(DVO) - Đối với đồng bào Bh’noong, xã Phước Xuân, từ lâu thác Nước bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đại ngàn chảy vào sông Cái đã được người dân địa phương đặt tên là Thác Nước* và được mệnh danh là tuyệt tác của thiên đường.

Thác Nước nằm trên cung đường Hồ Chí Minh (QL14) thuộc địa phận xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn(Quảng Nam), cách thị trấn Khâm Đức(huyện Phước Sơn) khoảng 13 km về hướng Đông Bắc. Ẩn hiện giữa một khu rừng tự nhiên về phía Nam của dãy Trường Sơn, thác Nước còn giữ được nguyên vẹn vẻ hoang sơ, quyến rũ…

< Cột km ghi: Ngọc Hồi 130km, bên cạnh là bảng 'Khu du lịch thác nước Thanh Nhàn - cách 200m". Thác Bà hoàng Mô Ních đây, giờ Cty Thanh Nhàn đầu tư vào nên 'rốp' luôn tên.

Nằm giữa một khu rừng, thác Nước đổ xuống như một dải lụa trắng giữa những thảm xanh. Khi chỉ còn cách thác chừng 50m là đã nghe tiếng nước đổ như một bản nhạc trữ tình êm ái. Càng tiến lại gần càng cảm nhận được vẻ hoang sơ của nó.

Đồng bào dân tộc bản địa Bh’noong sinh sống trên vùng đất này từ lâu đã xem thác Nước là biểu tượng của sự bất khuất, là sức mạnh của người dân miền sơn cước. Theo tiếng Bh’noong, thác Nước có nghĩa là hồn núi.

Bao bọc lấy thác Nước, ngoài rừng tự nhiên còn có một quần thể thực vật phong phú, kèm theo đó là rất nhiều loại hoa rừng, tất cả đều đẹp và cuốn hút như tranh vẽ.

Đến thăm thác Nước, khung cảnh hiện ra trước mắt bạn là dòng nước xõa mái tóc trắng xóa ngày đêm tuôn trào những dòng nước trong xanh và mát lạnh. Thác Nước sừng sững giữa mênh mang núi rừng. Những bọt nước trắng xóa tung đều va vào đá tạo nên những giai điệu khác nhau cho một trường ca giữa đại ngàn Trường Sơn.

Dòng nước từ trên cao dốc thẳng xuống thăm thẳm du khách không chỉ chiêm ngưỡng sự hùng vĩ của dòng thác mà còn có thể bổ sung kiến thức về những loài thực vật nơi đây.

Sau khi ngước mắt đắm đuối ngắm độ cao của thác, du khách có thể hạ tầm nhìn xuống phía chân thác cạnh hồ có những tảng đá lớn trông như tấm phản. Qua sự bào mòn của nước và thời gian bề mặt những tảng đá trở nên bằng phẳng như một bàn cờ khổng lồ. Du khách có thể vừa ngồi nghỉ chân vừa ngắm thác.

Vài năm trở lại đây, thác Nước đã được huyện Phước Sơn(tỉnh Quảng Nam) quy hoạch thành một khu du lịch sinh thái tổng hợp nên trong hành trình của những chuyến xe Bắc Nam dọc trên cung đường Hồ Chí Minh qua địa phận huyện Phước Sơn hoặc các tuyến du lịch khác.

Đây là đoạn đường để lại dấu ấn nhiều nhất nơi du khách trong hành trình chinh phục Bến Giằng(trung tâm hành chính huyện Nam Giang) và làng Rô(xã Cà Dy, huyện Nam Giang)-nơi đã từng được bà con Cơtu đùm bọc che chở cho đồng chí Tố Hữu và Huỳnh Ngọc Huệ khi vượt ngục Đăkglây. Khi đến đây, mọi người đều xem thác Nước là điểm dừng chân lý tưởng.

Sau khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thác Nước, du khách có thể ra các quầy hàng bán đồ thổ cẩm, các vật lưu niệm như túi thổ cẩm…Thỏa sức ngắm nghía và mua sắm các món quà lưu niệm. Tại đây bạn có thể thưởng thức sự hấp dẫn của món rau dớn với nhiều kiểu chế biến như: rau dớn xào tỏi, rau dớn luột. Đặc biệt, ở đây có cá Chiêng – một loài cá nước ngọt sống ở dòng con sông Cái được chế biến với nhiều món ăn hấp dẫn như: cá Chiêng um chuối, lẫu cá Chiêng…đi kèm với rượu tà vạt, tr’đin của đồng bào thì thú gì bằng.

Núi cao, những khu rừng nhấp nhô với các thảm thực vật đa sắc màu, góp phần tạo nên phong cảnh đẹp lạ lùng và cũng thật hiếm có của mảnh đất Phước Sơn mà từ bao đời nay tổ tiên người Bh’noong để lại và trong tương lai thác Nước thác sẽ trở thành điểm dừng chân lý tưởng lôi cuốn du khách trên chặng đường khám phá đại ngàn Trường Sơn.

* Còn gọi là Thác Nước Thanh Nhàn hay thác Bà Hoàng Mô Ních.

Theo Nguyễn Văn Sơn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!

Khâm Đức: tiến về phía trước.

Khám phá Thác Nước nơi đại ngàn

(DVO) - Đối với đồng bào Bh’noong, xã Phước Xuân, từ lâu thác Nước bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đại ngàn chảy vào sông Cái đã được người dân địa phương đặt tên là Thác Nước* và được mệnh danh là tuyệt tác của thiên đường.

Thác Nước nằm trên cung đường Hồ Chí Minh (QL14) thuộc địa phận xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn(Quảng Nam), cách thị trấn Khâm Đức(huyện Phước Sơn) khoảng 13 km về hướng Đông Bắc. Ẩn hiện giữa một khu rừng tự nhiên về phía Nam của dãy Trường Sơn, thác Nước còn giữ được nguyên vẹn vẻ hoang sơ, quyến rũ…

< Cột km ghi: Ngọc Hồi 130km, bên cạnh là bảng 'Khu du lịch thác nước Thanh Nhàn - cách 200m". Thác Bà hoàng Mô Ních đây, giờ Cty Thanh Nhàn đầu tư vào nên 'rốp' luôn tên.

Nằm giữa một khu rừng, thác Nước đổ xuống như một dải lụa trắng giữa những thảm xanh. Khi chỉ còn cách thác chừng 50m là đã nghe tiếng nước đổ như một bản nhạc trữ tình êm ái. Càng tiến lại gần càng cảm nhận được vẻ hoang sơ của nó.

Đồng bào dân tộc bản địa Bh’noong sinh sống trên vùng đất này từ lâu đã xem thác Nước là biểu tượng của sự bất khuất, là sức mạnh của người dân miền sơn cước. Theo tiếng Bh’noong, thác Nước có nghĩa là hồn núi.

Bao bọc lấy thác Nước, ngoài rừng tự nhiên còn có một quần thể thực vật phong phú, kèm theo đó là rất nhiều loại hoa rừng, tất cả đều đẹp và cuốn hút như tranh vẽ.

Đến thăm thác Nước, khung cảnh hiện ra trước mắt bạn là dòng nước xõa mái tóc trắng xóa ngày đêm tuôn trào những dòng nước trong xanh và mát lạnh. Thác Nước sừng sững giữa mênh mang núi rừng. Những bọt nước trắng xóa tung đều va vào đá tạo nên những giai điệu khác nhau cho một trường ca giữa đại ngàn Trường Sơn.

Dòng nước từ trên cao dốc thẳng xuống thăm thẳm du khách không chỉ chiêm ngưỡng sự hùng vĩ của dòng thác mà còn có thể bổ sung kiến thức về những loài thực vật nơi đây.

Sau khi ngước mắt đắm đuối ngắm độ cao của thác, du khách có thể hạ tầm nhìn xuống phía chân thác cạnh hồ có những tảng đá lớn trông như tấm phản. Qua sự bào mòn của nước và thời gian bề mặt những tảng đá trở nên bằng phẳng như một bàn cờ khổng lồ. Du khách có thể vừa ngồi nghỉ chân vừa ngắm thác.

Vài năm trở lại đây, thác Nước đã được huyện Phước Sơn(tỉnh Quảng Nam) quy hoạch thành một khu du lịch sinh thái tổng hợp nên trong hành trình của những chuyến xe Bắc Nam dọc trên cung đường Hồ Chí Minh qua địa phận huyện Phước Sơn hoặc các tuyến du lịch khác.

Đây là đoạn đường để lại dấu ấn nhiều nhất nơi du khách trong hành trình chinh phục Bến Giằng(trung tâm hành chính huyện Nam Giang) và làng Rô(xã Cà Dy, huyện Nam Giang)-nơi đã từng được bà con Cơtu đùm bọc che chở cho đồng chí Tố Hữu và Huỳnh Ngọc Huệ khi vượt ngục Đăkglây. Khi đến đây, mọi người đều xem thác Nước là điểm dừng chân lý tưởng.

Sau khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thác Nước, du khách có thể ra các quầy hàng bán đồ thổ cẩm, các vật lưu niệm như túi thổ cẩm…Thỏa sức ngắm nghía và mua sắm các món quà lưu niệm. Tại đây bạn có thể thưởng thức sự hấp dẫn của món rau dớn với nhiều kiểu chế biến như: rau dớn xào tỏi, rau dớn luột. Đặc biệt, ở đây có cá Chiêng – một loài cá nước ngọt sống ở dòng con sông Cái được chế biến với nhiều món ăn hấp dẫn như: cá Chiêng um chuối, lẫu cá Chiêng…đi kèm với rượu tà vạt, tr’đin của đồng bào thì thú gì bằng.

Núi cao, những khu rừng nhấp nhô với các thảm thực vật đa sắc màu, góp phần tạo nên phong cảnh đẹp lạ lùng và cũng thật hiếm có của mảnh đất Phước Sơn mà từ bao đời nay tổ tiên người Bh’noong để lại và trong tương lai thác Nước thác sẽ trở thành điểm dừng chân lý tưởng lôi cuốn du khách trên chặng đường khám phá đại ngàn Trường Sơn.

* Còn gọi là Thác Nước Thanh Nhàn hay thác Bà Hoàng Mô Ních.

Theo Nguyễn Văn Sơn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!

Khâm Đức: tiến về phía trước.
Đọc thêm..
(TBKTSG) - Suối Đá Giăng nằm cách trung tâm TP. Nha Trang (Khánh Hòa) 35 km về phía tây nam, kề bên đường lên đỉnh Hòn Bà, một di tích của bác sĩ Yersin thuộc huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

Từ Cam Ranh ra hoặc Nha Trang vào đến Suối Dầu rẽ về hướng tây và đi men theo dòng suối bên trái khoảng 15 km thì đến, đường rộng, ô tô hoặc xe máy đều đến tận nơi.

Dòng suối này xuất phát từ vùng núi Hòn Bà; ở độ cao 300 mét (so với mực nước biển) hai dòng suối Đá Hàn và suối Cá nhập lại đổ ra hướng đông.

Cũng dòng suối đó, đoạn lòng suối trải rộng với những bãi đá nằm giăng ngang, trải dọc này được gọi là suối Đá Giăng, đoạn dưới hẹp, hai bờ phủ đầy lau lách được gọi tên suối Lau và đoạn cuối ra gần quốc lộ 1 thì mang tên suối Dầu. Càng đi ngược lên thượng nguồn, dòng nước càng chảy xiết, nhiều đoạn tạo thành những thác nước nhỏ, trắng xóa.

Suối Đá Giăng uốn lượn theo triền núi có con đường được bác sĩ Yersin mở để lên đỉnh Hòn Bà từ hàng trăm năm trước. Dòng nước chia thành nhiều nhánh len lỏi giữa những dải đá lô nhô, đủ hình dạng và kích cỡ, nằm khoe mình rải rác giữa dòng suối.

Bên dưới đoạn suối này có khu du lịch nằm ở thôn Suối Lau được đặt tên Thạch Lâm, hầu hết du khách chỉ biết đến đó (qua thông tin quảng cáo và các hãng lữ hành)mà không biết thêm những vị trí dã ngoại và hưởng thú vui giữa thiên nhiên non nước.

Đến đây, ngoài tận hưởng không khí trong lành, vui đùa thỏa thích với dòng suối thiên nhiên, du khách thường đem theo các loại thức ăn nấu sẵn, bày ra dưới bóng cây ven bờ quây quần bè bạn, gia đình...

Ở suối Đá Giăng có nhiều phiến đá dốc và trơn nên các bạn trẻ ưa mạo hiểm thường chơi trò trượt thác. Từng nhóm có thể để mặc cho dòng nước đẩy xuống hốc nước nhỏ bên dưới phủ đầy rêu nhưng địa thế khiến lực nước tự nhiên hãm lại nên người trượt không bao giờ bị va vào vách đá.

