân nơi đây có thói quen tắm tập thể và khỏa thân khi tắm. Cả trai lẫn gái, bà già , trẻ con, thanh niên nam nữ... cứ mỗi sáng, đặc biệt là buổi chiều sau khi đi làm về đều ra đây nhúng mình trong làn nước ấm hồi phục lại sức khỏe. Họ cứ vô tư thả rông bộ ngực ngoại trừ một vài cô trẻ, nếu e thẹn thì mặc áo lót.

< Nước nóng, lại chứa khoáng làm tỉnh hẳn cả người - lộc năm mới như hội tụ vào cơ thể, phấn chấn hẳn lên.

Về mùa đông, nhất là trong những ngày đầu xuân thì trời lạnh và khô hanh, tắm khoáng nóng thật là lý tưởng. Khi đó, bể tắm chật cứng người và tất nhiên không sạch chút nào. Vậy nhưng điều đó không hề hấn gì: người ta vẫn gội đầu và rửa mặt tại một vũng nước ấm trên cao lạ là nước vẫn rất trong và ấm.

< Do có người chụp ảnh viết bài nên người ta thầm lặng chứ khi cất máy vào túi rồi nhào xuống hồ thì ai nấy lại tíu tít chuyện tết, vui lắm.

< Hết lượt này đến lượt khác, bể tắm đông dần lên khi chiều muộn.

Người tắm xong thay quần áo ra về, lại người khác sẽ đến, rất đông vui. Trước kia người ta đã xây thêm một bể dành riêng cho nam cách xa khoảng 50m, nước chỉ nóng 25 độ nhưng chẳng anh nào muốn tắm ở đấy. Họ cứ ào vô tắm chung với chị em nhưng trong ánh mắt mọi người không ai có ý dung tục cả. Thật là một tập tục , một nét văn hóa rất đặc thù của người Thái ở Tú Lệ

Ngoài những ngày xuân, tắm nước nóng còn là cách thư giãn của người dân Tú Lệ sau một ngày làm việc mệt mỏi đã tồn tại từ nhiều đời nay. Cứ mỗi khi chiều xuống, sau một ngày lao động vất vả thì những cô gái Thái lại kéo nhau xuống dòng suối Tú Lệ hoặc hồ nóng khoáng rồi tự nhiên trút bỏ xiêm y và trở thành những nàng tiên giữa đất trời. À, mà trong những ngày hè nóng nực, các cô gái Thái nơi đây sẽ không tắm khoáng nóng mà tắm khỏa thân trên dòng suối Lừng trong vắt và mát lạnh đấy.

Cũng như mọi năm, những ngày tết Giáp Ngọ này những người con của Tú Lệ ở khắp nơi trở về vui tết cùng bản làng khiến lượng người tắm càng đông đúc hơn.

Bạn chưa biết điều này? Vậy mời bạn năm sau cùng đến Tú Lệ thưởng thức nếp thơm  và tắm khoáng nóng để nhận lộc đầu xuân nhé.

Du lịch, GO! - ảnh Vietnamnet

Kỳ thú Tú Lệ: Thăm ruộng lúa và tắm tiên.
Đọc thêm..
(VnExpress) - Buổi sáng ngày cuối cùng của năm cũ, khắp mọi nơi trong nhà đều được “niêm phong” giấy đỏ, từ cối xay, cối giã gạo, cái cày, bừa cho đến bàn thờ tổ tiên.

Dân tộc Cao Lan, có tên gọi khác là Sán Chay, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, Hờn Bận… sinh sống nhiều nhất tại Thái Nguyên với số dân hơn 60.000 người, cư trú chủ yếu ở 37 xã thuộc 3 huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên. Tết Nguyên đán của người Cao Lan, Thái Nguyên thường bắt đầu từ 25 tháng Chạp đến hết rằm tháng Giêng. Trong những ngày này, mỗi tối trước khi đi ngủ, gia chủ đều thắp một nén hương thơm lên bàn thờ để mời tổ tiên về ăn tết, đón xuân cùng con cháu.

Ngày 30 Tết là ngày mang ý nghĩa quan trọng và đặc biệt trong tín ngưỡng của người Cao Lan. Vào ngày này, người Cao Lan dậy vào lúc sáng sớm để lau dọn nhà cửa sạch sẽ, sau đó tiến hành “Chí dịt”, tục dán giấy đỏ trong nhà.

