(Giải trí) - Khi Thức và Tâm còn đang mải mê phượt, hai bên gia đình đã gặp nhau và quyết định ngày cưới cho đôi trẻ. Kết hôn xong, hai vợ chồng sang Lào hưởng tuần trăng mật bằng xe máy.

< Không nên duyên nhờ phượt nhưng những chuyến đi đã gắn kết tình yêu của hai người lại gần nhau hơn.

Đôi vợ chồng Phạm Thành Thức (29 tuổi) và Ngô Lê Tâm (26 tuổi) chuẩn bị đón con gái đầu lòng. "Bằng giờ này năm trước, bọn mình còn đang đi trăng mật xuyên Lào bằng xe máy, thế mà giờ mình ôm bụng bầu 7 tháng chuẩn bị sinh rồi", Tâm cười cho hay.

< Từ khi còn là cô gái 17 ruổi, Ngô Lê Tâm đã bắt đầu xách balo lên và đi.

Khi còn là cô gái 17 tuổi bé con, đen nhẻm, Tâm bắt đầu đi du lịch bụi với  những chuyến leo Fansipan và chinh phục mọi miền tổ quốc. Năm 2008, cô và chồng quen nhau khi anh vào công ty cô làm việc. Vốn ngang bướng nên dù Thức hơn 3 tuổi, cô vẫn không chịu gọi là anh mà xưng ngang mày, tao.

Chỉ vài tháng sau, cô nhận được lời tỏ tình "Tao yêu mày" từ chàng kiến trúc sư trẻ tuổi. Tâm giật mình, bảo lúc đầu không định nhận lời vì từ Hà Nội về Bắc Ninh "xa quá, những 35 km liền", nhưng sau hai người yêu nhau.

< Tâm hy vọng, trong cuộc hành trình khám phá những vùng đất mới về sau, ngoài hai vợ chồng sẽ có thêm con gái nhỏ.

Nhớ lại thời gian ấy, anh Thức chỉ cười bảo bị ấn tượng với cô gái bướng bỉnh, nói nhiều và mê những chuyến đi. "Tâm xưng ngang, mình cũng không có gì khó chịu. Mình có nhiều bạn ít tuổi và vẫn xưng hô mày tao. Chuyện xưng hô không quan trọng bằng việc người ta đối xử với nhau thế nào", người chồng chia sẻ.

Sau khi yêu nhau, Tâm kéo Thức trở thành bạn đồng hành trong những chuyến đi xa gần của cô. Từ Đồng Cao đến Sapa, rồi Hà Giang, Yên Bái, nơi đâu cũng in dấu chân hai người. Trước đó Thức chỉ dành đam mê cho công việc, giờ anh cũng thích đi du lịch bụi bằng xe máy. Anh học được ở người yêu cách gấp quần áo và nhét vào túi rất gọn gàng khi phải đi xa.

< Cuối năm 2012, họ trở thành vợ chồng. Khi hai bên gia đình tổ chức gặp mặt, đôi trẻ vẫn đang đi du lịch khắp các nơi như Quảng Bình, Sapa.

Giữa năm 2012, đôi trẻ vừa kết thúc chuyến đi Sapa về Hà Nội thì mẹ Tâm bảo cô chuẩn bị váy cưới lấy chồng. Cô ngạc nhiên: "Ơ, sao lại có chuyện lấy chồng?", rồi gọi ngay cho người yêu. Anh cũng bất ngờ, hỏi bố mẹ thì nhận được câu trả lời là ngày cưới hai bên đã định, cứ thế mà tiến hành.

"Chuyện cưới xin cũng rất buồn cười. Thì ra trước đó một tháng, khi bọn mình đang dắt nhau đi chơi Quảng Bình thì bố mẹ anh từ Bắc Ninh ra Hà Nội thăm nhà và bàn luôn chuyện cưới xin cho con cái. Các cụ nhà mình thì khỏi nói, mừng vì 'tống cổ' được con đi", Tâm hài hước kể lại.

Đám cưới của đôi uyên ương diễn ra tháng 9/2012 ở Bắc Ninh và cuối tháng 12 ở Hà Nội. Vợ chồng trẻ dự định đi trăng mật ở Côn Đảo, Phú Quốc. Cuối cùng, được chồng rủ đi Lào, Tâm gật đầu đồng ý ngay. Điểm đến của họ là cố đô Luang Prabang xinh đẹp.

< Bộ ảnh cưới được thực hiện nhờ sự giúp sức từ những người bạn đam mê phượt. Tâm cho biết, để chụp xong bộ ảnh cưới, vợ chồng cô phải mất bốn ngày. "Chụp được một lúc là mình mệt, chán quá lại rủ cả hội đi ăn, không chụp ảnh cưới nữa", cô vợ trẻ lý giải.

"Bọn mình lên kế hoạch trước Tết, định đi ôtô nhưng chồng bảo đi xe máy. Ăn Tết xong, hai vợ chồng đi luôn. Bố mẹ quá quen với việc chúng mình có những chuyến lang thang xa nên cũng không ý kiến gì", Tâm cho hay.

< Kết hôn xong, đôi vợ chồng quyết định 'xách nhau lên và đi' hưởng tuần trăng mật bên Lào, điểm đến chính là cố đô Luang Prabang xinh đẹp. Chuyến đi 6 ngày bằng xe máy, họ bắt đầu từ Hà Nội lên cửa khẩu Tây Trang (Điện Biên), qua Lào rồi về Việt Nam qua cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An).

Lúc đầu, vợ chồng Tâm định đi đường cửa khẩu Lóng Sập (Sơn La), nhưng nghe nói đường đi nguy hiểm nên đổi ý. Họ qua cửa khẩu Tây Trang (Điện Biên), sang Luang Prabang, đi Xiêng Khoảng rồi qua cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An) và về Hà Nội. Tổng hành trình dài gần 2.000 km.

< Lào xinh đẹp, bình yên, mến khách, người dân hiền lành là cảm nhận chung của cả hai sau chuyến trăng mật.

Tâm kể, chuyến đi ngẫu hứng nhưng cũng là tuần trăng mật bão táp. Dù đi du lịch bụi nhiều chuyến trong nước nhưng cả hai không tránh khỏi những bỡ ngỡ khi lần đầu sang Lào. Trước đó rộ lên tin đồn không cho xe máy qua cửa khẩu nên vợ chồng Tâm khá lo lắng. Họ không chuẩn bị nhiều đồ mang theo, dự định nếu không thể sang Lào thì sẽ đi một vòng quanh các tỉnh Tây Bắc.

Làm thủ tục qua cửa khẩu Tây Trang an toàn và nhanh chóng, những con đường Lào ngoằn ngoèo nhưng thoáng rộng hiện ra trước tay lái của đôi trẻ. Họ đi đúng mùa hoa đào đậu nở, những chùm hoa tím đẹp khiến Tâm vô cùng thích thú.

Trước khi đi, cả hai tìm hiểu trước và được biết bên Lào có rất ít cây xăng nhưng không ngờ lại ít đến thế. Trên đường, xe bị hết xăng ở nơi dân cư thưa thớt, vợ chồng Tâm phải xin mua lại xăng dự trữ ven đường với giá khá "chát". Rút kinh nghiệm, cô bảo lần sau quay trở lại Lào bằng xe máy sẽ nhớ mang theo xăng dự trữ vì giá xăng bên này đắt gấp rưỡi Việt Nam.

< Cung đường phủ đầy hoa đào đậu tím ngắt, nên thơ hiện lên dưới ống kính những tâm hồn ưa xê dịch.