Thưởng ngoạn Đá Giăng

Những ghềnh đá chìm tạo nên thác nước nhỏ cũng khiến cho người bơi dọc suối có cảm giác mạnh nhưng rất an toàn.

Đặc biệt, do có nhiều dòng chảy len giữa những tảng đá nên nơi các dòng nước giao nhau tạo trông như xoáy nước, thoạt nhìn tưởng nguy hiểm như các hố xoáy ở sông, biển có đáy cát nhưng ở đây nước cạn và rất an toàn; trái lại lội vào những chỗ như thế, người tắm có cảm giác nước massge toàn thân, rất sảng khoái.

Trẻ em tắm ở suối Đá Giăng rất an toàn; tất nhiên, cũng cần phải có người lớn để mắt theo dõi và nhắc nhở.

Vào những ngày nghỉ, ngày hè, các gia đình ở Nha Trang, Diên Khánh thường vào chơi suối Đá Giăng. Tuy nhiên, có một hình ảnh không hay là nhóm thanh niên ở nơi khác đến (có thể chỉ ở gần đó) đem theo dụng cụ xuyệt điện (dùng bình ắc quy) đánh bắt cá suối.

Theo The Saigontimes
Du lịch, GO!

Chơi suối Đá Giăng

(TBKTSG) - Suối Đá Giăng nằm cách trung tâm TP. Nha Trang (Khánh Hòa) 35 km về phía tây nam, kề bên đường lên đỉnh Hòn Bà, một di tích của bác sĩ Yersin thuộc huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

Từ Cam Ranh ra hoặc Nha Trang vào đến Suối Dầu rẽ về hướng tây và đi men theo dòng suối bên trái khoảng 15 km thì đến, đường rộng, ô tô hoặc xe máy đều đến tận nơi.

Dòng suối này xuất phát từ vùng núi Hòn Bà; ở độ cao 300 mét (so với mực nước biển) hai dòng suối Đá Hàn và suối Cá nhập lại đổ ra hướng đông.

Cũng dòng suối đó, đoạn lòng suối trải rộng với những bãi đá nằm giăng ngang, trải dọc này được gọi là suối Đá Giăng, đoạn dưới hẹp, hai bờ phủ đầy lau lách được gọi tên suối Lau và đoạn cuối ra gần quốc lộ 1 thì mang tên suối Dầu. Càng đi ngược lên thượng nguồn, dòng nước càng chảy xiết, nhiều đoạn tạo thành những thác nước nhỏ, trắng xóa.

Suối Đá Giăng uốn lượn theo triền núi có con đường được bác sĩ Yersin mở để lên đỉnh Hòn Bà từ hàng trăm năm trước. Dòng nước chia thành nhiều nhánh len lỏi giữa những dải đá lô nhô, đủ hình dạng và kích cỡ, nằm khoe mình rải rác giữa dòng suối.

Bên dưới đoạn suối này có khu du lịch nằm ở thôn Suối Lau được đặt tên Thạch Lâm, hầu hết du khách chỉ biết đến đó (qua thông tin quảng cáo và các hãng lữ hành)mà không biết thêm những vị trí dã ngoại và hưởng thú vui giữa thiên nhiên non nước.

Đến đây, ngoài tận hưởng không khí trong lành, vui đùa thỏa thích với dòng suối thiên nhiên, du khách thường đem theo các loại thức ăn nấu sẵn, bày ra dưới bóng cây ven bờ quây quần bè bạn, gia đình...

Ở suối Đá Giăng có nhiều phiến đá dốc và trơn nên các bạn trẻ ưa mạo hiểm thường chơi trò trượt thác. Từng nhóm có thể để mặc cho dòng nước đẩy xuống hốc nước nhỏ bên dưới phủ đầy rêu nhưng địa thế khiến lực nước tự nhiên hãm lại nên người trượt không bao giờ bị va vào vách đá.

Thưởng ngoạn Đá Giăng

Những ghềnh đá chìm tạo nên thác nước nhỏ cũng khiến cho người bơi dọc suối có cảm giác mạnh nhưng rất an toàn.

Đặc biệt, do có nhiều dòng chảy len giữa những tảng đá nên nơi các dòng nước giao nhau tạo trông như xoáy nước, thoạt nhìn tưởng nguy hiểm như các hố xoáy ở sông, biển có đáy cát nhưng ở đây nước cạn và rất an toàn; trái lại lội vào những chỗ như thế, người tắm có cảm giác nước massge toàn thân, rất sảng khoái.

Trẻ em tắm ở suối Đá Giăng rất an toàn; tất nhiên, cũng cần phải có người lớn để mắt theo dõi và nhắc nhở.

Vào những ngày nghỉ, ngày hè, các gia đình ở Nha Trang, Diên Khánh thường vào chơi suối Đá Giăng. Tuy nhiên, có một hình ảnh không hay là nhóm thanh niên ở nơi khác đến (có thể chỉ ở gần đó) đem theo dụng cụ xuyệt điện (dùng bình ắc quy) đánh bắt cá suối.

Theo The Saigontimes
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(PNO) - Suối Đổ nằm ở phía Tây dãy núi Hoàng Ngưu, thuộc địa phận huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Mùa xuân, phong cảnh nơi đây vốn đã đẹp lại càng đẹp hơn với suối reo, thác đổ và màu xanh bạt ngàn của cây lá.

< Đường lên chùa Suối Đổ.

Đường lên Suối Đổ là hơn trăm bậc xi măng khá cheo leo. Bên trái là rừng cây bạt ngàn, râm ran tiếng ve kêu. Bên phải, dòng suối róc rách trườn qua các khe đá, lúc ẩn lúc hiện giữa những tán cây cổ thụ rậm rạp. Tiếng suối róc rách hòa lẫn tiếng hót lảnh lót của chim rừng. Bản hòa tấu thanh bình khiến tâm hồn du khách nhẹ nhàng thanh thản.

< Một góc suối Đổ.

Gọi là suối Đổ vì suối bắt nguồn từ trên núi cao, tục gọi là hòn Chùa, băng qua những triền núi nhấp nhô, những phiến đá hoa cương đa hình dáng, nhiều màu sắc, đủ kích cỡ… chảy xuống dưới, tạo nên những dòng thác và những hồ nước thơ mộng.

Lên cao chừng 200 m, trước mắt bạn sẽ có hai con đường dẫn đến hai nơi: “Quan Âm Sơn tự” bên trái và “ Phổ Đà Sơn tự” bên phải. Khách thập phương đến suối Đổ không chỉ để ngắm cảnh, dầm mình trong suối mát, hít thở bầu không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót, ve kêu …mà còn để vãn cảnh chùa, cầu xin những điều tốt lành.

< Tam Quan Phổ Đà Sơn tự.

Chùa Quan Âm tọa lạc trên khoảng đất rộng chừng vài trăm mét vuông, bên cạnh dòng suối rì rào chảy qua khe đá, tạo thành những dòng thác nhỏ trắng xóa. Trước sân chùa là tượng Phật Quan Âm. Ngôi chánh điện nằm trên cao, sơn son thếp vàng, uy nghi lộng lẫy. Bên trái có miếu thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Bên cạnh là đền thờ “ Ngũ mẫu” (5 mẹ : Kim Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ).


< Cánh đồng Phước Trạch.

Men theo những triền đá bên suối, bạn hãy sang Phổ Đà Sơn tự. Đây là nơi thờ Phật Bổn sư Di Đà. Tuy nhỏ hơn chùa Quan Âm nhưng cảnh sắc cũng rất nên thơ với hồ sen trước mặt và núi đá bao quanh.

Phía sau chùa Phổ Đà có đường mòn quanh co dẫn lên giếng Tiên trên đỉnh núi. Những người dân bản địa cho biết, Giếng Tiên rất sâu, dường như không thấy đáy. Nước ở giếng Tiên từ trên núi đổ xuống, trong và mát, quanh năm không bao giờ cạn, theo các triền đá chảy xuống dưới, tạo thành những dòng suối nhỏ của suối Đổ.

Trên suối Đổ còn có một địa danh rất linh thiêng: Động MaHa. Đó là một túp lều đá thiên nhiên dựng từ hai vách đá. Người dân bản địa đặt bàn thờ, bốn mùa đủ hương hoa.

Nếu có dịp đến suối Đổ, bạn còn có cơ hội gặp gỡ, trò chuyện với các thầy lang đang hái thuốc và nghe họ kể chuyện trị bệnh cứu người từ các lọai cây rừng của suối Đổ.

Theo Giao Thủy (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Đầu xuân đi chùa Suối Đổ

Đường lên suối Đổ

(PNO) - Suối Đổ nằm ở phía Tây dãy núi Hoàng Ngưu, thuộc địa phận huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Mùa xuân, phong cảnh nơi đây vốn đã đẹp lại càng đẹp hơn với suối reo, thác đổ và màu xanh bạt ngàn của cây lá.

< Đường lên chùa Suối Đổ.

Đường lên Suối Đổ là hơn trăm bậc xi măng khá cheo leo. Bên trái là rừng cây bạt ngàn, râm ran tiếng ve kêu. Bên phải, dòng suối róc rách trườn qua các khe đá, lúc ẩn lúc hiện giữa những tán cây cổ thụ rậm rạp. Tiếng suối róc rách hòa lẫn tiếng hót lảnh lót của chim rừng. Bản hòa tấu thanh bình khiến tâm hồn du khách nhẹ nhàng thanh thản.

< Một góc suối Đổ.

Gọi là suối Đổ vì suối bắt nguồn từ trên núi cao, tục gọi là hòn Chùa, băng qua những triền núi nhấp nhô, những phiến đá hoa cương đa hình dáng, nhiều màu sắc, đủ kích cỡ… chảy xuống dưới, tạo nên những dòng thác và những hồ nước thơ mộng.

Lên cao chừng 200 m, trước mắt bạn sẽ có hai con đường dẫn đến hai nơi: “Quan Âm Sơn tự” bên trái và “ Phổ Đà Sơn tự” bên phải. Khách thập phương đến suối Đổ không chỉ để ngắm cảnh, dầm mình trong suối mát, hít thở bầu không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót, ve kêu …mà còn để vãn cảnh chùa, cầu xin những điều tốt lành.

< Tam Quan Phổ Đà Sơn tự.

Chùa Quan Âm tọa lạc trên khoảng đất rộng chừng vài trăm mét vuông, bên cạnh dòng suối rì rào chảy qua khe đá, tạo thành những dòng thác nhỏ trắng xóa. Trước sân chùa là tượng Phật Quan Âm. Ngôi chánh điện nằm trên cao, sơn son thếp vàng, uy nghi lộng lẫy. Bên trái có miếu thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Bên cạnh là đền thờ “ Ngũ mẫu” (5 mẹ : Kim Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ).


< Cánh đồng Phước Trạch.

Men theo những triền đá bên suối, bạn hãy sang Phổ Đà Sơn tự. Đây là nơi thờ Phật Bổn sư Di Đà. Tuy nhỏ hơn chùa Quan Âm nhưng cảnh sắc cũng rất nên thơ với hồ sen trước mặt và núi đá bao quanh.

Phía sau chùa Phổ Đà có đường mòn quanh co dẫn lên giếng Tiên trên đỉnh núi. Những người dân bản địa cho biết, Giếng Tiên rất sâu, dường như không thấy đáy. Nước ở giếng Tiên từ trên núi đổ xuống, trong và mát, quanh năm không bao giờ cạn, theo các triền đá chảy xuống dưới, tạo thành những dòng suối nhỏ của suối Đổ.

Trên suối Đổ còn có một địa danh rất linh thiêng: Động MaHa. Đó là một túp lều đá thiên nhiên dựng từ hai vách đá. Người dân bản địa đặt bàn thờ, bốn mùa đủ hương hoa.

Nếu có dịp đến suối Đổ, bạn còn có cơ hội gặp gỡ, trò chuyện với các thầy lang đang hái thuốc và nghe họ kể chuyện trị bệnh cứu người từ các lọai cây rừng của suối Đổ.

Theo Giao Thủy (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Đầu xuân đi chùa Suối Đổ
Đọc thêm..
Từ thị trấn Dương Đông, theo tuyến đường Dương Đông – Hàm Ninh khoảng 10 km là đến được Suối Tranh. Ở đây có phong cảnh thiên nhiên đẹp với hoa cỏ, núi rừng, biển và suối, là địa điểm tổ chức cắm trại, dã ngoại thú vị. Đến đây, du khách có thể dựng lều bên bờ suối để nghỉ ngơi và tham gia nhiều hoạt động dã ngoại đặc sắc.

Suối Tranh bắt nguồn từ dãy núi Hàm Ninh, do các khe nước nhỏ hợp thành, róc rách chảy trên núi, len lỏi qua biết bao rừng cây, gộp đá, thác ghềnh, với chiều dài khoảng 15 km. Con suối chảy hiền hoà bên những phiến đá nối tiếp nhau chạy dài xa tít...