Buổi sáng ngày cuối cùng của năm cũ, khắp mọi nơi trong nhà đều được “niêm phong” giấy đỏ. Từ cối xay, cối giã gạo, cuốc, xẻng, con dao, cái cày, cái bừa, cây cối quanh nhà, chuồng trại cho đến bàn thờ tổ tiên, tường, cổng nhà, các cửa ra vào… đều được dán giấy đỏ để các vật này được "nghỉ Tết". Toàn bộ ngôi nhà bỗng trở nên rực rỡ, tràn đầy sinh khí đón năm mới.

Theo quan niệm của người Cao Lan, giấy đỏ là một vật thể hiện điềm may mắn, tượng trưng cho một năm mới tốt lành, nhiều tài lộc sức khỏe, niềm vui trong cuộc sống, mùa màng bội thu, giúp gia chủ xua đuổi tà ma, cây trồng không bị chim, thú, sâu bọ phá hoại.

Chiều 30 Tết, các thành viên trong gia đình tất bật chuẩn bị cho mâm cơm cúng tổ tiên và bữa cơm đoàn tụ ngày tất niên. Tuỳ theo từng dòng họ mà mâm cơm dâng lên tổ tiên ngày 30 Tết cũng có những khác biệt lớn. Những con vật linh, được xem là thuỷ tổ của dòng họ nào thì dòng họ ấy không ăn thịt mà chỉ thờ cúng. Ví dụ họ La kiêng cá quả, họ Lục, họ Lý, họ Trần kiêng thịt chó, họ Dương kiêng gà…

Người Cao Lan thường tự làm các loại bánh để ăn tết như bánh vắt vai, bánh chưng, bánh chim gâu, bánh mật, bánh gai, bánh rán, chè lam... Bánh chưng của người Cao Lan có hai loại là bánh chưng bố tròn to và bánh trưng mẹ tròn dài. Ngoài ra, người Cao Lan còn tự làm bún ăn tết. Do được làm hoàn toàn thủ công nên bún của người Cao Lan rất thơm ngon, mềm và dai.

Trong lễ hội đầu năm mới của người Cao Lan, bên cạnh các trò chơi dân gian như kéo co, đẩy gậy, ném còn, trồng cây chuối, vặt rau cải, múa điệu chim gâu, xúc tép, khai xuân, biểu diễn trống sành... thì không thể thiếu làn điệu Sình ca, lối hát đối đáp giữa thanh niên nam nữ, được sáng tác theo thể thơ tứ tuyệt, ghi chép bằng chữ Hán.

Theo truyền thuyết của người Cao Lan, tác giả của bài Sình ca là nàng Lưu Ba, cô gái đẹp đã đặt lời cho các điệu hát và nàng đã hát suốt 13 ngày đêm không ăn không ngủ rồi chết. Tiếng hát ấy chứng tỏ sức sống tiềm tàng và tình yêu trong sáng, bình dị của người Cao Lan. Ngày xuân, nam thanh nữ tú hát Sình giao duyên với nhau để tìm bạn đời, các cụ ông cụ bà say sưa hát những điệu Sình cổ để thể hiện niềm vui sống.

Những nghi lễ dân gian đặc sắc của người Cao Lan với nhiều nét đẹp mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc và những giá trị tinh thần to lớn đã góp thêm những bông hoa đẹp vào rừng hoa đa sắc màu của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trên khắp dải đất hình chữ S.

Theo Lê Thương (VnExpress)
Du lịch, GO!

Tết của người Cao Lan

(VnExpress) - Buổi sáng ngày cuối cùng của năm cũ, khắp mọi nơi trong nhà đều được “niêm phong” giấy đỏ, từ cối xay, cối giã gạo, cái cày, bừa cho đến bàn thờ tổ tiên.

Dân tộc Cao Lan, có tên gọi khác là Sán Chay, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, Hờn Bận… sinh sống nhiều nhất tại Thái Nguyên với số dân hơn 60.000 người, cư trú chủ yếu ở 37 xã thuộc 3 huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên. Tết Nguyên đán của người Cao Lan, Thái Nguyên thường bắt đầu từ 25 tháng Chạp đến hết rằm tháng Giêng. Trong những ngày này, mỗi tối trước khi đi ngủ, gia chủ đều thắp một nén hương thơm lên bàn thờ để mời tổ tiên về ăn tết, đón xuân cùng con cháu.

Ngày 30 Tết là ngày mang ý nghĩa quan trọng và đặc biệt trong tín ngưỡng của người Cao Lan. Vào ngày này, người Cao Lan dậy vào lúc sáng sớm để lau dọn nhà cửa sạch sẽ, sau đó tiến hành “Chí dịt”, tục dán giấy đỏ trong nhà.