"Khó khăn nhất trong suốt hành trình là cả hai không biết tiếng Lào, trong khi người bản địa hầu như không thạo tiếng Anh. Khi muốn mua gì đó hoặc đổ xăng, bọn mình phải diễn tả bằng những cử chỉ, điệu bộ rất buồn cười", Tâm cho hay.

Khi vợ chồng Tâm thuê nhà nghỉ ở một thị trấn nhỏ, họ không thể nói được từ "nước nóng" cho bà chủ nhà hiểu. Vậy là chồng cô nhanh trí lấy hộp sữa Milo mang theo và chỉ vào công thức pha chế, có hình bát nước nóng bốc lên. Khi đó, bà chủ nhà cười và nhiệt tình chỉ dẫn cho khách nghỉ ngơi. Tối đó, cả hai được ăn món xôi gà ngon nhất từ trước đến giờ mà tính ra tiền Việt chỉ 40.000 đồng.

< Đôi bạn trẻ đi thăm cánh đồng Chum ở Xiêng Khoảng. Tại đây, hai vợ chồng gặp đoàn cựu binh người Lào về thăm chiến trường xưa. Biết Tâm và Thức đi du lịch, những cựu binh vui vẻ nhắc lại địa danh ở Việt Nam mà họ từng tham gia chiến đấu.

Khi chuẩn bị đi vào cửa ngõ Luang Prabang, đôi vợ chồng người Việt bị cảnh sát giao thông Lào tuýt còi yêu cầu kiểm tra giấy giờ. Cả hai chuẩn bị tinh thần nói tiếng Anh, nhưng lại bất ngờ khi nghe cảnh sát hỏi giấy tờ xe rất sõi bằng tiếng Việt. Biết đôi trẻ đi hưởng tuần trăng mật bằng xe máy, họ ồ lên thích thú, chỉ dẫn đường nhiệt tình và còn chúc gặp nhiều may mắn.

< Phút nghỉ ngơi bên đường của Tâm trên hành trình trăng mật.

Qua trạm giao thông, cố đô xinh đẹp đã hiện ra. Trong cảm nhận của Tâm, đường phố ở đây không khác nhiều so với phố cổ Hội An, nhưng yên bình và có nhiều chùa chiền hơn. Hầu như nhà nào cũng trồng những giàn hoa giấy bên hiên rất đẹp, hoa phủ dọc lối nhỏ yên bình. Những ngày ở đây, hai vợ chồng thường dậy sớm để xem nhà sư đi khất thực.

Nước Lào để lại ấn tượng đẹp cho đôi vợ chồng trẻ qua cách người dân tham gia giao thông. "Người Lào hầu như không bao giờ bóp còi xe khi đi trên đường. Bọn mình đi đến ngã tư, đường rất tắc nhưng không nghe thấy tiếng còi, cũng không ai lấn làn, đi lên vỉa hè. Nếu nghe tiếng còi xe, quay lại đích thị là người Việt mình sống bên đó", Tâm kể.

< Tận hưởng cảm giác thư thái trong quán cà phê dưới tán hoa giấy ở Luang Prabang.

Kết thúc kỳ trăng mật, vợ chồng Tâm đi từ Xiêng Khoảng về cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An). Dọc đường, họ còn ghé một số tỉnh chơi rồi mới về Hà Nội, kết thúc tuần trăng mật gần 2.000 km, tiêu hết hơn 8 triệu đồng. Luang Prabang rất đẹp nên Tâm bảo vẫn muốn quay lại đó một lần nữa. Sau chuyến đi, hai vợ chồng còn đi Hà Giang, Đà Nẵng và một số nơi trước khi Tâm mang bầu.

"Mình đang mang bầu nên phải tạm gác lại những chuyến đi. Khi nào con gái cứng cáp, bọn mình sẽ suy nghĩ về việc cho con đi du lịch bụi cùng cha mẹ. Hy vọng sau này, trong những cuộc hành trình của cả hai vợ chồng sẽ có thêm thành viên nhí ngồi giữa xe", Tâm cho hay.

Theo Hoàng Phương (VnExpress)
Du lịch, GO!

Tuần trăng mật xuyên Lào

(Giải trí) - Khi Thức và Tâm còn đang mải mê phượt, hai bên gia đình đã gặp nhau và quyết định ngày cưới cho đôi trẻ. Kết hôn xong, hai vợ chồng sang Lào hưởng tuần trăng mật bằng xe máy.

< Không nên duyên nhờ phượt nhưng những chuyến đi đã gắn kết tình yêu của hai người lại gần nhau hơn.

Đôi vợ chồng Phạm Thành Thức (29 tuổi) và Ngô Lê Tâm (26 tuổi) chuẩn bị đón con gái đầu lòng. "Bằng giờ này năm trước, bọn mình còn đang đi trăng mật xuyên Lào bằng xe máy, thế mà giờ mình ôm bụng bầu 7 tháng chuẩn bị sinh rồi", Tâm cười cho hay.

< Từ khi còn là cô gái 17 ruổi, Ngô Lê Tâm đã bắt đầu xách balo lên và đi.

Khi còn là cô gái 17 tuổi bé con, đen nhẻm, Tâm bắt đầu đi du lịch bụi với  những chuyến leo Fansipan và chinh phục mọi miền tổ quốc. Năm 2008, cô và chồng quen nhau khi anh vào công ty cô làm việc. Vốn ngang bướng nên dù Thức hơn 3 tuổi, cô vẫn không chịu gọi là anh mà xưng ngang mày, tao.

Chỉ vài tháng sau, cô nhận được lời tỏ tình "Tao yêu mày" từ chàng kiến trúc sư trẻ tuổi. Tâm giật mình, bảo lúc đầu không định nhận lời vì từ Hà Nội về Bắc Ninh "xa quá, những 35 km liền", nhưng sau hai người yêu nhau.

< Tâm hy vọng, trong cuộc hành trình khám phá những vùng đất mới về sau, ngoài hai vợ chồng sẽ có thêm con gái nhỏ.

Nhớ lại thời gian ấy, anh Thức chỉ cười bảo bị ấn tượng với cô gái bướng bỉnh, nói nhiều và mê những chuyến đi. "Tâm xưng ngang, mình cũng không có gì khó chịu. Mình có nhiều bạn ít tuổi và vẫn xưng hô mày tao. Chuyện xưng hô không quan trọng bằng việc người ta đối xử với nhau thế nào", người chồng chia sẻ.

Sau khi yêu nhau, Tâm kéo Thức trở thành bạn đồng hành trong những chuyến đi xa gần của cô. Từ Đồng Cao đến Sapa, rồi Hà Giang, Yên Bái, nơi đâu cũng in dấu chân hai người. Trước đó Thức chỉ dành đam mê cho công việc, giờ anh cũng thích đi du lịch bụi bằng xe máy. Anh học được ở người yêu cách gấp quần áo và nhét vào túi rất gọn gàng khi phải đi xa.

< Cuối năm 2012, họ trở thành vợ chồng. Khi hai bên gia đình tổ chức gặp mặt, đôi trẻ vẫn đang đi du lịch khắp các nơi như Quảng Bình, Sapa.

Giữa năm 2012, đôi trẻ vừa kết thúc chuyến đi Sapa về Hà Nội thì mẹ Tâm bảo cô chuẩn bị váy cưới lấy chồng. Cô ngạc nhiên: "Ơ, sao lại có chuyện lấy chồng?", rồi gọi ngay cho người yêu. Anh cũng bất ngờ, hỏi bố mẹ thì nhận được câu trả lời là ngày cưới hai bên đã định, cứ thế mà tiến hành.

"Chuyện cưới xin cũng rất buồn cười. Thì ra trước đó một tháng, khi bọn mình đang dắt nhau đi chơi Quảng Bình thì bố mẹ anh từ Bắc Ninh ra Hà Nội thăm nhà và bàn luôn chuyện cưới xin cho con cái. Các cụ nhà mình thì khỏi nói, mừng vì 'tống cổ' được con đi", Tâm hài hước kể lại.