Có đoạn suối chảy qua các ghềnh đá tạo nên những con thác nhỏ với làn nước mềm mại, trắng xoá… Có một lối mòn dọc theo bờ suối, đủ để hai người nắm tay nhau đi dưới tán rừng xanh mát.

Những bậc tam cấp trên lối đi vừa với mỗi bước chân nên du khách không có cảm giác mệt dù đang lên núi. Khung cảnh tựa như bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp (có lẽ vì thế mà người ta gọi là suối Tranh).

Suối Tranh được bao bọc bởi cây cối xanh tươi, hoa thơm cỏ lạ. Những chòm cây hình thù khẳng khiu rắn rỏi, thân cây ngả màu xanh xám, mọc chen vào đá, những nhánh phong lan bám vào thân cây, nơi năm ba nhánh nơi một vài chòm, hoa vàng, hoa trắng… trông như những hột cúc áo khâu thành chuỗi, dày thưa đậm nhạt treo lơ lửng giữa không trung.

Gần suối Tranh còn có nhiều hang động huyền hoặc, kỳ bí như hang Dơi nằm trên núi cao chừng 200 m, sâu đến 50 m, có nhiều thạch nhũ đẹp, lạ mắt.

Đến với Suối Tranh, du khách có thể tắm suối, hay tắm biển thoả thích. Hoặc cũng có thể tựa mình trên những phiến đá rêu phong, lắng tay nghe tiếng suối chảy, chim ca trong một không gian thật bình lặng, chợt nhớ đến lời ca Trong bài “Trăng mờ bên suối” của Lê Mộng Nguyên khá nổi tiếng:

“Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối, Rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ chiếu….” thật cảm thấy nao lòng.

Năm 2008, người dân địa phương đã từng bắt được một con cá ở suối này giống với cá lóc đồng, trọng lượng gần 10 kg. Trên đầu con cá này có ba vết chấm, giống hệt những vết chấm huệ in trên đầu của các nhà sư. Lưng con cá uốn cong khiến cho cái đuôi lúc nào cũng nổi phều trên mặt nước. Hiện con cá do Ban quản lý ở khu du lịch Suối Tranh quản lý.

Cá đang được nuôi trong một bể xi măng, để phục vụ cho khách du lịch đến tham quan. Một du khách nước ngoài đã đến ngã giá khoảng 1.000 đô la Mỹ, nhưng khu du lịch quyết định không bán, giữ lại làm cá cảnh. Người quản lý con cá lóc cho biết: “Mấy chục năm nay trên đảo nước mặn Phú Quốc này mới bắt được con cá lóc nước ngọt lớn và kỳ lạ đến vậy”.

Theo Du lịch Phú Quốc
Du lịch, GO!

Suối Tranh ở Phú Quốc

Từ thị trấn Dương Đông, theo tuyến đường Dương Đông – Hàm Ninh khoảng 10 km là đến được Suối Tranh. Ở đây có phong cảnh thiên nhiên đẹp với hoa cỏ, núi rừng, biển và suối, là địa điểm tổ chức cắm trại, dã ngoại thú vị. Đến đây, du khách có thể dựng lều bên bờ suối để nghỉ ngơi và tham gia nhiều hoạt động dã ngoại đặc sắc.

Suối Tranh bắt nguồn từ dãy núi Hàm Ninh, do các khe nước nhỏ hợp thành, róc rách chảy trên núi, len lỏi qua biết bao rừng cây, gộp đá, thác ghềnh, với chiều dài khoảng 15 km. Con suối chảy hiền hoà bên những phiến đá nối tiếp nhau chạy dài xa tít...

Có đoạn suối chảy qua các ghềnh đá tạo nên những con thác nhỏ với làn nước mềm mại, trắng xoá… Có một lối mòn dọc theo bờ suối, đủ để hai người nắm tay nhau đi dưới tán rừng xanh mát.

Những bậc tam cấp trên lối đi vừa với mỗi bước chân nên du khách không có cảm giác mệt dù đang lên núi. Khung cảnh tựa như bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp (có lẽ vì thế mà người ta gọi là suối Tranh).

Suối Tranh được bao bọc bởi cây cối xanh tươi, hoa thơm cỏ lạ. Những chòm cây hình thù khẳng khiu rắn rỏi, thân cây ngả màu xanh xám, mọc chen vào đá, những nhánh phong lan bám vào thân cây, nơi năm ba nhánh nơi một vài chòm, hoa vàng, hoa trắng… trông như những hột cúc áo khâu thành chuỗi, dày thưa đậm nhạt treo lơ lửng giữa không trung.

Gần suối Tranh còn có nhiều hang động huyền hoặc, kỳ bí như hang Dơi nằm trên núi cao chừng 200 m, sâu đến 50 m, có nhiều thạch nhũ đẹp, lạ mắt.

Đến với Suối Tranh, du khách có thể tắm suối, hay tắm biển thoả thích. Hoặc cũng có thể tựa mình trên những phiến đá rêu phong, lắng tay nghe tiếng suối chảy, chim ca trong một không gian thật bình lặng, chợt nhớ đến lời ca Trong bài “Trăng mờ bên suối” của Lê Mộng Nguyên khá nổi tiếng:

“Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối, Rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ chiếu….” thật cảm thấy nao lòng.

Năm 2008, người dân địa phương đã từng bắt được một con cá ở suối này giống với cá lóc đồng, trọng lượng gần 10 kg. Trên đầu con cá này có ba vết chấm, giống hệt những vết chấm huệ in trên đầu của các nhà sư. Lưng con cá uốn cong khiến cho cái đuôi lúc nào cũng nổi phều trên mặt nước. Hiện con cá do Ban quản lý ở khu du lịch Suối Tranh quản lý.

Cá đang được nuôi trong một bể xi măng, để phục vụ cho khách du lịch đến tham quan. Một du khách nước ngoài đã đến ngã giá khoảng 1.000 đô la Mỹ, nhưng khu du lịch quyết định không bán, giữ lại làm cá cảnh. Người quản lý con cá lóc cho biết: “Mấy chục năm nay trên đảo nước mặn Phú Quốc này mới bắt được con cá lóc nước ngọt lớn và kỳ lạ đến vậy”.

Theo Du lịch Phú Quốc
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Từ ngày đầu năm mới 2014, điểm du lịch sinh thái thác Lưu Ly đã khai trương tại xã Nâm N’Jang, huyện Đác Song. Đây không chỉ làm nức lòng người dân tỉnh Đắc Nông mà đây còn là tin vui đầu năm cho du khách trong và ngoài nước.

Đây là khu du lịch sinh thái lớn nhất tỉnh Đác Nông hiện nay, nơi được xem là điểm dừng chân lý tưởng của du khách trong chuyến hành trình tìm hiểu “Con đường xanh Tây Nguyên”, kết nối các tour du lịch năm tỉnh Tây Nguyên với TP Hồ Chí Minh và ngược lại. Vậy là, Tết này người dân ở Đắc Nông cũng như du khách gần xa có thêm một điểm đến vui chơi, thưởng ngoạn lý tưởng.

Tại đây, du khách được chiêm ngưỡng thác Lưu Ly, một trong những thác nước đẹp, thơ mộng bậc nhất ở Tây Nguyên hiện nay. Thác nước nằm giữa những cánh rừng nguyên sinh dưới chân dãy núi Nâm Nung hùng vĩ.

Chung quanh núi Nâm Nung là nơi sống sống bao đời nay của đồng bào M’nông, Châu Mạ và đến nay vẫn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc sắc, nhất là sử thi Ót N’rông làm say đắm lòng người.

Quần thể thác Lưu Ly nằm trong Khu du lịch sinh thái-văn hóa-lịch sử Nâm Nung có tổng diện tích lên tới trên 5.000ha. Trong đó, khu du lịch sinh thái thác Lưu Ly có diện tích khoảng 85ha, có tổng đầu gần 200 tỷ đồng với các hạng mục như: cầu thang xuống thác, khu lưu trú, bồn hoa, nhà điều hành, nhà nghỉ chân, nhà vệ sinh…

Ngoài ra, tỉnh Đắc Nông cũng đã đầu tư xây dựng đường nhựa nối từ quốc lộ 14 đến tận chân thác nên việc đi lại khá thuận lợi, thu hút du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng ngày càng đông.

Đến với khu du lịch sinh thái thác Lưu Ly, du khách còn được khám phá những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào bản địa M’nông, Châu Mạ đã sinh sống bao đời nay dưới chân núi Nâm Nung. Đến với các bon làng của người dân bản địa, du khách sẽ được tham gia các lễ hội truyền thống của đồng bào M’nông, Châu Mạ được truyền từ đời này sang đời khác như Lễ đâm trâu, lễ cúng lúa mới, lễ cúng thần rừng, lễ sum họp cộng đồng, lễ cưới truyền thống của đồng bào M’nông… nghe các nghệ nhân M’nông hát kể sử thi Ót N’rông, những truyền thuyết dân gian huyền bí của người dân tộc bản địa.

Trong không gian huyền bí ấy, du khách như được trở về với thuở hồng hoang mở đất, lập buôn, lập làng và sống lại với với những thời khắc hào hùng chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, giặc ngoại xâm của đồng bào Tây Nguyên.

Ngoài ra, du khách còn được tham quan, tìm hiểu những chứng tích lịch sử của các bon làng đồng bào M’nông, Châu Mạ đã anh dũng, kiên trung một lòng, một dạ theo Đảng, theo cách mạng trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hào hùng của cả dân tộc. Bên cạnh đó, nơi đây còn có quần thể nhiều loài thực vật, động vật phong phú, quý hiếm, đa dạng gắn liền với Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung và thuyền viện Trúc lâm Đạo nguyên.

Theo Báo Nhân dân
Du lịch, GO!

Thác Lưu Ly - nàng công chúa ngủ quên

KDL sinh thái thác Lưu Ly

Từ ngày đầu năm mới 2014, điểm du lịch sinh thái thác Lưu Ly đã khai trương tại xã Nâm N’Jang, huyện Đác Song. Đây không chỉ làm nức lòng người dân tỉnh Đắc Nông mà đây còn là tin vui đầu năm cho du khách trong và ngoài nước.

Đây là khu du lịch sinh thái lớn nhất tỉnh Đác Nông hiện nay, nơi được xem là điểm dừng chân lý tưởng của du khách trong chuyến hành trình tìm hiểu “Con đường xanh Tây Nguyên”, kết nối các tour du lịch năm tỉnh Tây Nguyên với TP Hồ Chí Minh và ngược lại. Vậy là, Tết này người dân ở Đắc Nông cũng như du khách gần xa có thêm một điểm đến vui chơi, thưởng ngoạn lý tưởng.

Tại đây, du khách được chiêm ngưỡng thác Lưu Ly, một trong những thác nước đẹp, thơ mộng bậc nhất ở Tây Nguyên hiện nay. Thác nước nằm giữa những cánh rừng nguyên sinh dưới chân dãy núi Nâm Nung hùng vĩ.

Chung quanh núi Nâm Nung là nơi sống sống bao đời nay của đồng bào M’nông, Châu Mạ và đến nay vẫn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc sắc, nhất là sử thi Ót N’rông làm say đắm lòng người.

Quần thể thác Lưu Ly nằm trong Khu du lịch sinh thái-văn hóa-lịch sử Nâm Nung có tổng diện tích lên tới trên 5.000ha. Trong đó, khu du lịch sinh thái thác Lưu Ly có diện tích khoảng 85ha, có tổng đầu gần 200 tỷ đồng với các hạng mục như: cầu thang xuống thác, khu lưu trú, bồn hoa, nhà điều hành, nhà nghỉ chân, nhà vệ sinh…

Ngoài ra, tỉnh Đắc Nông cũng đã đầu tư xây dựng đường nhựa nối từ quốc lộ 14 đến tận chân thác nên việc đi lại khá thuận lợi, thu hút du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng ngày càng đông.

Đến với khu du lịch sinh thái thác Lưu Ly, du khách còn được khám phá những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào bản địa M’nông, Châu Mạ đã sinh sống bao đời nay dưới chân núi Nâm Nung. Đến với các bon làng của người dân bản địa, du khách sẽ được tham gia các lễ hội truyền thống của đồng bào M’nông, Châu Mạ được truyền từ đời này sang đời khác như Lễ đâm trâu, lễ cúng lúa mới, lễ cúng thần rừng, lễ sum họp cộng đồng, lễ cưới truyền thống của đồng bào M’nông… nghe các nghệ nhân M’nông hát kể sử thi Ót N’rông, những truyền thuyết dân gian huyền bí của người dân tộc bản địa.