Buổi sáng ngày cuối cùng của năm cũ, khắp mọi nơi trong nhà đều được “niêm phong” giấy đỏ. Từ cối xay, cối giã gạo, cuốc, xẻng, con dao, cái cày, cái bừa, cây cối quanh nhà, chuồng trại cho đến bàn thờ tổ tiên, tường, cổng nhà, các cửa ra vào… đều được dán giấy đỏ để các vật này được "nghỉ Tết". Toàn bộ ngôi nhà bỗng trở nên rực rỡ, tràn đầy sinh khí đón năm mới.

Theo quan niệm của người Cao Lan, giấy đỏ là một vật thể hiện điềm may mắn, tượng trưng cho một năm mới tốt lành, nhiều tài lộc sức khỏe, niềm vui trong cuộc sống, mùa màng bội thu, giúp gia chủ xua đuổi tà ma, cây trồng không bị chim, thú, sâu bọ phá hoại.

Chiều 30 Tết, các thành viên trong gia đình tất bật chuẩn bị cho mâm cơm cúng tổ tiên và bữa cơm đoàn tụ ngày tất niên. Tuỳ theo từng dòng họ mà mâm cơm dâng lên tổ tiên ngày 30 Tết cũng có những khác biệt lớn. Những con vật linh, được xem là thuỷ tổ của dòng họ nào thì dòng họ ấy không ăn thịt mà chỉ thờ cúng. Ví dụ họ La kiêng cá quả, họ Lục, họ Lý, họ Trần kiêng thịt chó, họ Dương kiêng gà…

Người Cao Lan thường tự làm các loại bánh để ăn tết như bánh vắt vai, bánh chưng, bánh chim gâu, bánh mật, bánh gai, bánh rán, chè lam... Bánh chưng của người Cao Lan có hai loại là bánh chưng bố tròn to và bánh trưng mẹ tròn dài. Ngoài ra, người Cao Lan còn tự làm bún ăn tết. Do được làm hoàn toàn thủ công nên bún của người Cao Lan rất thơm ngon, mềm và dai.

Trong lễ hội đầu năm mới của người Cao Lan, bên cạnh các trò chơi dân gian như kéo co, đẩy gậy, ném còn, trồng cây chuối, vặt rau cải, múa điệu chim gâu, xúc tép, khai xuân, biểu diễn trống sành... thì không thể thiếu làn điệu Sình ca, lối hát đối đáp giữa thanh niên nam nữ, được sáng tác theo thể thơ tứ tuyệt, ghi chép bằng chữ Hán.

Theo truyền thuyết của người Cao Lan, tác giả của bài Sình ca là nàng Lưu Ba, cô gái đẹp đã đặt lời cho các điệu hát và nàng đã hát suốt 13 ngày đêm không ăn không ngủ rồi chết. Tiếng hát ấy chứng tỏ sức sống tiềm tàng và tình yêu trong sáng, bình dị của người Cao Lan. Ngày xuân, nam thanh nữ tú hát Sình giao duyên với nhau để tìm bạn đời, các cụ ông cụ bà say sưa hát những điệu Sình cổ để thể hiện niềm vui sống.

Những nghi lễ dân gian đặc sắc của người Cao Lan với nhiều nét đẹp mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc và những giá trị tinh thần to lớn đã góp thêm những bông hoa đẹp vào rừng hoa đa sắc màu của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trên khắp dải đất hình chữ S.

Theo Lê Thương (VnExpress)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Những bộ váy áo cầu kỳ với màu sắc rực rỡ của các cô gái người Mông ẩn hiện trong những rừng mận hay những đồi chè tạo nên một không gian tuyệt đẹp đặc trưng của vùng cao, sẽ khiến bạn mê mẩn không muốn rời.

Tết là dịp mà các bản làng người Mông sôi động nhất, khi mọi người mặc quần áo mới nô nức chơi tết, gặp gỡ giao lưu và chơi các trò chơi cổ truyền như đánh quay, ném còn hay có cả các trò chơi hiện đại như đá bóng, bóng chuyền. Theo phong tục người Mông, ngày mùng Một chỉ đi chúc Tết, uống rượu và đặc biệt kiêng kỵ việc tiêu tiền.

< Các cô gái say sưa chơi ném còn.

Khác với người Mông ở một số vùng như Lào Cai, hay Hà Giang thường ăn tết cùng với Tết Nguyên đán của người Kinh thì người Mông  ở Mộc Châu vẫn ăn tết theo lịch của người Mông. Tết này thường diễn ra vào đầu tháng Chạp âm lịch, khi những vườn mận bắt đầu chuẩn bị nở rực các sườn đồi. Tết người Mông có 3 ngày chính nhưng có tới 15 ngày để mọi người vui chơi.