Đám cưới của đôi uyên ương diễn ra tháng 9/2012 ở Bắc Ninh và cuối tháng 12 ở Hà Nội. Vợ chồng trẻ dự định đi trăng mật ở Côn Đảo, Phú Quốc. Cuối cùng, được chồng rủ đi Lào, Tâm gật đầu đồng ý ngay. Điểm đến của họ là cố đô Luang Prabang xinh đẹp.

< Bộ ảnh cưới được thực hiện nhờ sự giúp sức từ những người bạn đam mê phượt. Tâm cho biết, để chụp xong bộ ảnh cưới, vợ chồng cô phải mất bốn ngày. "Chụp được một lúc là mình mệt, chán quá lại rủ cả hội đi ăn, không chụp ảnh cưới nữa", cô vợ trẻ lý giải.

"Bọn mình lên kế hoạch trước Tết, định đi ôtô nhưng chồng bảo đi xe máy. Ăn Tết xong, hai vợ chồng đi luôn. Bố mẹ quá quen với việc chúng mình có những chuyến lang thang xa nên cũng không ý kiến gì", Tâm cho hay.

< Kết hôn xong, đôi vợ chồng quyết định 'xách nhau lên và đi' hưởng tuần trăng mật bên Lào, điểm đến chính là cố đô Luang Prabang xinh đẹp. Chuyến đi 6 ngày bằng xe máy, họ bắt đầu từ Hà Nội lên cửa khẩu Tây Trang (Điện Biên), qua Lào rồi về Việt Nam qua cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An).

Lúc đầu, vợ chồng Tâm định đi đường cửa khẩu Lóng Sập (Sơn La), nhưng nghe nói đường đi nguy hiểm nên đổi ý. Họ qua cửa khẩu Tây Trang (Điện Biên), sang Luang Prabang, đi Xiêng Khoảng rồi qua cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An) và về Hà Nội. Tổng hành trình dài gần 2.000 km.

< Lào xinh đẹp, bình yên, mến khách, người dân hiền lành là cảm nhận chung của cả hai sau chuyến trăng mật.

Tâm kể, chuyến đi ngẫu hứng nhưng cũng là tuần trăng mật bão táp. Dù đi du lịch bụi nhiều chuyến trong nước nhưng cả hai không tránh khỏi những bỡ ngỡ khi lần đầu sang Lào. Trước đó rộ lên tin đồn không cho xe máy qua cửa khẩu nên vợ chồng Tâm khá lo lắng. Họ không chuẩn bị nhiều đồ mang theo, dự định nếu không thể sang Lào thì sẽ đi một vòng quanh các tỉnh Tây Bắc.

Làm thủ tục qua cửa khẩu Tây Trang an toàn và nhanh chóng, những con đường Lào ngoằn ngoèo nhưng thoáng rộng hiện ra trước tay lái của đôi trẻ. Họ đi đúng mùa hoa đào đậu nở, những chùm hoa tím đẹp khiến Tâm vô cùng thích thú.

Trước khi đi, cả hai tìm hiểu trước và được biết bên Lào có rất ít cây xăng nhưng không ngờ lại ít đến thế. Trên đường, xe bị hết xăng ở nơi dân cư thưa thớt, vợ chồng Tâm phải xin mua lại xăng dự trữ ven đường với giá khá "chát". Rút kinh nghiệm, cô bảo lần sau quay trở lại Lào bằng xe máy sẽ nhớ mang theo xăng dự trữ vì giá xăng bên này đắt gấp rưỡi Việt Nam.

< Cung đường phủ đầy hoa đào đậu tím ngắt, nên thơ hiện lên dưới ống kính những tâm hồn ưa xê dịch.

"Khó khăn nhất trong suốt hành trình là cả hai không biết tiếng Lào, trong khi người bản địa hầu như không thạo tiếng Anh. Khi muốn mua gì đó hoặc đổ xăng, bọn mình phải diễn tả bằng những cử chỉ, điệu bộ rất buồn cười", Tâm cho hay.

Khi vợ chồng Tâm thuê nhà nghỉ ở một thị trấn nhỏ, họ không thể nói được từ "nước nóng" cho bà chủ nhà hiểu. Vậy là chồng cô nhanh trí lấy hộp sữa Milo mang theo và chỉ vào công thức pha chế, có hình bát nước nóng bốc lên. Khi đó, bà chủ nhà cười và nhiệt tình chỉ dẫn cho khách nghỉ ngơi. Tối đó, cả hai được ăn món xôi gà ngon nhất từ trước đến giờ mà tính ra tiền Việt chỉ 40.000 đồng.

< Đôi bạn trẻ đi thăm cánh đồng Chum ở Xiêng Khoảng. Tại đây, hai vợ chồng gặp đoàn cựu binh người Lào về thăm chiến trường xưa. Biết Tâm và Thức đi du lịch, những cựu binh vui vẻ nhắc lại địa danh ở Việt Nam mà họ từng tham gia chiến đấu.

Khi chuẩn bị đi vào cửa ngõ Luang Prabang, đôi vợ chồng người Việt bị cảnh sát giao thông Lào tuýt còi yêu cầu kiểm tra giấy giờ. Cả hai chuẩn bị tinh thần nói tiếng Anh, nhưng lại bất ngờ khi nghe cảnh sát hỏi giấy tờ xe rất sõi bằng tiếng Việt. Biết đôi trẻ đi hưởng tuần trăng mật bằng xe máy, họ ồ lên thích thú, chỉ dẫn đường nhiệt tình và còn chúc gặp nhiều may mắn.

< Phút nghỉ ngơi bên đường của Tâm trên hành trình trăng mật.

Qua trạm giao thông, cố đô xinh đẹp đã hiện ra. Trong cảm nhận của Tâm, đường phố ở đây không khác nhiều so với phố cổ Hội An, nhưng yên bình và có nhiều chùa chiền hơn. Hầu như nhà nào cũng trồng những giàn hoa giấy bên hiên rất đẹp, hoa phủ dọc lối nhỏ yên bình. Những ngày ở đây, hai vợ chồng thường dậy sớm để xem nhà sư đi khất thực.

Nước Lào để lại ấn tượng đẹp cho đôi vợ chồng trẻ qua cách người dân tham gia giao thông. "Người Lào hầu như không bao giờ bóp còi xe khi đi trên đường. Bọn mình đi đến ngã tư, đường rất tắc nhưng không nghe thấy tiếng còi, cũng không ai lấn làn, đi lên vỉa hè. Nếu nghe tiếng còi xe, quay lại đích thị là người Việt mình sống bên đó", Tâm kể.

< Tận hưởng cảm giác thư thái trong quán cà phê dưới tán hoa giấy ở Luang Prabang.

Kết thúc kỳ trăng mật, vợ chồng Tâm đi từ Xiêng Khoảng về cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An). Dọc đường, họ còn ghé một số tỉnh chơi rồi mới về Hà Nội, kết thúc tuần trăng mật gần 2.000 km, tiêu hết hơn 8 triệu đồng. Luang Prabang rất đẹp nên Tâm bảo vẫn muốn quay lại đó một lần nữa. Sau chuyến đi, hai vợ chồng còn đi Hà Giang, Đà Nẵng và một số nơi trước khi Tâm mang bầu.

"Mình đang mang bầu nên phải tạm gác lại những chuyến đi. Khi nào con gái cứng cáp, bọn mình sẽ suy nghĩ về việc cho con đi du lịch bụi cùng cha mẹ. Hy vọng sau này, trong những cuộc hành trình của cả hai vợ chồng sẽ có thêm thành viên nhí ngồi giữa xe", Tâm cho hay.