Trong không gian huyền bí ấy, du khách như được trở về với thuở hồng hoang mở đất, lập buôn, lập làng và sống lại với với những thời khắc hào hùng chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, giặc ngoại xâm của đồng bào Tây Nguyên.

Ngoài ra, du khách còn được tham quan, tìm hiểu những chứng tích lịch sử của các bon làng đồng bào M’nông, Châu Mạ đã anh dũng, kiên trung một lòng, một dạ theo Đảng, theo cách mạng trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hào hùng của cả dân tộc. Bên cạnh đó, nơi đây còn có quần thể nhiều loài thực vật, động vật phong phú, quý hiếm, đa dạng gắn liền với Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung và thuyền viện Trúc lâm Đạo nguyên.

Theo Báo Nhân dân
Du lịch, GO!

Thác Lưu Ly - nàng công chúa ngủ quên
Đọc thêm..
Chỉ cách Hà Nội dưới 70km, Cửu thác Tú Sơn với 9 tầng thác hùng vĩ và tuyệt đẹp như một tiên nữ Mường lộng lẫy giáng trần đủ làm mê hoặc bất kỳ ai khi đến đây.

Cửu thác thượng ngàn mơ không thấy,
Long cung giếng Ngọc mấy ai hay.
Đến rồi lòng ngẩn ngơ say,
Bồng lai tiên cảnh đây rồi, Tú Sơn.

Kim Bôi được biết đến không chỉ bởi có suối nước nóng mà còn nổi tiếng bởi sự kỳ vĩ của thiên nhiên với những thác, ghềnh giữa núi rừng. Và Cửu thác Tú Sơn tại đây được ví von như danh thắng đệ nhất xứ Mường cũng không ngoa nếu ai đã từng được ghé qua những thác nước đẹp này.

Cửu thác Tú Sơn nằm trên địa phận xóm Củ, xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi - tỉnh Hoà Bình, cách trung tâm Hà Nội khoảng 70km về hướng Tây Nam. Thác nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Kim Bôi và đúng như tên gọi 'cửu thác': 9 dòng thác với 9 vẻ đẹp khác nhau cùng với sự phong phú, đa dạng địa hình, địa vật tạo nên một địa điểm vui chơi thú vị để bạn khám phá và có những giây phút nghỉ ngơi thực sự.

Nếu khởi hành từ Hồ Gươm, ta có thể đi theo đường quốc lộ 6 hướng Hà Nội - Hà Đông, qua Xuân Mai đến Bãi Lạng (Lương Sơn) - Bãi Chạo (Kim Bôi) theo đường 12B đi dốc Cung. Bảng chỉ dẫn khu danh thắng ở nơi này cho biết chỉ đi 2 km nữa là tới nhưng quãng đường có vẻ xa hơn khi phía trước là dốc Cun dài ngoằng và gấp khúc, bề mặt trải nhựa sâu hun hút.


< Đường lên Cửu thác Tú Sơn.

Ven hai bên đường Dốc Cun có những khoảnh nương ngô, ruộng lúa xanh mướt mắt cùng lưa thưa nhà dân, thấp thoáng phía chân núi có những đám mây trắng lững lờ. Ta có thể cảm nhận được sự mộc mạc, hoang sơ của cả cảnh vật và trong cả nếp sống của đồng bào dân tộc nơi đây. Người dân sống quanh khu cửu thác chủ yếu là người Mường, họ vẫn giữ nguyên lối sinh hoạt cũ, đậm chất của người dân tộc.

< Con đường mòn quanh co ở cửu thác Tú Sơn rất thích hợp với các chuyến trekking cuối tuần.

Mọi thứ thật thanh bình đưa ta đến gần với thiên nhiên hơn, tiếng suối rì rào hòa lẫn tiếng chim ríu rít như thúc giục người lữ khách đến với nơi Cửu thác.

Mường Rếch, còn gọi là làng văn hóa Quê Kho, nằm ngay dọc đường dốc Cun đơn sơ với những ngôi nhà sàn gỗ thấp lè tè. Nhà nào cũng ăm ắp những bắp vàng phơi trước sân. Đang là ban trưa nên cả làng im ắng tiếng người, chỉ có dòng suối Vaitu chảy róc rách từng hồi.

Ấn tượng đầu tiên đến đây là âm thanh rì rầm như lời chào mừng ngọt ngào của dòng thác Hồ Âu Cơ. Dòng nước trắng xóa cuộn đổ xuống hòa quyện với nước hồ Lạc Long Quân, bên cạnh là tảng đá tròn như quả trứng khổng lồ trong sự tích 'trăm trứng nở trăm con', tất cả tạo nên khung cảnh thơ mộng như câu chuyện tình muôn thuở.

Những bậc đá và con đường mòn len giữa hàng hoa dại, cỏ xanh dẫn bước du khách lên các tầng thác tiếp theo của con suối. Có dòng thác hiền hòa, uốn lượn giữa các thảm cỏ và phiến đá trắng như thác Quan Lang, thác nàng Út Lót, hồ chàng Liêu... cho bạn cảm giác thanh bình, lại có những dòng thác hùng vĩ, tung bọt trắng xóa đầy sức sống như thác Trượng Phu, thác Bạc…

Cửu thác Tú Sơn bao gồm:

1. Thác Tiên Tắm luôn xanh mát và rì rào tiếng nước chảy.
2. Thác hồ Âu Cơ nằm ở thượng ngàn cửu thác Tú Sơn, nơi đây còn lưu dấu tích một quả trứng Âu Cơ khổng lồ hóa đá.
3. Thác Quan Lang trải đều như chiều dài cái chiếu đổ nghiêng.
4. Thác Hồ Út Lót gắn liền với câu chuyện tình yêu trắc trở của nàng Út Lót vừa thông minh, vừa xinh đẹp với chàng Hồ Liêu không lấy được nhau hóa thành đôi bướm trắng rập rờn đùa vui bên dòng suối.
5. Thác Bạc là thác nước cao, có lẽ dáng hìn đẹp nhất trong cửu thác.
6. Thác Động Long Cung chính là một dòng suối cổ xưa được chảy từ đầm hồ ba nhánh. Do trên cao đất đá tuôn xuống đã lấp tắc phía trên làm nước đổi dòng, suối này giờ đây trở thành hang động huyền ảo.
7. Thác Vườn Thượng Uyển là nơi có không gian mát mẻ với khí hậu lạnh hanh hanh như Đà Lạt.
8. Thác Thiên Ngọc Thạch - từ chân thác này khi nhìn lên trời cao sẽ thấy một hòn đá khổng lồ, tròn vo màu xanh ngọc do cây và rêu phủ xung quanh.
9. Thác hồ Trượng Phu cao có thể đến hàng trăm mét, tựa như một dòng nước từ trên trời nối xuống hồ Tiên Sa.

Khách ưa bơi lội sẽ rất vui sướng khi được đắm mình trong dòng nước mát lạnh của những hồ nhỏ được thiên tạo ngay dưới chân mỗi thác. Trải dọc bờ suối luôn có những căn chòi lá nhỏ xinh và sạch sẽ để du khách nghỉ chân. Dùng bữa trưa kiểu picnic giữa thiên nhiên núi rừng sẽ là trải nghiệm thú vị mà kẻ lãng du sẽ không dễ dàng từ chối.

Còn nếu bạn là người có sức khỏe tốt và thích khám phá thiên nhiên, hãy đưa chân chinh phục toàn bộ 9 ngọn thác. Tiếng chim hót cùng cảnh đẹp của hoa lá cỏ cây sẽ giúp bạn nhanh chóng quên đi mệt mỏi và vượt qua quãng đường dài không mấy khó khăn.

Đi qua cây treo cầu rung rinh trước gió và gần 200 bậc thang đá sẽ đặt chân đến ngọn thác cuối cùng nằm tại độ cao 1.300m, cũng là nơi không khác gì “vườn thượng uyển”. Chỉ cần đến đây bạn vẫn có thể được tận hưởng không khí trong mát như Đà Lạt, Sa Pa và chiêm ngưỡng những loài cây, hoa lạ mắt... với tứ phía là những cánh rừng già nguyên sinh, xanh thẳm mờ sương.

Bên cạnh những cảnh vật thiên nhiên, khu vực cửu thác Tú Sơn còn có cơ sở vật chất đầy đủ tiện nghi để phục vụ nhu cầu ăn nghỉ của du khách như khu nhà sàn, biệt thự, khu vui chơi cho trẻ em, bể bơi, khu tắm nước nóng, nhà hàng sang trọng với nhiều món đặc sản xứ Mường, được chế biến từ sản vật tươi ngon của địa phương.

Khách sẽ được khám phá, hòa mình vào cuộc sống của người dân tộc Mường, được tận mắt nhìn thấy khung cảnh sinh hoạt, sản xuất của họ, được tận mắt ngắm những con nước, ngắm ruộng bậc thang, những cô gái Mường e ấp trong bộ váy áo...

Cửu thác Tú Sơn thu hút khách du lịch không chỉ bởi thiên nhiên hùng vĩ, thêm vào đó là những nét đặc trưng về văn hóa, những đặc sản của núi rừng với món ăn, thức uống của người dân tộc. Có cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui. Du khách sẽ được cùng ăn, cùng sống, đốt lửa, cùng thử sức với những công việc lao động của người Mường quanh khu du lịch...
Các món ăn như cơm lam, rượu cần, thịt lợn mường, măng đắng, thịt gà nấu măng chua, thịt nướng... sẽ khiến khách đã một lần đặt chân tới miền này ắt hẳn sẽ muốn quay trở lại lần sau.

Du lịch, GO! - ảnh Khoitran, và nhiều nguồn khác.

Chinh phục cửu thác Tú Sơn

Đầu năm đi Cửu thác Tú Sơn

Chỉ cách Hà Nội dưới 70km, Cửu thác Tú Sơn với 9 tầng thác hùng vĩ và tuyệt đẹp như một tiên nữ Mường lộng lẫy giáng trần đủ làm mê hoặc bất kỳ ai khi đến đây.

Cửu thác thượng ngàn mơ không thấy,
Long cung giếng Ngọc mấy ai hay.
Đến rồi lòng ngẩn ngơ say,
Bồng lai tiên cảnh đây rồi, Tú Sơn.

Kim Bôi được biết đến không chỉ bởi có suối nước nóng mà còn nổi tiếng bởi sự kỳ vĩ của thiên nhiên với những thác, ghềnh giữa núi rừng. Và Cửu thác Tú Sơn tại đây được ví von như danh thắng đệ nhất xứ Mường cũng không ngoa nếu ai đã từng được ghé qua những thác nước đẹp này.

Cửu thác Tú Sơn nằm trên địa phận xóm Củ, xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi - tỉnh Hoà Bình, cách trung tâm Hà Nội khoảng 70km về hướng Tây Nam. Thác nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Kim Bôi và đúng như tên gọi 'cửu thác': 9 dòng thác với 9 vẻ đẹp khác nhau cùng với sự phong phú, đa dạng địa hình, địa vật tạo nên một địa điểm vui chơi thú vị để bạn khám phá và có những giây phút nghỉ ngơi thực sự.

Nếu khởi hành từ Hồ Gươm, ta có thể đi theo đường quốc lộ 6 hướng Hà Nội - Hà Đông, qua Xuân Mai đến Bãi Lạng (Lương Sơn) - Bãi Chạo (Kim Bôi) theo đường 12B đi dốc Cung. Bảng chỉ dẫn khu danh thắng ở nơi này cho biết chỉ đi 2 km nữa là tới nhưng quãng đường có vẻ xa hơn khi phía trước là dốc Cun dài ngoằng và gấp khúc, bề mặt trải nhựa sâu hun hút.


< Đường lên Cửu thác Tú Sơn.

Ven hai bên đường Dốc Cun có những khoảnh nương ngô, ruộng lúa xanh mướt mắt cùng lưa thưa nhà dân, thấp thoáng phía chân núi có những đám mây trắng lững lờ. Ta có thể cảm nhận được sự mộc mạc, hoang sơ của cả cảnh vật và trong cả nếp sống của đồng bào dân tộc nơi đây. Người dân sống quanh khu cửu thác chủ yếu là người Mường, họ vẫn giữ nguyên lối sinh hoạt cũ, đậm chất của người dân tộc.

< Con đường mòn quanh co ở cửu thác Tú Sơn rất thích hợp với các chuyến trekking cuối tuần.

Mọi thứ thật thanh bình đưa ta đến gần với thiên nhiên hơn, tiếng suối rì rào hòa lẫn tiếng chim ríu rít như thúc giục người lữ khách đến với nơi Cửu thác.

Mường Rếch, còn gọi là làng văn hóa Quê Kho, nằm ngay dọc đường dốc Cun đơn sơ với những ngôi nhà sàn gỗ thấp lè tè. Nhà nào cũng ăm ắp những bắp vàng phơi trước sân. Đang là ban trưa nên cả làng im ắng tiếng người, chỉ có dòng suối Vaitu chảy róc rách từng hồi.