< Các cô bé, cậu bé đi chơi tết trong những bộ quần áo mới rực rỡ đủ màu sắc.

Người Mông chuẩn bị ngày Tết rất chu đáo. Mỗi người mỗi việc, đàn bà miệt mài hoàn thiện đường thêu, nút chỉ trên bộ váy áo mới để cho người lớn, trẻ con diện Tết. Đàn ông tất bật đi mua sắm đồ hay thịt lợn gà làm bữa cơm thịnh soạn cho gia đình.

< Còn các cậu bé thì say sưa với trò đánh quay. Một trò chơi rất được yêu thích ở vùng cao.

Nếu như với người Kinh ở miền xuôi, mâm cỗ Tết không thể thiếu bánh chưng, bánh tét thì Tết người Mông phải có bánh dày để cúng tổ tiên và trời đất.

< Những cô gái Mông xinh đẹp diện những bộ váy tuyệt đẹp được thiết kế với nhiều chi tiết cầu kỳ.

Người Mông quan niệm, bánh dày tròn tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời - là nguồn gốc sinh ra con người và vạn vật trên mặt đất. Do đó, giã bánh dày là việc làm không thể thiếu trong ngày Tết nơi đây.

Gạo nếp nương thơm ngâm và đồ thành xôi đổ vào một máng gỗ, các chàng trai sức vóc khỏe mạnh dùng chày thay nhau giã đến khi thật nhuyễn và mịn, rồi gói lại bằng lá chuối. 6 cặp bánh đầu tiên gồm 12 chiếc tượng trưng cho 12 tháng trong một năm được dâng lên trời đất và vị thần mùa màng. Những chiếc bánh còn lại xếp vào hũ gỗ pơ mu đậy kín lại để ăn và thết đãi khách quý.

Người Mông không đón giao thừa mà quan niệm tiếng gà gáy đầu tiên của sáng sớm mùng một mới là cái mốc đánh dấu bắt đầu một năm mới. Vào ngày này, đàn ông dậy làm hết mọi việc thay phụ nữ, từ cho lợn gà ăn đến nấu cơm… Người Mông quan niệm, con trai là trụ của gia đình nên tất cả mọi việc trong gia đình phải chịu trách nhiệm để giữ được truyền thống cho cả năm.

Trong 3 ngày Tết, người Mông có tục dán giấy lên các công cụ lao động hàng ngày và đưa lên bàn thờ như một sự tri ân những "người bạn" trong lao động, sản xuất. Sau đó, họ đến nhà nhau chúc Tết, thưởng thức rượu ngô, bánh dày. Họ kiêng thổi lửa, kiêng gọi phụ nữ dậy sớm, kiêng tiêu tiền, cho ai hoặc xin ai bất kỳ cái gì, không hót rác, không ăn cơm chan trong những ngày Tết.

Từ ngày Mùng 4, người Mông mới bắt đầu chơi Tết. Những bộ váy, áo đẹp nhất sẽ trưng diện trong dịp này. Bởi vậy, nổi bật trong sắc màu e ấp của hoa mơ, hoa mận và sắc hồng của hoa đào là gam màu rực rỡ của những chiếc váy tung xòe trên cánh đồng cải trắng ngút ngàn, là tiếng leng keng đồng bạc hoa theo bước chân thiếu nữ đi chơi xuân...

Người Mông rất hiếu khách, khách tới chơi Tết sẽ được chủ nhà nhiệt tình mời những chén rượu rất vui vẻ. Trong hơi men của rượu ngô, đắm chìm trong không gian rực rỡ sắc màu, với tiếng trẻ con nô đùa, tiếng cười nói khúc khích của các cô gái Mông xinh đẹp, hay tiếng sáo của các chàng trai bạn sẽ thấy chếnh choáng với cái men say núi rừng không thể nào quên.

Du lịch, GO! - ảnh Meogia

Tết người Mông rực rỡ sắc màu

Những bộ váy áo cầu kỳ với màu sắc rực rỡ của các cô gái người Mông ẩn hiện trong những rừng mận hay những đồi chè tạo nên một không gian tuyệt đẹp đặc trưng của vùng cao, sẽ khiến bạn mê mẩn không muốn rời.

Tết là dịp mà các bản làng người Mông sôi động nhất, khi mọi người mặc quần áo mới nô nức chơi tết, gặp gỡ giao lưu và chơi các trò chơi cổ truyền như đánh quay, ném còn hay có cả các trò chơi hiện đại như đá bóng, bóng chuyền. Theo phong tục người Mông, ngày mùng Một chỉ đi chúc Tết, uống rượu và đặc biệt kiêng kỵ việc tiêu tiền.