Theo Hoàng Phương (VnExpress)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Trong mâm ngũ quả chưng trên bàn thờ gia tiên ngày tết của nhiều người dân cố cựu ở Biên Hòa, Vĩnh Cửu (tỉnh Đồng Nai), Tân Uyên, Dĩ An (tỉnh Bình Dương) ngoài thứ không thể thiếu là bưởi Tân Triều, còn có một loại trái cây rất được ưa chuộng là ngâu. Cho đến giờ, trong cả nước không ghi nhận được nơi đâu có loại trái này.

Ngâu gần như là đặc sản chỉ có ở vùng Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu). Trái ngâu chín tỏa một mùi thơm đặc trưng và để được lâu ngày không thua kém gì bưởi. Mùi thơm của ngâu trong mâm ngũ quả kết hợp với mùi bông vạn thọ tạo thành hương sắc độc đáo cho cái Tết Nguyên đán của một thời chưa xa lắm trên vùng đất Biên Hòa.

Trái gì lạ quá!

Bà Nguyễn Thị Trung Hiếu, 43 tuổi, nhà ở phường Quang Vinh (TP. Biên Hòa) chuyên nghề bỏ mối bánh kẹo, có chồng người xã Tân An (huyện Vĩnh Cửu) 4 năm nay cũng tham gia vào việc bán trái ngâu tết. Bà mua ngâu tại nhà vườn ở Tân An, dú khí đá rồi chở lên Biên Hòa bán ngay bên lề đường trước nhà mẹ ruột. Bà Trung Hiếu cho biết, ngâu năm nay chín sớm và bán rất được giá (40-45 ngàn đồng/kg, năm rồi chỉ 30-35 ngàn đồng/kg).

Là người bán ngâu kém thâm niên nhất, không ít lần phải nghe những nam nữ thanh niên đi chơi ngang qua nhìn đống ngâu chất bên đường, ngừng xe lại hỏi: “Trái gì lạ quá vậy? Và ăn làm sao?”… Ấy vậy, bà Trung Hiếu cũng có khá đông khách hàng là mối quen đặt mua mỗi người 10kg để ngâm rượu, còn lại là khách đến mua ngâu chín đập vỏ ăn tại chỗ. Với số vỏ bỏ lại, bà cân bán cho người sành rượu ngâu với giá trên 200 ngàn đồng/kg, tùy theo việc thu được nhiều ít.

Mấy năm bán ngâu mùa tết, bà Trung Hiếu có được một vị khách hàng rất đặc biệt với tuổi đời khoảng 70, mái tóc bạc phơ, mỗi ngày ông mua và ăn sống hết 3kg trái ngâu. Hôm nào không đi được, ông cho vợ đến mua và cho biết là ăn ngâu trị đau lưng, nhức mỏi tay chân rất công hiệu.Tôi cũng từng gặp ông Phước ”ruồi”, một thương lái lúa gạo ở Tân An, cho rằng ông khỏe mạnh là nhờ ăn trái ngâu và đã dứt được chứng đau bao tử đã giày vò ông nhiều năm.

Tôi đã quá tuổi lục tuần và cũng may là không dính mấy loại bệnh vừa nêu, mà lại rất thích ăn trái ngâu, kể cả ngâu còn sống nhớt nhớt có vị nhẫn nhẫn, hoặc trái ngâu nướng thơm phức mùi khoai lang lùi, nhưng mê nhất là uống rượu ngâu.
Cách chỗ bà Trung Hiếu bán ngâu chừng 100m, phía đầu phố đi bộ chợ đêm Biên Hùng có quán ngâu đã nổi tiếng đến vài mươi năm ỏ Biên Hòa với rượu ngâu pha sôđa đá, nặn tắc cùng chút xíu muối. Thứ cốc-tai ngâu này mà nhắm với món bò tả tơi, bù tọt chiên giòn... có thể nói là ngon thấu trời. Tôi đã từng đưa rất nhiều đồng nghiệp trong Nam ngoài Bắc đến quán này để thưởng thức những món ”lần đầu mới biết”, ai cũng khen và lần nào gặp lại nhau cũng còn nhắc.

Người có bí quyết ngâm rượu ngâu ngon không thua kém gì với các loại rượu ngoại danh tiếng, đến nỗi đem ra đãi nhiều dân nhậu khen nức nở là ông Phan Hùng, Bí thư Chi bộ ấp Bình Ý (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu), nguyên Trưởng đài Truyền thanh huyện. Suốt gần 30 năm công tác, gần như mỗi ngày ông đều đi ngang qua xã Tân An nên chỉ cần nhìn mấy hàng ngâu bên đường hoặc trong vườn nhà người quen là xác định trúng phóc ”bây giờ tháng mấy”.

Trái ngâu chín đập vỡ đôi.

Không những có kinh nghiệm ”xem ngâu thay lịch”, ông Phan Hùng còn biết cả vườn nhà ai có loại ngâu ngon nhất để chọn mua ngâm rượu. Theo ông, ngâu có đến mấy loại: ngâu sẻ: trái bằng nắm tay, vỏ mỏng, dẻo, ngon; ngâu trâu: trái bự hơn, vỏ dày và cứng. Ngon nhất và cũng hiếm nhất là ngâu giấy: vỏ mỏng, mềm, trái nhỏ và rất thơm.

Vỏ ngâu giấy chín vàng còn tươi đem ngâm cho ra loại rượu ngâu thượng hạng. Ông Phan Hùng còn cho biết, cách đây hơn 20 năm, thời ngành mía đường Vĩnh Cửu còn đang thịnh, đến mùa ngâu nhiều ông chủ lò đường mua ngâu giấy đem về bỏ vô chảo mật đường tạo ra một món ăn ”cực ngon” chỉ dùng đãi thượng khách.

Biết đâu nguồn cội

Về xuất xứ của cây ngâu cũng có nhiều luồng thông tin khác nhau. Tìm đến Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu), nơi duy nhất hiện nay có trồng loại cây này, qua sự giới thiệu của ông Tư Cò (Hồ Minh Quang, Chủ tịch Hội Nông dân xã), tôi gặp ông Lương Văn Năm có vợ là bà Lâm Thị Nữ  (Hai Nữ) ở nhà số 463, ấp Bình Chánh là người trồng ngâu nhiều nhất và lâu đời nhất ở đây.

Bà Hai Nữ cho biết, bà ngoại của bà là cụ Năm Tú (Nguyễn Thị Bảy, sinh năm 1894, mất năm 1987) là người đầu tiên trồng ngâu ở Đại An. Bà Hai Nữ năm nay 77 tuổi còn quả quyết là ”hồi nhỏ xíu tôi đã biết cây ngâu do ngoại tôi trồng rồi, nhưng hổng biết là trồng lúc nào và kiếm giống ở đâu. Cây ngâu đầu tiên có cả trăm năm tuổi đó cao hơn 30m đã bị đổ ngã năm 2004”.

Rượu ngâu.
Có một chuyện cũng rất lạ là những cây ngâu con phát sinh từ rễ cây ngâu cổ thụ này cho trái mỏng vỏ, thơm nồng nàn; còn cũng chính trái ngâu của cây này lấy hạt đem gieo ươm lại cho trái ngâu vỏ dày, cứng ngắc, ruột nhiều xơ và có vị hơi đăng đắng. Do đó dân buôn bán trái cây chuyên nghiệp thường ”bắt mối” trước những nhà vườn có ngâu ngon; trong số đó có tiếng nhất là vườn bà Hai Nữ, ông Tám Tiên, bà Hai Báu, bé Bảnh, Tư Thẳng...