Ấn tượng đầu tiên đến đây là âm thanh rì rầm như lời chào mừng ngọt ngào của dòng thác Hồ Âu Cơ. Dòng nước trắng xóa cuộn đổ xuống hòa quyện với nước hồ Lạc Long Quân, bên cạnh là tảng đá tròn như quả trứng khổng lồ trong sự tích 'trăm trứng nở trăm con', tất cả tạo nên khung cảnh thơ mộng như câu chuyện tình muôn thuở.

Những bậc đá và con đường mòn len giữa hàng hoa dại, cỏ xanh dẫn bước du khách lên các tầng thác tiếp theo của con suối. Có dòng thác hiền hòa, uốn lượn giữa các thảm cỏ và phiến đá trắng như thác Quan Lang, thác nàng Út Lót, hồ chàng Liêu... cho bạn cảm giác thanh bình, lại có những dòng thác hùng vĩ, tung bọt trắng xóa đầy sức sống như thác Trượng Phu, thác Bạc…

Cửu thác Tú Sơn bao gồm:

1. Thác Tiên Tắm luôn xanh mát và rì rào tiếng nước chảy.
2. Thác hồ Âu Cơ nằm ở thượng ngàn cửu thác Tú Sơn, nơi đây còn lưu dấu tích một quả trứng Âu Cơ khổng lồ hóa đá.
3. Thác Quan Lang trải đều như chiều dài cái chiếu đổ nghiêng.
4. Thác Hồ Út Lót gắn liền với câu chuyện tình yêu trắc trở của nàng Út Lót vừa thông minh, vừa xinh đẹp với chàng Hồ Liêu không lấy được nhau hóa thành đôi bướm trắng rập rờn đùa vui bên dòng suối.
5. Thác Bạc là thác nước cao, có lẽ dáng hìn đẹp nhất trong cửu thác.
6. Thác Động Long Cung chính là một dòng suối cổ xưa được chảy từ đầm hồ ba nhánh. Do trên cao đất đá tuôn xuống đã lấp tắc phía trên làm nước đổi dòng, suối này giờ đây trở thành hang động huyền ảo.
7. Thác Vườn Thượng Uyển là nơi có không gian mát mẻ với khí hậu lạnh hanh hanh như Đà Lạt.
8. Thác Thiên Ngọc Thạch - từ chân thác này khi nhìn lên trời cao sẽ thấy một hòn đá khổng lồ, tròn vo màu xanh ngọc do cây và rêu phủ xung quanh.
9. Thác hồ Trượng Phu cao có thể đến hàng trăm mét, tựa như một dòng nước từ trên trời nối xuống hồ Tiên Sa.

Khách ưa bơi lội sẽ rất vui sướng khi được đắm mình trong dòng nước mát lạnh của những hồ nhỏ được thiên tạo ngay dưới chân mỗi thác. Trải dọc bờ suối luôn có những căn chòi lá nhỏ xinh và sạch sẽ để du khách nghỉ chân. Dùng bữa trưa kiểu picnic giữa thiên nhiên núi rừng sẽ là trải nghiệm thú vị mà kẻ lãng du sẽ không dễ dàng từ chối.

Còn nếu bạn là người có sức khỏe tốt và thích khám phá thiên nhiên, hãy đưa chân chinh phục toàn bộ 9 ngọn thác. Tiếng chim hót cùng cảnh đẹp của hoa lá cỏ cây sẽ giúp bạn nhanh chóng quên đi mệt mỏi và vượt qua quãng đường dài không mấy khó khăn.

Đi qua cây treo cầu rung rinh trước gió và gần 200 bậc thang đá sẽ đặt chân đến ngọn thác cuối cùng nằm tại độ cao 1.300m, cũng là nơi không khác gì “vườn thượng uyển”. Chỉ cần đến đây bạn vẫn có thể được tận hưởng không khí trong mát như Đà Lạt, Sa Pa và chiêm ngưỡng những loài cây, hoa lạ mắt... với tứ phía là những cánh rừng già nguyên sinh, xanh thẳm mờ sương.

Bên cạnh những cảnh vật thiên nhiên, khu vực cửu thác Tú Sơn còn có cơ sở vật chất đầy đủ tiện nghi để phục vụ nhu cầu ăn nghỉ của du khách như khu nhà sàn, biệt thự, khu vui chơi cho trẻ em, bể bơi, khu tắm nước nóng, nhà hàng sang trọng với nhiều món đặc sản xứ Mường, được chế biến từ sản vật tươi ngon của địa phương.

Khách sẽ được khám phá, hòa mình vào cuộc sống của người dân tộc Mường, được tận mắt nhìn thấy khung cảnh sinh hoạt, sản xuất của họ, được tận mắt ngắm những con nước, ngắm ruộng bậc thang, những cô gái Mường e ấp trong bộ váy áo...

Cửu thác Tú Sơn thu hút khách du lịch không chỉ bởi thiên nhiên hùng vĩ, thêm vào đó là những nét đặc trưng về văn hóa, những đặc sản của núi rừng với món ăn, thức uống của người dân tộc. Có cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui. Du khách sẽ được cùng ăn, cùng sống, đốt lửa, cùng thử sức với những công việc lao động của người Mường quanh khu du lịch...
Các món ăn như cơm lam, rượu cần, thịt lợn mường, măng đắng, thịt gà nấu măng chua, thịt nướng... sẽ khiến khách đã một lần đặt chân tới miền này ắt hẳn sẽ muốn quay trở lại lần sau.

Du lịch, GO! - ảnh Khoitran, và nhiều nguồn khác.

Chinh phục cửu thác Tú Sơn
Đọc thêm..
Thác Dray Sáp là thác hạ nguồn trong hệ thống 3 thác Gia Long - Dray Nur - Dray Sáp của sông Sêrêpôk, tỉnh Đắk Nông, cách thành phố Buôn Ma Thuột 30km. Thác cao 20m nhưng trải rộng khoảng 100m. Theo tiếng Ê Đê, Dray Sáp nghĩa là thác khói. Có thể nói, đây là ngọn thác đẹp và hùng vĩ nhất Tây Nguyên.

Từ thị xã Gia Nghĩa, du khách đi khoảng 90km về hướng Tp. Buôn Ma Thuột đến TT Ea T’ling, huyện Cư Jút, theo đường tỉnh lộ 4 hướng về huyện Krông Nô hơn 1km đến thác Trinh Nữ. Từ thác Trinh Nữ đi khoảng 8km nữa là đến thác Đray Sap và thêm 6 km là thác Gia Long (theo đường nội bộ nối liền giữa Đray Sap–Gia Long).

Khám phá thác Dray Sáp

Để đến được thác, du khách phải trải qua hàng loạt những cảm xúc khác nhau. Cảm giác phiêu lưu khi đi bộ dưới tán lá của những cây cổ thụ cao vút, to hơn hai người ôm; cảm giác hồi hộp khi vượt qua bãi đá đầy rêu, trơn nhẵn giữa lòng suối. Hay cảm giác mạo hiểm khi lúc leo, lúc luồn dưới những hốc đá cheo leo.
Khi những cảm xúc đó đi qua, bạn sẽ ngạc nhiên đến sững sờ trước bức thành nước hùng vĩ giữa núi rừng Tây Nguyên, ngạc nhiên với hơi nước không những bao tỏa cả khu vực mà còn như mơn man, quấn quýt theo từng bước chân du khách, mang lại hơi lạnh dễ chịu. Ngạc nhiên với hàng trăm cầu vồng lung linh, cái lớn nhất chỉ dài non thước nhưng cũng đủ để du khách cảm thấy mình đang bước vào chốn thiên cung.

Con đường mòn đến DraySap được lát đá, hai bên mép đường được lớp rêu xanh mịn bao phủ. Hai bên đường là những cây cổ thụ hàng trăm tuổi, cao vút, phải hai người ôm mới xuể. Tiếp đó là một chút cảm giác mạo hiểm, hồi hộp khi vượt qua bãi đá nằm len giữa những dòng suối róc rách.

Sau phút dừng chân nghỉ ngơi bên làn suối mát, du khách sẽ tiếp tục vượt sông, men theo những hốc đá cheo leo để tiến dần đến chân thác. Luồn lách qua những gốc cây cổ thụ già chằng chịt dây, rễ đan xen, lên đến đỉnh thác để chiêm ngưỡng được toàn bộ sự hùng vĩ của thiên nhiên nơi đây.

Sau thác là một hang động khá lớn, trong động chỉ có những khối đá to xù xì, đầy rêu nhưng hầu hết du khách đến đây đều muốn một lần xuyên qua màn nước, vào phía bên trong động để một lần trải nghiệm cảm giác khám phá.

Sau thời gian khám phá thác, du khách đến đây thường ngân nga thư giãn với dòng nước mát lạnh, ngồi đọc sách, câu cá hàng giờ, hay thủ thỉ trò chuyện trong tiếng reo vang của thác, mọi lo âu, buồn phiền như tan biến.

Chặng đường 30 cây số từ thác về đến thành phố Buôn Mê Thuột cũng là những bức tranh đẹp của cao nguyên. Dọc hai bên đường có khi là những vạt hoa cúc dại nở trắng mép đường, có khi là những bụi dã quỳ vàng rực, xa xa là đồng cỏ bạt ngàn. Tất cả đều gợi lên trong lòng du khách những giấc mơ phiêu lưu khoáng đạt.

Truyền thuyết đẹp về thác Dray Sáp

Thác Đray Sáp theo tiếng tộc người Êđê có nghĩa là thác khói. Theo lời giải thích của người dân nơi đây sở dĩ thác có tên như vậy gắn liền với truyền thuyết nàng H’mi xinh đẹp khi đang ngồi tự tình với người yêu bên con thác thì bị quái vật nuốt chửng biến thành những cột khói khổng lồ, còn chàng người yêu ngày đêm ngồi bên bờ suối than khóc nàng đã biến thành một gốc cây lớn vươn cánh tay lên trời và cắm sâu vào ghềnh đá.

Thác Dray Sáp là một thắng cảnh đẹp nhờ sự kết hợp giữa hai dòng sông Krông Nô và Krông A Na mà người Ê Đê và người M'Nông gọi là sông Chồng, sông Vợ gặp nhau mà thành. Tình yêu của họ mạnh mẽ như dòng thác, đẹp đẽ như sắc cầu vồng ẩn hiện trong làn sương khói nước. Dray Sáp như một bức thành nước khổng lồ, hùng tráng giữa một vùng hoa nước long lanh.

Đây là một trong 3 thác của hệ thống thác trên dòng Serepok, cách không xa đoạn hợp nhất của hai dòng sông Krông Ana và Krông Nô hùng vĩ. Ba dòng thác gồm thác Dray Sap thượng (còn gọi là thác Gia Long) ở thượng nguồn, thác Dray Sap hạ và Dray Nur ở cách 3km về phía hạ nguồn.

Theo KinhnghiemDulich.edu
Du lịch, GO!

Khám phá thác Dray Sáp Hạ

Thác Dray Sáp là thác hạ nguồn trong hệ thống 3 thác Gia Long - Dray Nur - Dray Sáp của sông Sêrêpôk, tỉnh Đắk Nông, cách thành phố Buôn Ma Thuột 30km. Thác cao 20m nhưng trải rộng khoảng 100m. Theo tiếng Ê Đê, Dray Sáp nghĩa là thác khói. Có thể nói, đây là ngọn thác đẹp và hùng vĩ nhất Tây Nguyên.

Từ thị xã Gia Nghĩa, du khách đi khoảng 90km về hướng Tp. Buôn Ma Thuột đến TT Ea T’ling, huyện Cư Jút, theo đường tỉnh lộ 4 hướng về huyện Krông Nô hơn 1km đến thác Trinh Nữ. Từ thác Trinh Nữ đi khoảng 8km nữa là đến thác Đray Sap và thêm 6 km là thác Gia Long (theo đường nội bộ nối liền giữa Đray Sap–Gia Long).

Khám phá thác Dray Sáp

Để đến được thác, du khách phải trải qua hàng loạt những cảm xúc khác nhau. Cảm giác phiêu lưu khi đi bộ dưới tán lá của những cây cổ thụ cao vút, to hơn hai người ôm; cảm giác hồi hộp khi vượt qua bãi đá đầy rêu, trơn nhẵn giữa lòng suối. Hay cảm giác mạo hiểm khi lúc leo, lúc luồn dưới những hốc đá cheo leo.
Khi những cảm xúc đó đi qua, bạn sẽ ngạc nhiên đến sững sờ trước bức thành nước hùng vĩ giữa núi rừng Tây Nguyên, ngạc nhiên với hơi nước không những bao tỏa cả khu vực mà còn như mơn man, quấn quýt theo từng bước chân du khách, mang lại hơi lạnh dễ chịu. Ngạc nhiên với hàng trăm cầu vồng lung linh, cái lớn nhất chỉ dài non thước nhưng cũng đủ để du khách cảm thấy mình đang bước vào chốn thiên cung.