< Các cô gái say sưa chơi ném còn.

Khác với người Mông ở một số vùng như Lào Cai, hay Hà Giang thường ăn tết cùng với Tết Nguyên đán của người Kinh thì người Mông  ở Mộc Châu vẫn ăn tết theo lịch của người Mông. Tết này thường diễn ra vào đầu tháng Chạp âm lịch, khi những vườn mận bắt đầu chuẩn bị nở rực các sườn đồi. Tết người Mông có 3 ngày chính nhưng có tới 15 ngày để mọi người vui chơi.

< Các cô bé, cậu bé đi chơi tết trong những bộ quần áo mới rực rỡ đủ màu sắc.

Người Mông chuẩn bị ngày Tết rất chu đáo. Mỗi người mỗi việc, đàn bà miệt mài hoàn thiện đường thêu, nút chỉ trên bộ váy áo mới để cho người lớn, trẻ con diện Tết. Đàn ông tất bật đi mua sắm đồ hay thịt lợn gà làm bữa cơm thịnh soạn cho gia đình.

< Còn các cậu bé thì say sưa với trò đánh quay. Một trò chơi rất được yêu thích ở vùng cao.

Nếu như với người Kinh ở miền xuôi, mâm cỗ Tết không thể thiếu bánh chưng, bánh tét thì Tết người Mông phải có bánh dày để cúng tổ tiên và trời đất.

< Những cô gái Mông xinh đẹp diện những bộ váy tuyệt đẹp được thiết kế với nhiều chi tiết cầu kỳ.

Người Mông quan niệm, bánh dày tròn tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời - là nguồn gốc sinh ra con người và vạn vật trên mặt đất. Do đó, giã bánh dày là việc làm không thể thiếu trong ngày Tết nơi đây.

Gạo nếp nương thơm ngâm và đồ thành xôi đổ vào một máng gỗ, các chàng trai sức vóc khỏe mạnh dùng chày thay nhau giã đến khi thật nhuyễn và mịn, rồi gói lại bằng lá chuối. 6 cặp bánh đầu tiên gồm 12 chiếc tượng trưng cho 12 tháng trong một năm được dâng lên trời đất và vị thần mùa màng. Những chiếc bánh còn lại xếp vào hũ gỗ pơ mu đậy kín lại để ăn và thết đãi khách quý.

Người Mông không đón giao thừa mà quan niệm tiếng gà gáy đầu tiên của sáng sớm mùng một mới là cái mốc đánh dấu bắt đầu một năm mới. Vào ngày này, đàn ông dậy làm hết mọi việc thay phụ nữ, từ cho lợn gà ăn đến nấu cơm… Người Mông quan niệm, con trai là trụ của gia đình nên tất cả mọi việc trong gia đình phải chịu trách nhiệm để giữ được truyền thống cho cả năm.

Trong 3 ngày Tết, người Mông có tục dán giấy lên các công cụ lao động hàng ngày và đưa lên bàn thờ như một sự tri ân những "người bạn" trong lao động, sản xuất. Sau đó, họ đến nhà nhau chúc Tết, thưởng thức rượu ngô, bánh dày. Họ kiêng thổi lửa, kiêng gọi phụ nữ dậy sớm, kiêng tiêu tiền, cho ai hoặc xin ai bất kỳ cái gì, không hót rác, không ăn cơm chan trong những ngày Tết.

Từ ngày Mùng 4, người Mông mới bắt đầu chơi Tết. Những bộ váy, áo đẹp nhất sẽ trưng diện trong dịp này. Bởi vậy, nổi bật trong sắc màu e ấp của hoa mơ, hoa mận và sắc hồng của hoa đào là gam màu rực rỡ của những chiếc váy tung xòe trên cánh đồng cải trắng ngút ngàn, là tiếng leng keng đồng bạc hoa theo bước chân thiếu nữ đi chơi xuân...

Người Mông rất hiếu khách, khách tới chơi Tết sẽ được chủ nhà nhiệt tình mời những chén rượu rất vui vẻ. Trong hơi men của rượu ngô, đắm chìm trong không gian rực rỡ sắc màu, với tiếng trẻ con nô đùa, tiếng cười nói khúc khích của các cô gái Mông xinh đẹp, hay tiếng sáo của các chàng trai bạn sẽ thấy chếnh choáng với cái men say núi rừng không thể nào quên.

Du lịch, GO! - ảnh Meogia
Đọc thêm..