Trước đây, tôi có biết đến bà Chín Thọ (tên đầy đủ là Lê Thị Thọ, nhà ở Đại An, đã mất cách đây vài năm) với nửa thế kỷ chuyên nghề mua bán trái cây theo thời vụ, biết một cách rành rẻ ngâu nhà nào ngon, dở, trúng thất ra sao. Vào mỗi mùa tết, bà thu gom đến vài thiên (mỗi thiên: 1.200 trái) ngâu loại ngon đem lên Biên Hòa bỏ mối cho các tiệm thuốc Bắc và bán cho khách hàng quen. Ngoài thương lái mua mão, đến mùa ngâu chín, các nhà xứ ở vùng Hố Nai, mấy quán nhậu đặc sản còn đưa xe về tận vườn chọn mua ngâu ngon đem về ngâm rượu.

“Am hiểu về ngâu đến như vậy, thế nhưng khi hỏi về nguồn gốc cây ngâu ở Đại An, ông Phan Hùng cũng như nhiều lão nông tri điền khác ở huyện Vĩnh Cửu đều nói một cách khá mơ hồ: Nghe đâu mấy ông cha ở nhà thờ đem giống ở đâu đó về trồng!”.
Gặp chủ vườn Trần Văn Thạch, một ”thổ địa” đất Đại An, có vợ chuyên mua bán trái cây nên ông chẳng những thông thạo mọi ngóc ngách địa bàn, mà còn được cập nhật thường xuyên về giá cả nông sản. Ông Thạch cho biết: ”Ngâu năm nay chín sớm, do thời tiết có một số trái ngâu bị bệnh thúi đầu, nhưng không nhiều lắm. Ngâu năm nay trúng, phần lớn ngâu thu hoạch được đều ngon và bán được giá.

Lần đầu ăn thử ngâu trong ngày tết.
”Nghề” ngâu này cực nhất là khâu thu hoạch, do hầu hết cây ngâu ở Đại An đã già cỗi và cao, trái ngâu lại mọc ở đầu cành nhánh có gai nhọn và dài nên rất khó bẻ. Trước đây, dân bẻ ngâu thiện chiến lắm một ngày leo bẻ cũng không tới một thiên trái. Nay số người bẻ ngâu giỏi này không còn nữa. Khỏang 3 năm trước, đến mùa kiếm không ra người bẻ ngâu, chủ vườn mướn được người bẻ thì bán ngâu trả tiền công bẻ tính ra không đủ sở hụi.
Hai mùa ngâu gần đây nhờ ngâu có giá, thương lái đến vườn mua mão thường đưa theo người bẻ. Dân bẻ ngâu trẻ dùng lồng bẻ từng trái, chứ không dùng sào tre đập, giật như lớp đàn anh trước đây, tuy thu hoạch có chậm hơn, nhưng bảo đảm cho trái ngâu không bị bể, dập”.

Chiều 29 tết rảo một vòng từ Thiện Tân (huyện Vĩnh Cửu) về Biên Hòa, tôi thấy bưởi, ngâu bày bán hai bên đường 768 khá nhiều. Hỏi giá, các điểm bán ngâu ở Bình Hòa, Bửu Long đều đòi 50 ngàn đồng/kg. Nghe tôi chê mắc, mấy bà bán ngâu liền nói: ”Về chợ Biên Hòa mua thử đi. Bữa nay họ bán một ký phải từ 62-65 ngàn đồng!”.
Mùng 6 tết vừa rồi, đến ấp Bình Ý tôi lại bất chợt nghe thoang thoảng mùi thơm của ngâu, khó lầm lẫn với bất cứ loại trái cây nào khác. Hỏi ra mới biết, ngoài Tân An, chỉ ở Bình Ý là có ngâu, nhưng chỉ còn một cây duy nhất trồng khoảng 20 năm ở vườn nhà ông Phó trưởng ban ấp Ngô Văn Dũng.

Theo Bùi Thuận (báo Đồng Nai)
Du lịch, GO!

Lao xao mùa ngâu chín

Trong mâm ngũ quả chưng trên bàn thờ gia tiên ngày tết của nhiều người dân cố cựu ở Biên Hòa, Vĩnh Cửu (tỉnh Đồng Nai), Tân Uyên, Dĩ An (tỉnh Bình Dương) ngoài thứ không thể thiếu là bưởi Tân Triều, còn có một loại trái cây rất được ưa chuộng là ngâu. Cho đến giờ, trong cả nước không ghi nhận được nơi đâu có loại trái này.

Ngâu gần như là đặc sản chỉ có ở vùng Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu). Trái ngâu chín tỏa một mùi thơm đặc trưng và để được lâu ngày không thua kém gì bưởi. Mùi thơm của ngâu trong mâm ngũ quả kết hợp với mùi bông vạn thọ tạo thành hương sắc độc đáo cho cái Tết Nguyên đán của một thời chưa xa lắm trên vùng đất Biên Hòa.

Trái gì lạ quá!

Bà Nguyễn Thị Trung Hiếu, 43 tuổi, nhà ở phường Quang Vinh (TP. Biên Hòa) chuyên nghề bỏ mối bánh kẹo, có chồng người xã Tân An (huyện Vĩnh Cửu) 4 năm nay cũng tham gia vào việc bán trái ngâu tết. Bà mua ngâu tại nhà vườn ở Tân An, dú khí đá rồi chở lên Biên Hòa bán ngay bên lề đường trước nhà mẹ ruột. Bà Trung Hiếu cho biết, ngâu năm nay chín sớm và bán rất được giá (40-45 ngàn đồng/kg, năm rồi chỉ 30-35 ngàn đồng/kg).

Là người bán ngâu kém thâm niên nhất, không ít lần phải nghe những nam nữ thanh niên đi chơi ngang qua nhìn đống ngâu chất bên đường, ngừng xe lại hỏi: “Trái gì lạ quá vậy? Và ăn làm sao?”… Ấy vậy, bà Trung Hiếu cũng có khá đông khách hàng là mối quen đặt mua mỗi người 10kg để ngâm rượu, còn lại là khách đến mua ngâu chín đập vỏ ăn tại chỗ. Với số vỏ bỏ lại, bà cân bán cho người sành rượu ngâu với giá trên 200 ngàn đồng/kg, tùy theo việc thu được nhiều ít.

Mấy năm bán ngâu mùa tết, bà Trung Hiếu có được một vị khách hàng rất đặc biệt với tuổi đời khoảng 70, mái tóc bạc phơ, mỗi ngày ông mua và ăn sống hết 3kg trái ngâu. Hôm nào không đi được, ông cho vợ đến mua và cho biết là ăn ngâu trị đau lưng, nhức mỏi tay chân rất công hiệu.Tôi cũng từng gặp ông Phước ”ruồi”, một thương lái lúa gạo ở Tân An, cho rằng ông khỏe mạnh là nhờ ăn trái ngâu và đã dứt được chứng đau bao tử đã giày vò ông nhiều năm.

Tôi đã quá tuổi lục tuần và cũng may là không dính mấy loại bệnh vừa nêu, mà lại rất thích ăn trái ngâu, kể cả ngâu còn sống nhớt nhớt có vị nhẫn nhẫn, hoặc trái ngâu nướng thơm phức mùi khoai lang lùi, nhưng mê nhất là uống rượu ngâu.
Cách chỗ bà Trung Hiếu bán ngâu chừng 100m, phía đầu phố đi bộ chợ đêm Biên Hùng có quán ngâu đã nổi tiếng đến vài mươi năm ỏ Biên Hòa với rượu ngâu pha sôđa đá, nặn tắc cùng chút xíu muối. Thứ cốc-tai ngâu này mà nhắm với món bò tả tơi, bù tọt chiên giòn... có thể nói là ngon thấu trời. Tôi đã từng đưa rất nhiều đồng nghiệp trong Nam ngoài Bắc đến quán này để thưởng thức những món ”lần đầu mới biết”, ai cũng khen và lần nào gặp lại nhau cũng còn nhắc.