Con đường mòn đến DraySap được lát đá, hai bên mép đường được lớp rêu xanh mịn bao phủ. Hai bên đường là những cây cổ thụ hàng trăm tuổi, cao vút, phải hai người ôm mới xuể. Tiếp đó là một chút cảm giác mạo hiểm, hồi hộp khi vượt qua bãi đá nằm len giữa những dòng suối róc rách.

Sau phút dừng chân nghỉ ngơi bên làn suối mát, du khách sẽ tiếp tục vượt sông, men theo những hốc đá cheo leo để tiến dần đến chân thác. Luồn lách qua những gốc cây cổ thụ già chằng chịt dây, rễ đan xen, lên đến đỉnh thác để chiêm ngưỡng được toàn bộ sự hùng vĩ của thiên nhiên nơi đây.

Sau thác là một hang động khá lớn, trong động chỉ có những khối đá to xù xì, đầy rêu nhưng hầu hết du khách đến đây đều muốn một lần xuyên qua màn nước, vào phía bên trong động để một lần trải nghiệm cảm giác khám phá.

Sau thời gian khám phá thác, du khách đến đây thường ngân nga thư giãn với dòng nước mát lạnh, ngồi đọc sách, câu cá hàng giờ, hay thủ thỉ trò chuyện trong tiếng reo vang của thác, mọi lo âu, buồn phiền như tan biến.

Chặng đường 30 cây số từ thác về đến thành phố Buôn Mê Thuột cũng là những bức tranh đẹp của cao nguyên. Dọc hai bên đường có khi là những vạt hoa cúc dại nở trắng mép đường, có khi là những bụi dã quỳ vàng rực, xa xa là đồng cỏ bạt ngàn. Tất cả đều gợi lên trong lòng du khách những giấc mơ phiêu lưu khoáng đạt.

Truyền thuyết đẹp về thác Dray Sáp

Thác Đray Sáp theo tiếng tộc người Êđê có nghĩa là thác khói. Theo lời giải thích của người dân nơi đây sở dĩ thác có tên như vậy gắn liền với truyền thuyết nàng H’mi xinh đẹp khi đang ngồi tự tình với người yêu bên con thác thì bị quái vật nuốt chửng biến thành những cột khói khổng lồ, còn chàng người yêu ngày đêm ngồi bên bờ suối than khóc nàng đã biến thành một gốc cây lớn vươn cánh tay lên trời và cắm sâu vào ghềnh đá.

Thác Dray Sáp là một thắng cảnh đẹp nhờ sự kết hợp giữa hai dòng sông Krông Nô và Krông A Na mà người Ê Đê và người M'Nông gọi là sông Chồng, sông Vợ gặp nhau mà thành. Tình yêu của họ mạnh mẽ như dòng thác, đẹp đẽ như sắc cầu vồng ẩn hiện trong làn sương khói nước. Dray Sáp như một bức thành nước khổng lồ, hùng tráng giữa một vùng hoa nước long lanh.

Đây là một trong 3 thác của hệ thống thác trên dòng Serepok, cách không xa đoạn hợp nhất của hai dòng sông Krông Ana và Krông Nô hùng vĩ. Ba dòng thác gồm thác Dray Sap thượng (còn gọi là thác Gia Long) ở thượng nguồn, thác Dray Sap hạ và Dray Nur ở cách 3km về phía hạ nguồn.

Theo KinhnghiemDulich.edu
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(TTO) - Qua những biến thiên, lưu vực những con sông lớn như một chiếc nôi lưu giữ những trầm tích văn hóa mà những người đến sau có thể từ đó khám phá ra phần nào quá khứ. Thu Bồn là một dòng sông như thế...

< Cảng cá mới hình thành trên sông Thu Bồn, đoạn dưới làng Thanh Chiêm và trên phố cổ Hội An.

Ngồi thuyền từ bến Nồi Rang hay bến An Lương để vượt Thu Bồn sang đô thị Hội An ai cũng thấy cù lao Chàm với những dãy núi cao giăng giăng trước cửa Đại. Rồi theo đường thẳng cù lao Chàm - cửa Đại nhìn lên phía tây lại cũng là những dãy núi cao với mỏm nhọn hiện ra.

Kinh thành cổ Trà Kiệu - Simhapura

Những dãy núi đó là bức tường thành của thung lũng Mỹ Sơn - nơi có khu đền tháp Chăm là di sản văn hóa thế giới. Dưới Mỹ Sơn không xa, cũng trên đường thẳng cù lao Chàm - cửa Đại - Mỹ Sơn, là di tích kinh thành cổ Trà Kiệu, có tên gọi Simhapura - kinh thành Sư tử của người Chăm xưa.

Simhapura nằm kề bờ hữu Thu Bồn được xây dựng bởi vua Bhadravarman (380-413) và chỉ mới được các học giả người Pháp phát hiện rồi khai quật vào những năm 1927-1928. Quả thực người Chăm xưa đã có một cái nhìn thông suốt về địa lý - chính trị - kinh tế khi chọn Trà Kiệu làm kinh đô với ưu thế của Thu Bồn trong việc kết nối giao thông nội vùng và cả với bên ngoài vương quốc.

Do bị cư dân xâm chiếm làm nhà cửa, công trình tôn giáo, kinh thành cổ này chỉ còn lại một đoạn thành phía Nam dài 1.500m (rộng 30m, cao 3m) còn khá nguyên vẹn. Trong khá nhiều những di vật và thông tin thu được từ cuộc khai quật đầu tiên của nhà khảo cổ học J. Y. Claeys, di vật vô giá mà Simhapura để lại cho đời là “đài thờ vũ nữ Trà Kiệu” có kích thước lớn, bằng sa thạch, được trưng bày ở Bảo tàng Chăm Đà Nẵng.

Sau bao biến động, đổi thay, vùng Simhapura hoang phế nằm sát núi kề sông lại mở ra trang mới với công cuộc mở đất đầy cảm động của những lớp di dân mới.

541 năm trước, 13 di dân vùng Thanh Hóa, Nghệ An đã vào Trà Kiệu khai khẩn vùng đất bên sông bãi Thu Bồn và các chân núi Tào Sơn, Hòn Bằng, Bửu Châu để lập nên xã hiệu Trà Kiệu với hơn ngàn mẫu ruộng. Bên trang sử mở đất được truyền ghi, 333 năm trước dân làng Trà Kiệu đã xây nhà tự đường chung cho 13 vị tiền hiền này.

“Làng Trà Kiệu thời vua Thành Thái (1905) được chia thành năm xã là Trà Kiệu Thượng, Trung, Đông, Tây, Nam, gọi chung là Ngũ Xã Trà Kiệu. Nhưng từ đó đến nay người Ngũ Xã vẫn tụ tập về nhà thờ chung gọi là nhà thờ Ngũ Xã Trà Kiệu, được người Ngũ Xã chung sức làm lại hồi năm 1955, còn mãi đến giờ.

Cũng nhờ còn ngôi nhà thờ, còn các sắc phong, còn các ghi chép, điền bộ xưa mà hồi năm 2000 người Trà Kiệu mình mới tổ chức Lễ hội 530 năm Ngũ Xã Trà Kiệu đó...”, ông Dương Đức Quý - cư dân Trà Kiệu, nói về mái tự đường hiếm có trong lịch sử mở cõi về Nam.

Lụa Thu Bồn

Đây chính là của báu của Thu Bồn dành cho cư dân. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết: “Ở Quảng Nam lụa thuế chỉ lấy ở hai phủ Thăng Hoa và Điện Bàn. Phủ Thăng Hoa hàng năm nộp thuế lụa là 1.545 tấm. Thuộc Hoa Châu của phủ Thăng Hoa hằng năm nộp 809 tấm lụa thuế và 11 tấm lụa lễ, tất cả chứa trong 17 hòm để nộp”.


< Ươm tơ tại một xưởng ươm ở Chiêm Sơn, xã Duy Trinh.

Khó có thể nói một lượng lụa thuế lớn như thế thời bấy giờ lại không được lấy từ vùng dâu tằm lớn dọc hai bên bờ Thu Bồn vốn nằm trong hai địa hạt nói trên. Và ngày nay những người làm tằm tơ canh cửi bên sông không chỉ giữ được nghề xưa mà còn vươn đến công nghiệp dệt từ di sản lụa Thu Bồn của mình.

Giữa trưa, trong trại nuôi tằm của mình, ông Trịnh Anh ở làng dệt lụa Mã Châu miệt mài nhặt những con tằm già bỏ lên chà bủa dể chúng làm kén, kết thúc một lứa tằm. “Tính ra cũng sống được với nghề. Cái đất bên sông chịu cây dâu, cái nghề  tằm tơ canh cửi này là nghề cha truyền con nối của dân Thu Bồn mình mà"... , ông Anh nói.

< Kén tằm chín vàng nong đang chờ ươm.

Những người trồng dâu nuôi tằm lấy kén dọc sông Thu Bồn giờ còn lại không nhiều vì lụa tơ tằm không cạnh tranh nổi với các loại lụa làm bằng tơ nhân tạo ngoại nhập có giá rẻ. Kén tằm của người nuôi tằm Thu Bồn nay đang thiếu, được bán cho các lò ươm tơ trong vùng để kéo thành sợi cung cấp cho hai làng dệt lụa còn lại của vùng Thu Bồn là Mã Châu và Đông Yên (đều thuộc huyện Duy Xuyên).

Tặng vật lớn mà Thu Bồn trao tặng cư dân nơi nó đi qua có lẽ là những bãi biền thấm đẫm phù sa nằm dọc hai bờ ở vùng trung và hạ nguồn. Hiệp Thuận, Trà Linh, Tý, Sé, Bình Yên, Đại Bình, Duy Tân, Đại Thạnh, Đại Phước, Duy Châu, Chiêm Sơn, Thi Lai, Hà Mật, Bảo An, Xuân Đài... là những bãi biền từng ngút xanh cây dâu của các huyện Hiệp Đức, Nông Sơn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn thời xưa cũng như những năm 1980 với hơn ngàn héc-ta, Thu Bồn chính là dòng sông tơ lụa!

Bên cạnh nghề dệt lụa, các xã dọc bờ Thu Bồn (nhiều nhất là ở huyện Duy Xuyên) nhiều chục năm qua đã chuyển thành những làng, những hợp tác xã, những công ty dệt bán công nghiệp và công nghiệp - “một hiện tượng về công nghiệp dệt ít có ở vùng nông thôn trong nước” như nhiều người nhận xét.


< Dệt vải từ sợi cotton ở xưởng dệt Hùng Sương (44 máy dệt) ở làng Mã Châu, thị trấn Nam Phước, toàn thị trấn có trên 2.000 máy dệt gỗ, sắt.

Những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, một số người ở các làng dệt lụa dọc Thu Bồn đã tìm đến định cư ở Sài Gòn. Nghề dệt lụa mang theo như hành trang, không chỉ giúp họ kiếm sống và vươn lên nơi đô thành mà còn giúp được quê nhà, đã lôi cuốn thêm nhiều lớp di dân từ quê nhà vào đó sống với nghề dệt lụa, dệt vải.

Một “dấu ấn” độc đáo của những thợ dệt Thu Bồn định cư ở Sài Gòn là họ đã lập nên một làng thuần rặt người Quảng Nam giữa Sài Gòn với đại đa số người sống bằng nghề dệt và các dịch vụ nghề dệt - làng dệt Bảy Hiền nay thuộc P.11, Q.Tân Bình, TP.HCM - một tương tác với sự phát triển của nghề dệt quê nhà Thu Bồn.

Có lẽ ít có dòng sông nào trên đất nước đến nay còn giữ được nghề dệt lụa ngay trên biền bãi phù sa của mình như Thu Bồn. Và có lẽ cũng không có mấy vùng cư dân đã chuyển hóa chiếc khung dệt lụa sang chiếc khung dệt các loại sợi khác để tồn tại và đi lên với dòng sông quê mình như những người dệt lụa đất này.
Xem thêm >
Sống cùng Thu Bồn (P1)

Theo Huỳnh Văn Mỹ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Sống cùng Thu Bồn (P2)

(TTO) - Qua những biến thiên, lưu vực những con sông lớn như một chiếc nôi lưu giữ những trầm tích văn hóa mà những người đến sau có thể từ đó khám phá ra phần nào quá khứ. Thu Bồn là một dòng sông như thế...

< Cảng cá mới hình thành trên sông Thu Bồn, đoạn dưới làng Thanh Chiêm và trên phố cổ Hội An.