Người có bí quyết ngâm rượu ngâu ngon không thua kém gì với các loại rượu ngoại danh tiếng, đến nỗi đem ra đãi nhiều dân nhậu khen nức nở là ông Phan Hùng, Bí thư Chi bộ ấp Bình Ý (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu), nguyên Trưởng đài Truyền thanh huyện. Suốt gần 30 năm công tác, gần như mỗi ngày ông đều đi ngang qua xã Tân An nên chỉ cần nhìn mấy hàng ngâu bên đường hoặc trong vườn nhà người quen là xác định trúng phóc ”bây giờ tháng mấy”.

Trái ngâu chín đập vỡ đôi.

Không những có kinh nghiệm ”xem ngâu thay lịch”, ông Phan Hùng còn biết cả vườn nhà ai có loại ngâu ngon nhất để chọn mua ngâm rượu. Theo ông, ngâu có đến mấy loại: ngâu sẻ: trái bằng nắm tay, vỏ mỏng, dẻo, ngon; ngâu trâu: trái bự hơn, vỏ dày và cứng. Ngon nhất và cũng hiếm nhất là ngâu giấy: vỏ mỏng, mềm, trái nhỏ và rất thơm.

Vỏ ngâu giấy chín vàng còn tươi đem ngâm cho ra loại rượu ngâu thượng hạng. Ông Phan Hùng còn cho biết, cách đây hơn 20 năm, thời ngành mía đường Vĩnh Cửu còn đang thịnh, đến mùa ngâu nhiều ông chủ lò đường mua ngâu giấy đem về bỏ vô chảo mật đường tạo ra một món ăn ”cực ngon” chỉ dùng đãi thượng khách.

Biết đâu nguồn cội

Về xuất xứ của cây ngâu cũng có nhiều luồng thông tin khác nhau. Tìm đến Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu), nơi duy nhất hiện nay có trồng loại cây này, qua sự giới thiệu của ông Tư Cò (Hồ Minh Quang, Chủ tịch Hội Nông dân xã), tôi gặp ông Lương Văn Năm có vợ là bà Lâm Thị Nữ  (Hai Nữ) ở nhà số 463, ấp Bình Chánh là người trồng ngâu nhiều nhất và lâu đời nhất ở đây.

Bà Hai Nữ cho biết, bà ngoại của bà là cụ Năm Tú (Nguyễn Thị Bảy, sinh năm 1894, mất năm 1987) là người đầu tiên trồng ngâu ở Đại An. Bà Hai Nữ năm nay 77 tuổi còn quả quyết là ”hồi nhỏ xíu tôi đã biết cây ngâu do ngoại tôi trồng rồi, nhưng hổng biết là trồng lúc nào và kiếm giống ở đâu. Cây ngâu đầu tiên có cả trăm năm tuổi đó cao hơn 30m đã bị đổ ngã năm 2004”.

Rượu ngâu.
Có một chuyện cũng rất lạ là những cây ngâu con phát sinh từ rễ cây ngâu cổ thụ này cho trái mỏng vỏ, thơm nồng nàn; còn cũng chính trái ngâu của cây này lấy hạt đem gieo ươm lại cho trái ngâu vỏ dày, cứng ngắc, ruột nhiều xơ và có vị hơi đăng đắng. Do đó dân buôn bán trái cây chuyên nghiệp thường ”bắt mối” trước những nhà vườn có ngâu ngon; trong số đó có tiếng nhất là vườn bà Hai Nữ, ông Tám Tiên, bà Hai Báu, bé Bảnh, Tư Thẳng...

Trước đây, tôi có biết đến bà Chín Thọ (tên đầy đủ là Lê Thị Thọ, nhà ở Đại An, đã mất cách đây vài năm) với nửa thế kỷ chuyên nghề mua bán trái cây theo thời vụ, biết một cách rành rẻ ngâu nhà nào ngon, dở, trúng thất ra sao. Vào mỗi mùa tết, bà thu gom đến vài thiên (mỗi thiên: 1.200 trái) ngâu loại ngon đem lên Biên Hòa bỏ mối cho các tiệm thuốc Bắc và bán cho khách hàng quen. Ngoài thương lái mua mão, đến mùa ngâu chín, các nhà xứ ở vùng Hố Nai, mấy quán nhậu đặc sản còn đưa xe về tận vườn chọn mua ngâu ngon đem về ngâm rượu.

“Am hiểu về ngâu đến như vậy, thế nhưng khi hỏi về nguồn gốc cây ngâu ở Đại An, ông Phan Hùng cũng như nhiều lão nông tri điền khác ở huyện Vĩnh Cửu đều nói một cách khá mơ hồ: Nghe đâu mấy ông cha ở nhà thờ đem giống ở đâu đó về trồng!”.
Gặp chủ vườn Trần Văn Thạch, một ”thổ địa” đất Đại An, có vợ chuyên mua bán trái cây nên ông chẳng những thông thạo mọi ngóc ngách địa bàn, mà còn được cập nhật thường xuyên về giá cả nông sản. Ông Thạch cho biết: ”Ngâu năm nay chín sớm, do thời tiết có một số trái ngâu bị bệnh thúi đầu, nhưng không nhiều lắm. Ngâu năm nay trúng, phần lớn ngâu thu hoạch được đều ngon và bán được giá.

Lần đầu ăn thử ngâu trong ngày tết.
”Nghề” ngâu này cực nhất là khâu thu hoạch, do hầu hết cây ngâu ở Đại An đã già cỗi và cao, trái ngâu lại mọc ở đầu cành nhánh có gai nhọn và dài nên rất khó bẻ. Trước đây, dân bẻ ngâu thiện chiến lắm một ngày leo bẻ cũng không tới một thiên trái. Nay số người bẻ ngâu giỏi này không còn nữa. Khỏang 3 năm trước, đến mùa kiếm không ra người bẻ ngâu, chủ vườn mướn được người bẻ thì bán ngâu trả tiền công bẻ tính ra không đủ sở hụi.
Hai mùa ngâu gần đây nhờ ngâu có giá, thương lái đến vườn mua mão thường đưa theo người bẻ. Dân bẻ ngâu trẻ dùng lồng bẻ từng trái, chứ không dùng sào tre đập, giật như lớp đàn anh trước đây, tuy thu hoạch có chậm hơn, nhưng bảo đảm cho trái ngâu không bị bể, dập”.

Chiều 29 tết rảo một vòng từ Thiện Tân (huyện Vĩnh Cửu) về Biên Hòa, tôi thấy bưởi, ngâu bày bán hai bên đường 768 khá nhiều. Hỏi giá, các điểm bán ngâu ở Bình Hòa, Bửu Long đều đòi 50 ngàn đồng/kg. Nghe tôi chê mắc, mấy bà bán ngâu liền nói: ”Về chợ Biên Hòa mua thử đi. Bữa nay họ bán một ký phải từ 62-65 ngàn đồng!”.
Mùng 6 tết vừa rồi, đến ấp Bình Ý tôi lại bất chợt nghe thoang thoảng mùi thơm của ngâu, khó lầm lẫn với bất cứ loại trái cây nào khác. Hỏi ra mới biết, ngoài Tân An, chỉ ở Bình Ý là có ngâu, nhưng chỉ còn một cây duy nhất trồng khoảng 20 năm ở vườn nhà ông Phó trưởng ban ấp Ngô Văn Dũng.

Theo Bùi Thuận (báo Đồng Nai)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Nơi đây có những con người đến để thi gan cùng trời đất. Có những người, đã vùi lấp cả tuổi xuân để Pha Đin thêm xanh…

< Trên vùng núi cao, có một khoảng trời mang tên Pha Din...

Truyền thuyết về một cuộc tranh giành

Sống lâu nhất ở đây là một người có khuôn mặt như chính cái tên của ông: Phạm Văn Dị. Để gặp được ông Dị, phải leo qua một đồi thông lên tít tận đỉnh trời chẳng khác nào một khu rừng già với những gốc đào rừng một người ôm. Ông Dị bảo rằng tôi là khách lạ đầu tiên lên đây kể từ dịp một khách Tây đi du lịch bị mất hết đồ đạc lên xin ngủ nhờ. Bất kể là ai ông đều quý như nhau bởi đơn giản là “thèm người để nói chuyện lắm”.

Quê Dị mãi tận Thái Bình. Từ nhỏ mặt đã bị dị tật nên bỏ xứ lên Điện Biên sinh sống. Dần dần ông được nhận vào làm ở ngành viễn thông. Hơn mười năm nay một mình ông lầm lũi lên đỉnh đèo làm bạn với mấy chiếc máy phát. Công việc nặng nhất của người đàn ông này là đóng bật cầu dao điện. Có lẽ chính sự buồn tẻ ấy đã biến ông thành một pho sử sống về đỉnh Pha Đin.

< Ông Dị.

“Thuở mới lên đây chỉ một mình nên sợ lắm. Đường sá đi lại không có. Người dân tộc đi rừng thấy tôi họ cứ trố mắt nhìn. Cũng là người Nhà nước hẳn hoi nhưng cuộc sống chẳng khác mấy so với người rừng. Hết việc làm lại lang thang vào các bản nằm rải rác ở lưng đèo tìm mấy cụ trưởng bản nghe kể chuyện về cái nơi mình sẽ gắn bó này”. Ông Dị bảo, đèo Pha Đin từng xảy ra những cuộc chiến.

Ông nghe dân bản địa kể rằng người Lai Châu cũ (nay là Điện Biên) và Sơn La từ xa xưa còn lưu truyền câu chuyện kể về cuộc bàn thảo tìm cách vạch định ranh giới của hai địa phương bằng một cuộc đua ngựa vượt dốc Pha Đin.

Người và ngựa của cả hai phía đều đồng thời xuất phát từ dốc đèo. Hai dũng sĩ và hai con tuấn mã đều có sức mạnh và ý chí như nhau nên khoảng cách mà họ đi được cho tới địa điểm gặp nhau trên đèo không chênh lệch bao nhiêu. Tuy vậy, phần ngựa Lai Châu phi nhanh hơn nên phần đèo thuộc về Lai Châu dài hơn một chút so với phía Sơn La.

Một truyền thuyết khác cũng kể lại rằng: Xưa trên đỉnh Phạ Đin có một nàng con gái xinh đẹp tuyệt trần. Nàng bị tranh chấp bởi hai lãnh chúa trong vùng. Một cuộc chiến diễn ra để tranh giành người đẹp, cuối cùng hai lãnh chúa đi về hai hướng và hết lương thực nên chọn đỉnh đèo làm mốc phân chia không bao giờ được xâm phạm lẫn nhau.

Chuyện xưa chỉ nghe kể nên “pho sử Dị” chẳng dám chắc. Nhưng có những chuyện ông dám chắc thì hẳn bất cứ ai nghe cũng thấy buồn. Ông dẫn tôi đi xa hơn lên phía đồi thông. Hai ngôi mộ liệt sĩ chưa biết tên được phát hiện trong một lần công nhân làm đường mấy năm trước. Cách đó chừng một cây về phía dốc đèo là tấm bia ghi lại một sự kiện lịch sử. Lễ tết ông lại lên nhang khói và trò chuyện với vong linh người đã khuất. “Và chẳng biết trong lớp đất đá này còn bao nhiêu người ngã xuống chưa được tìm thấy. Nếu họ lên trò chuyện với tôi cho đỡ buồn thì hay biết mấy”. Ông Dị nói xong rồi nhìn sang mấy tảng đá bên cạnh khiến tôi thấy lành lạnh ở sống lưng.

Nhà ông ở Điện Biên. Mỗi tháng được về nhà một ngày để thăm gia đình và chuẩn bị lương thực. Một lần về như thế ông phải cõng tất tần tật cho một tháng. Gạo, thịt, mỳ tôm lên chất vào tủ. Chỉ thỉnh thoảng mới cải thiện được bữa ăn tươi thì phải vào rừng hái rau hoặc xuống chân đèo mua của dân bản.

Lâu lắm gia đình hoặc cơ quan mới có người lên thăm. Phần vì bận rộn mưu sinh, phần nữa họ sợ con đèo dài đằng đẵng và độ dốc chẳng khác nào lên trời từ đỉnh đèo lên nơi ông sống. Thành thử bạn với ông là một con mèo. Chỉ có điều là con mèo ấy bao năm không lớn nổi vì thời tiết ở đây khắc nghiệt quá. Đào rừng cũng trốn rét đến cuối tháng Giêng mới bắt đầu hé nụ ra hoa.

Cuộc gặp gỡ người đàn bà kỳ lạ

Cuộc rượu thâu đêm với ông Dị trên đỉnh Pha Đin tôi được nghe kể về một người đàn bà kỳ lạ. Một người mà ông bảo: “Không sợ trời, không sợ đất chỉ sợ Pha Đin không giữ được màu xanh". Đó là một người phụ nữ 38 tuổi, xinh đẹp và có lối nói chuyện đâu ra đấy. “Tên Trần Thị Thủy, quê ở Hà Tĩnh. Lên đây vì tình yêu với Pha Đin”. Chị bắt đầu câu chuyện một cách gọn gàng như thế.

Tôi xin phép được gọi chị là người phụ nữ gan lỳ. Chẳng gan sao được khi nghe chị kể rằng hơn chục năm về trước đỉnh Pha Đin hoang vu này chỉ có một mình chị và…sên. Ngày đó Thủy còn là một cô gái đầy sức sống, có trong tay nhiều điều bất cứ người phụ nữ nào cũng phải mơ ước. Tuổi trẻ, sắc đẹp, tiền bạc, gia đình…

< Chị Thủy.

Quê chị ở Hà Tĩnh nhưng cả nhà chuyển ra TP Sơn La làm ăn. Đang yên vị ở một Cty kinh doanh thì đùng một cái Thủy báo tin cho gia đình là mình lên sống ở… đỉnh đèo.
Bà Điểm, mẹ chị nghe xong như muốn quỵ. Còn cậu em trai đang học đại học ở Hà Nội vội vàng nhảy xe về nằng nặc bắt gia đình đưa bà chị của mình đi xem bói thử có bị ma làm không. Nhưng đã quá muộn. Khi Thủy thông báo với gia đình thì chị đã hoàn tất thủ tục mua lại đất trên đỉnh đèo của một cán bộ về hưu.

Ngày Thủy lên, gia tài là một túp lều cỏ tranh và vài con bò thả rong làm vốn. Sương muối, rét cắt cộng với lũ sên dày như tấm rải ở các cánh rừng khiến đàn bò của chị chỉ làm bạn với chủ được vài tháng rồi rủ nhau chết sạch. Chưa hết, mấy lần cuốc nương xong chị ngủ lại lều.