Ngồi thuyền từ bến Nồi Rang hay bến An Lương để vượt Thu Bồn sang đô thị Hội An ai cũng thấy cù lao Chàm với những dãy núi cao giăng giăng trước cửa Đại. Rồi theo đường thẳng cù lao Chàm - cửa Đại nhìn lên phía tây lại cũng là những dãy núi cao với mỏm nhọn hiện ra.

Kinh thành cổ Trà Kiệu - Simhapura

Những dãy núi đó là bức tường thành của thung lũng Mỹ Sơn - nơi có khu đền tháp Chăm là di sản văn hóa thế giới. Dưới Mỹ Sơn không xa, cũng trên đường thẳng cù lao Chàm - cửa Đại - Mỹ Sơn, là di tích kinh thành cổ Trà Kiệu, có tên gọi Simhapura - kinh thành Sư tử của người Chăm xưa.

Simhapura nằm kề bờ hữu Thu Bồn được xây dựng bởi vua Bhadravarman (380-413) và chỉ mới được các học giả người Pháp phát hiện rồi khai quật vào những năm 1927-1928. Quả thực người Chăm xưa đã có một cái nhìn thông suốt về địa lý - chính trị - kinh tế khi chọn Trà Kiệu làm kinh đô với ưu thế của Thu Bồn trong việc kết nối giao thông nội vùng và cả với bên ngoài vương quốc.

Do bị cư dân xâm chiếm làm nhà cửa, công trình tôn giáo, kinh thành cổ này chỉ còn lại một đoạn thành phía Nam dài 1.500m (rộng 30m, cao 3m) còn khá nguyên vẹn. Trong khá nhiều những di vật và thông tin thu được từ cuộc khai quật đầu tiên của nhà khảo cổ học J. Y. Claeys, di vật vô giá mà Simhapura để lại cho đời là “đài thờ vũ nữ Trà Kiệu” có kích thước lớn, bằng sa thạch, được trưng bày ở Bảo tàng Chăm Đà Nẵng.

Sau bao biến động, đổi thay, vùng Simhapura hoang phế nằm sát núi kề sông lại mở ra trang mới với công cuộc mở đất đầy cảm động của những lớp di dân mới.

541 năm trước, 13 di dân vùng Thanh Hóa, Nghệ An đã vào Trà Kiệu khai khẩn vùng đất bên sông bãi Thu Bồn và các chân núi Tào Sơn, Hòn Bằng, Bửu Châu để lập nên xã hiệu Trà Kiệu với hơn ngàn mẫu ruộng. Bên trang sử mở đất được truyền ghi, 333 năm trước dân làng Trà Kiệu đã xây nhà tự đường chung cho 13 vị tiền hiền này.

“Làng Trà Kiệu thời vua Thành Thái (1905) được chia thành năm xã là Trà Kiệu Thượng, Trung, Đông, Tây, Nam, gọi chung là Ngũ Xã Trà Kiệu. Nhưng từ đó đến nay người Ngũ Xã vẫn tụ tập về nhà thờ chung gọi là nhà thờ Ngũ Xã Trà Kiệu, được người Ngũ Xã chung sức làm lại hồi năm 1955, còn mãi đến giờ.

Cũng nhờ còn ngôi nhà thờ, còn các sắc phong, còn các ghi chép, điền bộ xưa mà hồi năm 2000 người Trà Kiệu mình mới tổ chức Lễ hội 530 năm Ngũ Xã Trà Kiệu đó...”, ông Dương Đức Quý - cư dân Trà Kiệu, nói về mái tự đường hiếm có trong lịch sử mở cõi về Nam.

Lụa Thu Bồn

Đây chính là của báu của Thu Bồn dành cho cư dân. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết: “Ở Quảng Nam lụa thuế chỉ lấy ở hai phủ Thăng Hoa và Điện Bàn. Phủ Thăng Hoa hàng năm nộp thuế lụa là 1.545 tấm. Thuộc Hoa Châu của phủ Thăng Hoa hằng năm nộp 809 tấm lụa thuế và 11 tấm lụa lễ, tất cả chứa trong 17 hòm để nộp”.


< Ươm tơ tại một xưởng ươm ở Chiêm Sơn, xã Duy Trinh.

Khó có thể nói một lượng lụa thuế lớn như thế thời bấy giờ lại không được lấy từ vùng dâu tằm lớn dọc hai bên bờ Thu Bồn vốn nằm trong hai địa hạt nói trên. Và ngày nay những người làm tằm tơ canh cửi bên sông không chỉ giữ được nghề xưa mà còn vươn đến công nghiệp dệt từ di sản lụa Thu Bồn của mình.

Giữa trưa, trong trại nuôi tằm của mình, ông Trịnh Anh ở làng dệt lụa Mã Châu miệt mài nhặt những con tằm già bỏ lên chà bủa dể chúng làm kén, kết thúc một lứa tằm. “Tính ra cũng sống được với nghề. Cái đất bên sông chịu cây dâu, cái nghề  tằm tơ canh cửi này là nghề cha truyền con nối của dân Thu Bồn mình mà"... , ông Anh nói.

< Kén tằm chín vàng nong đang chờ ươm.

Những người trồng dâu nuôi tằm lấy kén dọc sông Thu Bồn giờ còn lại không nhiều vì lụa tơ tằm không cạnh tranh nổi với các loại lụa làm bằng tơ nhân tạo ngoại nhập có giá rẻ. Kén tằm của người nuôi tằm Thu Bồn nay đang thiếu, được bán cho các lò ươm tơ trong vùng để kéo thành sợi cung cấp cho hai làng dệt lụa còn lại của vùng Thu Bồn là Mã Châu và Đông Yên (đều thuộc huyện Duy Xuyên).

Tặng vật lớn mà Thu Bồn trao tặng cư dân nơi nó đi qua có lẽ là những bãi biền thấm đẫm phù sa nằm dọc hai bờ ở vùng trung và hạ nguồn. Hiệp Thuận, Trà Linh, Tý, Sé, Bình Yên, Đại Bình, Duy Tân, Đại Thạnh, Đại Phước, Duy Châu, Chiêm Sơn, Thi Lai, Hà Mật, Bảo An, Xuân Đài... là những bãi biền từng ngút xanh cây dâu của các huyện Hiệp Đức, Nông Sơn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn thời xưa cũng như những năm 1980 với hơn ngàn héc-ta, Thu Bồn chính là dòng sông tơ lụa!

Bên cạnh nghề dệt lụa, các xã dọc bờ Thu Bồn (nhiều nhất là ở huyện Duy Xuyên) nhiều chục năm qua đã chuyển thành những làng, những hợp tác xã, những công ty dệt bán công nghiệp và công nghiệp - “một hiện tượng về công nghiệp dệt ít có ở vùng nông thôn trong nước” như nhiều người nhận xét.


< Dệt vải từ sợi cotton ở xưởng dệt Hùng Sương (44 máy dệt) ở làng Mã Châu, thị trấn Nam Phước, toàn thị trấn có trên 2.000 máy dệt gỗ, sắt.

Những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, một số người ở các làng dệt lụa dọc Thu Bồn đã tìm đến định cư ở Sài Gòn. Nghề dệt lụa mang theo như hành trang, không chỉ giúp họ kiếm sống và vươn lên nơi đô thành mà còn giúp được quê nhà, đã lôi cuốn thêm nhiều lớp di dân từ quê nhà vào đó sống với nghề dệt lụa, dệt vải.

Một “dấu ấn” độc đáo của những thợ dệt Thu Bồn định cư ở Sài Gòn là họ đã lập nên một làng thuần rặt người Quảng Nam giữa Sài Gòn với đại đa số người sống bằng nghề dệt và các dịch vụ nghề dệt - làng dệt Bảy Hiền nay thuộc P.11, Q.Tân Bình, TP.HCM - một tương tác với sự phát triển của nghề dệt quê nhà Thu Bồn.

Có lẽ ít có dòng sông nào trên đất nước đến nay còn giữ được nghề dệt lụa ngay trên biền bãi phù sa của mình như Thu Bồn. Và có lẽ cũng không có mấy vùng cư dân đã chuyển hóa chiếc khung dệt lụa sang chiếc khung dệt các loại sợi khác để tồn tại và đi lên với dòng sông quê mình như những người dệt lụa đất này.
Xem thêm >
Sống cùng Thu Bồn (P1)

Theo Huỳnh Văn Mỹ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(TTO) - Thu Bồn là dòng sông lớn của Quảng Nam và cả miền Trung, nối Ngọc Linh - dãy núi thiêng của Trường Sơn có đỉnh cao gần 2.600m với biển Đông qua cửa Đại. Chảy cùng dòng sông là những bến cảng, những nền văn minh lớn với những kinh đô, thành quách, những phố thị cổ xưa cùng những thôn làng rần rật mạch sống hôm nay.

< Cảnh đặc trưng của dòng Thu Bồn ở đoạn trung nguồn.

Là một trong những dòng sông nội địa có lưu vực lớn nhất ở nước ta, Thu Bồn với dòng chảy hết sức cuồng mãnh như góp phần rèn đúc sức dẻo dai cho những con người sống cùng con nước...

Đứng trên cầu Câu Lâu bắc qua Thu Bồn trên quốc lộ 1 nhìn lên hướng tây không ai có thể nhận ra đâu là dãy Ngọc Linh giữa Trường Sơn ngút mắt. Nhưng nhìn xuống hướng đông không xa là có thể thấy cửa Đại, nơi dòng nước Thu Bồn hòa với biển Đông.


< Chùa Thanh Lương vẫn được quen gọi chùa Trung Phường, được xây trên nền chùa Trung Phường xưa - nơi hành hương, cúng bái của các thương nhân nước ngoài thời xưa mỗi khi cập cảng Trung Phường.

Nằm cách cửa Đại không đầy 2km về hướng tây nam bên bờ hữu Thu Bồn nơi có cảng cá và bến thuyền nhỏ, khó có ai hình dung đây từng là một thương cảng quốc tế của "Con đường tơ lụa trên biển", tiền thân của cảng thị Hội An vang tiếng nằm ngay phía bên kia...

Cảng xưa, chùa cũ

Mới mờ sáng bến An Lương đã có nhiều thuyền cá cập bến và thuyền đưa khách vượt Thu Bồn sang phường Cửa Đại và phố cổ Hội An. Cảnh trên bến dưới thuyền càng rộn rịp khi hàng chục xe đông lạnh nối nhau chờ lấy cá, công nhân các xưởng cá đưa cá philê ra phơi bên bãi. Trong gió sớm, mùi nước mắm phả ra từ những lò lọc quanh chợ thật ấn tượng.

Bến chợ An Lương nay thuộc thôn An Lương, xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, nhưng nhiều người vẫn gọi đây là bến chợ Trung Phường dù Trung Phường nay là một thôn nằm kề dưới An Lương. Tiếng tăm một thời của một cảng thị Trung Phường to lớn bên bờ Thu Bồn đã in đậm trong tâm thức cư dân vùng hạ Thu Bồn dù họ chỉ được nghe kể lại.

“Ông cha mình truyền lại rằng Trung Phường là một thương cảng lớn của người Chăm xưa. Tàu thuyền các nước từ Trung Hoa, Nhật Bản cho đến Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... thường cập cảng Trung Phường để lấy hàng hóa như tơ lụa, quế, cau, trầm hương cũng như lấy thêm lương thực, nước ngọt...” - lão làng Nguyễn Thọ (91 tuổi) ở sát chợ An Lương kể.

Cảng Trung Phường xưa nằm dưới bến chợ An Lương chỉ chừng dăm trăm mét, là chỗ cuối cùng của hữu ngạn Thu Bồn. Dấu tích cảng xưa còn lại là một âu thuyền bị bồi lấp, nay được gọi là bàu Trung Phường, nằm bên doi cát lớn sát biển - một dâu bể tận cùng do dòng chảy cuồng bạo của con nước Thu Bồn mùa lũ.


< Cầu Cửa Đại - cây cầu cuối dòng Thu Bồn đang được xây để mở rộng đô thị du lịch Hội An sang bờ nam Thu Bồn gồm các xã Duy Hải, Duy Nghĩa (huyện Duy Xuyên).

Kề doi cát biển và bàu Trung Phường nay vẫn là làng mạc với ít nhất năm giếng nước của người Chăm xưa còn lại. Giếng được xây bằng loại gạch mà người Chăm đã dùng để xây tháp, ngâm mình dưới nước ngót ngàn năm nay vẫn không bị hư hại, là nơi cung cấp nước ngọt cho các tàu thuyền cập cảng.

Một di sản của Trung Phường ghi dấu "Con đường tơ lụa trên biển" là ngôi chùa với rất nhiều vật cúng dường từ thương nhân các nước. Qua nhiều lần được trùng tu rồi xây lại, ngôi chùa nay có tên là Thanh Lương nhưng vẫn được quen gọi là chùa Trung Phường. Ông Nguyễn Tấn Ngọc - trưởng ban trị sự chùa Trung Phường - kể ngôi chùa lúc khởi nguyên vốn được xây toàn bằng gạch Chăm, là nơi hành hương, cúng bái của những người đi trên tàu buôn mỗi khi cập cảng.


< Những làng quê bên sông ở các “ốc đảo” Cẩm Kim, Cẩm Nam, Cẩm Thanh đẹp thế này luôn thu hút khách đến.

“Không đếm hết được số tượng những thương nhân nước ngoài tặng cho chùa Trung Phường. Do bị bom đạn trong chiến tranh làm sập chùa, tượng bị mất gần hết. May là pho tượng Đức Thích Ca do thương nhân Nhật tặng còn giữ lại được, còn pho tượng Phật của người Chăm lưu lại thì chỉ còn lại phần đầu. Tiếc lắm...”, ông Ngọc kể.

Phố cổ và những cù lao

Phố cổ Hội An trông đẹp hơn khi đứng từ cồn An Hội nhìn sang. Phần tặng vật độc đáo nhất mà Thu Bồn cho cư dân vùng cuối dòng là những “cù lao” mà khi chảy đến đây sông chẻ dòng ra làm nhiều nhánh rồi tải phù sa về bồi đắp để những bãi cồn được mình bao bọc mỗi năm một rộng lớn thêm.


< Phố cổ Hội An đẹp một phần nhờ đứng cạnh bên sông.

Cồn An Hội nay đường đường là phố phường hiện đại khi được nối liền với phố thị Hội An bằng những cây cầu bắc qua sông Hoài - một nhánh chẻ rất ngắn của Thu Bồn. Theo người dân nơi đây, cồn cũng chỉ mới có được diện tích như bây giờ qua sự bồi đắp phù sa dăm chục năm qua.

Cũng bởi dòng chảy Thu Bồn trào tuôn dữ dội vào mùa lũ, những bến cảng ở cuối dòng sông này thời trước thường mau bị bồi lấp. Thương cảng Trung Phường đã bị xóa sổ trên bản đồ "Con đường tơ lụa trên biển" để nhường chỗ cho Hội An ở phía đối diện. Và rồi thương cảng mới bên sông này lại cũng bị phế bỏ như cảng thị Trung Phường một phần cũng vì vậy.

Cảng mất, nhưng phố thị vẫn còn. Hội An đẹp nhờ có Thu Bồn làm gương cho phố soi hình. Có đi thuyền từ An Lương hay Nồi Rang - những bến đò nằm ở hữu ngạn Thu Bồn, nhìn sang mới thấy cái đẹp của phố thị Hội An bên mép nước một đại giang. Sau ngày Hội An trở thành di sản văn hóa thế giới (1999), lượng du khách đến đây mỗi năm càng tăng.


< Tham quan, mua hàng lưu niệm ở làng mộc Kim Bồng ở “cù lao” Cẩm Kim bên bờ sông Thu Bồn là thú vui của du khách.

Bên cạnh những sản phẩm du lịch nhất định của phố cổ, niềm hứng khởi thêm vào cho du khách chính là đi thuyền trên sông Thu Bồn. Và cũng chính con sông này đã dẫn dắt khách du mở rộng bước chân khám phá, kéo dài thêm thời gian lưu trú của họ khi đến Hội An. Những “cù lao” Cẩm Nam, Cẩm Thanh, Cẩm Kim bên dòng sông lồng lộng đã cho họ những “toa” khám phá thiên nhiên, cuộc sống và con người vùng sông nước, bãi biền kề bên phố thị đầy hấp dẫn.

Từ Hội An, chỉ cần thuê xe đạp hay bách bộ vượt cầu đến Cẩm Nam, Cẩm Thanh hay đi đò sang Cẩm Kim là có thể hưởng được bầu không khí trong lành tỏa ra từ sông nước, bãi biền cùng vườn tược ngát xanh. “Nói thiệt, Hội An mà thiếu các điểm đến này sẽ ít hấp dẫn du khách...”, ông Phạm Đức Bàng, một cư dân Hội An, nói.

Sống cùng Thu Bồn (P2)
Xem thêm >

Theo Huỳnh Văn Mỹ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Sống cùng Thu Bồn (P1)

(TTO) - Thu Bồn là dòng sông lớn của Quảng Nam và cả miền Trung, nối Ngọc Linh - dãy núi thiêng của Trường Sơn có đỉnh cao gần 2.600m với biển Đông qua cửa Đại. Chảy cùng dòng sông là những bến cảng, những nền văn minh lớn với những kinh đô, thành quách, những phố thị cổ xưa cùng những thôn làng rần rật mạch sống hôm nay.

< Cảnh đặc trưng của dòng Thu Bồn ở đoạn trung nguồn.

Là một trong những dòng sông nội địa có lưu vực lớn nhất ở nước ta, Thu Bồn với dòng chảy hết sức cuồng mãnh như góp phần rèn đúc sức dẻo dai cho những con người sống cùng con nước...

Đứng trên cầu Câu Lâu bắc qua Thu Bồn trên quốc lộ 1 nhìn lên hướng tây không ai có thể nhận ra đâu là dãy Ngọc Linh giữa Trường Sơn ngút mắt. Nhưng nhìn xuống hướng đông không xa là có thể thấy cửa Đại, nơi dòng nước Thu Bồn hòa với biển Đông.


< Chùa Thanh Lương vẫn được quen gọi chùa Trung Phường, được xây trên nền chùa Trung Phường xưa - nơi hành hương, cúng bái của các thương nhân nước ngoài thời xưa mỗi khi cập cảng Trung Phường.

Nằm cách cửa Đại không đầy 2km về hướng tây nam bên bờ hữu Thu Bồn nơi có cảng cá và bến thuyền nhỏ, khó có ai hình dung đây từng là một thương cảng quốc tế của "Con đường tơ lụa trên biển", tiền thân của cảng thị Hội An vang tiếng nằm ngay phía bên kia...

Cảng xưa, chùa cũ

Mới mờ sáng bến An Lương đã có nhiều thuyền cá cập bến và thuyền đưa khách vượt Thu Bồn sang phường Cửa Đại và phố cổ Hội An. Cảnh trên bến dưới thuyền càng rộn rịp khi hàng chục xe đông lạnh nối nhau chờ lấy cá, công nhân các xưởng cá đưa cá philê ra phơi bên bãi. Trong gió sớm, mùi nước mắm phả ra từ những lò lọc quanh chợ thật ấn tượng.

Bến chợ An Lương nay thuộc thôn An Lương, xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, nhưng nhiều người vẫn gọi đây là bến chợ Trung Phường dù Trung Phường nay là một thôn nằm kề dưới An Lương. Tiếng tăm một thời của một cảng thị Trung Phường to lớn bên bờ Thu Bồn đã in đậm trong tâm thức cư dân vùng hạ Thu Bồn dù họ chỉ được nghe kể lại.

“Ông cha mình truyền lại rằng Trung Phường là một thương cảng lớn của người Chăm xưa. Tàu thuyền các nước từ Trung Hoa, Nhật Bản cho đến Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... thường cập cảng Trung Phường để lấy hàng hóa như tơ lụa, quế, cau, trầm hương cũng như lấy thêm lương thực, nước ngọt...” - lão làng Nguyễn Thọ (91 tuổi) ở sát chợ An Lương kể.

Cảng Trung Phường xưa nằm dưới bến chợ An Lương chỉ chừng dăm trăm mét, là chỗ cuối cùng của hữu ngạn Thu Bồn. Dấu tích cảng xưa còn lại là một âu thuyền bị bồi lấp, nay được gọi là bàu Trung Phường, nằm bên doi cát lớn sát biển - một dâu bể tận cùng do dòng chảy cuồng bạo của con nước Thu Bồn mùa lũ.


< Cầu Cửa Đại - cây cầu cuối dòng Thu Bồn đang được xây để mở rộng đô thị du lịch Hội An sang bờ nam Thu Bồn gồm các xã Duy Hải, Duy Nghĩa (huyện Duy Xuyên).

Kề doi cát biển và bàu Trung Phường nay vẫn là làng mạc với ít nhất năm giếng nước của người Chăm xưa còn lại. Giếng được xây bằng loại gạch mà người Chăm đã dùng để xây tháp, ngâm mình dưới nước ngót ngàn năm nay vẫn không bị hư hại, là nơi cung cấp nước ngọt cho các tàu thuyền cập cảng.

Một di sản của Trung Phường ghi dấu "Con đường tơ lụa trên biển" là ngôi chùa với rất nhiều vật cúng dường từ thương nhân các nước. Qua nhiều lần được trùng tu rồi xây lại, ngôi chùa nay có tên là Thanh Lương nhưng vẫn được quen gọi là chùa Trung Phường. Ông Nguyễn Tấn Ngọc - trưởng ban trị sự chùa Trung Phường - kể ngôi chùa lúc khởi nguyên vốn được xây toàn bằng gạch Chăm, là nơi hành hương, cúng bái của những người đi trên tàu buôn mỗi khi cập cảng.


< Những làng quê bên sông ở các “ốc đảo” Cẩm Kim, Cẩm Nam, Cẩm Thanh đẹp thế này luôn thu hút khách đến.

“Không đếm hết được số tượng những thương nhân nước ngoài tặng cho chùa Trung Phường. Do bị bom đạn trong chiến tranh làm sập chùa, tượng bị mất gần hết. May là pho tượng Đức Thích Ca do thương nhân Nhật tặng còn giữ lại được, còn pho tượng Phật của người Chăm lưu lại thì chỉ còn lại phần đầu. Tiếc lắm...”, ông Ngọc kể.

Phố cổ và những cù lao

Phố cổ Hội An trông đẹp hơn khi đứng từ cồn An Hội nhìn sang. Phần tặng vật độc đáo nhất mà Thu Bồn cho cư dân vùng cuối dòng là những “cù lao” mà khi chảy đến đây sông chẻ dòng ra làm nhiều nhánh rồi tải phù sa về bồi đắp để những bãi cồn được mình bao bọc mỗi năm một rộng lớn thêm.


< Phố cổ Hội An đẹp một phần nhờ đứng cạnh bên sông.

Cồn An Hội nay đường đường là phố phường hiện đại khi được nối liền với phố thị Hội An bằng những cây cầu bắc qua sông Hoài - một nhánh chẻ rất ngắn của Thu Bồn. Theo người dân nơi đây, cồn cũng chỉ mới có được diện tích như bây giờ qua sự bồi đắp phù sa dăm chục năm qua.

Cũng bởi dòng chảy Thu Bồn trào tuôn dữ dội vào mùa lũ, những bến cảng ở cuối dòng sông này thời trước thường mau bị bồi lấp. Thương cảng Trung Phường đã bị xóa sổ trên bản đồ "Con đường tơ lụa trên biển" để nhường chỗ cho Hội An ở phía đối diện. Và rồi thương cảng mới bên sông này lại cũng bị phế bỏ như cảng thị Trung Phường một phần cũng vì vậy.

Cảng mất, nhưng phố thị vẫn còn. Hội An đẹp nhờ có Thu Bồn làm gương cho phố soi hình. Có đi thuyền từ An Lương hay Nồi Rang - những bến đò nằm ở hữu ngạn Thu Bồn, nhìn sang mới thấy cái đẹp của phố thị Hội An bên mép nước một đại giang. Sau ngày Hội An trở thành di sản văn hóa thế giới (1999), lượng du khách đến đây mỗi năm càng tăng.


< Tham quan, mua hàng lưu niệm ở làng mộc Kim Bồng ở “cù lao” Cẩm Kim bên bờ sông Thu Bồn là thú vui của du khách.

Bên cạnh những sản phẩm du lịch nhất định của phố cổ, niềm hứng khởi thêm vào cho du khách chính là đi thuyền trên sông Thu Bồn. Và cũng chính con sông này đã dẫn dắt khách du mở rộng bước chân khám phá, kéo dài thêm thời gian lưu trú của họ khi đến Hội An. Những “cù lao” Cẩm Nam, Cẩm Thanh, Cẩm Kim bên dòng sông lồng lộng đã cho họ những “toa” khám phá thiên nhiên, cuộc sống và con người vùng sông nước, bãi biền kề bên phố thị đầy hấp dẫn.

Từ Hội An, chỉ cần thuê xe đạp hay bách bộ vượt cầu đến Cẩm Nam, Cẩm Thanh hay đi đò sang Cẩm Kim là có thể hưởng được bầu không khí trong lành tỏa ra từ sông nước, bãi biền cùng vườn tược ngát xanh. “Nói thiệt, Hội An mà thiếu các điểm đến này sẽ ít hấp dẫn du khách...”, ông Phạm Đức Bàng, một cư dân Hội An, nói.

Sống cùng Thu Bồn (P2)
Xem thêm >

Theo Huỳnh Văn Mỹ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..