“Có hai lý do để tôi đến với đỉnh Pha Đin. Thứ nhất, con đèo này chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, nơi ngã xuống của nhiều bộ đội. Tôi yêu hình ảnh người bộ đội. Bố tôi cũng là bộ đội nên tôi xem nơi đẻ ra hình ảnh “anh gánh chị thồ” trong thơ Tố Hữu hết sức thiêng liêng. Muốn làm một cái gì đó cho con đèo lịch sử. Thứ hai là vì tôi lãng mạn. Thích cuộc sống giữa ngàn mây hư hư thực thực này”.

< Những nấm mồ liệt sỹ được chị Thủy quy tập về.

Sáng ra hai bắp chân chi chít đám sên no máu không buồn nhả. Khóc chẳng ai nghe, la hét mãi cũng khản giọng. Đành quệt nước mắt, tẩm nước bọt xoa lũ sên xong phải chạy xuống chân đèo mua thuốc uống. Gặp ông chủ tịch xã Tỏa Tình (huyện Tuần Giáo, Điện Biên) khi ấy, chị còn được khuyên: “Mày về đi. Không thành công được đâu. Con gái có thì, mày sẽ chôn vùi hết ở cái nơi khỉ ho cò gáy ấy thôi con ạ”.

Chỉ có chị tin rằng đỉnh Pha Đin sẽ không bạc đãi với lòng thành. Và cái cách đối phó của Thủy với sên cũng lạ lắm. Lũ sên hút máu nên chị chuyển sang trồng cây với suy nghĩ  "chỉ có cây mới không bị sên cắn, mới chống chịu nổi với thời tiết khắc nghiệt ở đỉnh đèo”.

Thế mà thành công. Ban đầu là những cây ngắn ngày như ngô, sắn… Vừa giữ đất, vừa có tiền để tiếp tục giấc mơ. Khi ngô sắn đã đủ để duy trì cuộc sống, Thủy bắt đầu đi trồng thông. Một tay người phụ nữ ấy lật từng viên đá nhan nhản giữa rừng lau lách. Thỉnh thoảng Thủy còn nhặt được cả…vỏ đạn. Cây thông trồng trên đất đá đỉnh đèo mất gấp đôi thời gian bình thường để lớn. Đã có lúc chị nhìn cây thông còi cọc rồi rơi nước mắt thương cho thân gái. Nhưng hình ảnh người bộ đội, giấc mơ đỉnh Pha Đin lại thôi thúc vượt lên. Đất không phụ lòng người. Cây èo uột mãi rồi cũng lớn.

Trớ trêu khi cây thông vừa nhô lên khỏi những tảng đá thì một mối đe dọa khác lại ập đến. Cháy.
“Xung quanh đỉnh đèo chủ hầu hết là người Mông. Họ thích sống cao và đốt nương làm rẫy. Không ít lần đám thông của Thủy họa lây từ những lần đốt nương của đồng bào. Lại phải đi vận động, xin dân bản đừng phát nương cạnh đỉnh đèo…”.
Mảnh đất hoang sơ cứ thế xanh dần, đến lúc trong tay người phụ nữ này có vài chục ha rừng trồng thì mới ớ ra mình đã là…tỷ phú.

“Phải. Tôi có tiền tỷ. Nhưng với điều kiện là bán hết khu rừng đỉnh đèo này cho một người khác. Còn hiện trong túi chỉ có vài đồng bạc lẻ. Bao nhiêu tiền của làm ra tôi đều đổ hết vào đỉnh Pha Đin này rồi. Có cả những ông chủ nước ngoài muốn mua lại khu này với giá gần 3 tỷ đồng. Nhưng nói thật, tôi chẳng bao giờ bán mảnh đất đã lấy đi của tôi tất cả. Tình yêu, tuổi trẻ, sắc đẹp và rất nhiều tiền bạc”.

Truyền thuyết về đèo Pha Đin có một cuộc tranh giành giữa tỉnh Lai Châu cũ và Sơn La. Chẳng thể ngờ đến tận hôm nay cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt. Chẳng biết họ giành nhau khu đất tiền tỷ hay giành cô gái kỳ lạ tên Thủy. Chỉ biết rằng toàn bộ khu đất rừng rộng hơn 200 ha của Thủy một nửa thuộc Sơn La, một nửa thuộc Điện Biên. Mọi chuyện chưa rõ ràng, nhưng Thủy bảo với tôi rằng chị vẫn tiếp tục thực hiện giấc mơ. Giấc mơ về một Pha Đin không bê tông cốt thép. Giấc mơ biến đỉnh đèo thành một Sa Pa thứ hai. Tôi tỏ ý lo ngại về vấn đề kinh tế thời buổi bây giờ chỉ quyết tâm thì không đủ.

Đến lúc này chị mới “khai” rằng mình đã từng phải giấu mẹ mang mấy chỉ vàng của gia đình đi bán. “Khó khăn? Tất nhiên. Nhưng tôi không chấp nhận những sự cộng tác chỉ vì tiền. Tôi muốn tìm một địa chỉ có chung tình yêu Pha Đin với mình. Tôi đối với nơi này chỉ có một thứ duy nhất: Đó là tình yêu”. Với một người đã bỏ phí cả tuổi xuân và hạnh phúc ở nơi này thì tôi tin rằng những lời ấy chắc chắn xuất phát tận đáy lòng.

Thủy từng một lần thất bại trong tình yêu. Đó là khi gia đình anh chàng người yêu là một kỹ sư nông nghiệp chê nhà chị nghèo, là gia đình nông thôn. Nhưng chị cũng nói rằng chính vì được sinh ra ở nông thôn mới giúp chị đứng vững ở ngọn đèo khắc nghiệt này. Có lẽ đó cũng là một phần khiến người đàn bà có gia tài tiền tỷ này…sợ tiền. “Đồng tiền nhũng nhiễu ghê lắm. Tôi sợ nó và sợ luôn những người muốn hợp tác đầu tư. Sợ rằng một ngày họ sẽ vì lợi nhuận mà phá vỡ Pha Đin như tôi mơ ước”.

Chia tay tôi, Thủy rút từ đống giấy tờ cũ nát ra một bài thơ mà chị viết từ những đêm mòn mỏi một mình trong túp lều ở đỉnh đèo này. Chị còn nói sẽ viết tiểu thuyết. Tôi chợt nghĩ, riêng đời người đàn bà cũng đã là một cuốn tiểu thuyết quá hay rồi.

Theo Hoàng Sang – H.Anh (Vietnamnet)
Du lịch, GO!

2 dị nhân trên đỉnh đèo Pha Đin

Nơi đây có những con người đến để thi gan cùng trời đất. Có những người, đã vùi lấp cả tuổi xuân để Pha Đin thêm xanh…

< Trên vùng núi cao, có một khoảng trời mang tên Pha Din...

Truyền thuyết về một cuộc tranh giành

Sống lâu nhất ở đây là một người có khuôn mặt như chính cái tên của ông: Phạm Văn Dị. Để gặp được ông Dị, phải leo qua một đồi thông lên tít tận đỉnh trời chẳng khác nào một khu rừng già với những gốc đào rừng một người ôm. Ông Dị bảo rằng tôi là khách lạ đầu tiên lên đây kể từ dịp một khách Tây đi du lịch bị mất hết đồ đạc lên xin ngủ nhờ. Bất kể là ai ông đều quý như nhau bởi đơn giản là “thèm người để nói chuyện lắm”.

Quê Dị mãi tận Thái Bình. Từ nhỏ mặt đã bị dị tật nên bỏ xứ lên Điện Biên sinh sống. Dần dần ông được nhận vào làm ở ngành viễn thông. Hơn mười năm nay một mình ông lầm lũi lên đỉnh đèo làm bạn với mấy chiếc máy phát. Công việc nặng nhất của người đàn ông này là đóng bật cầu dao điện. Có lẽ chính sự buồn tẻ ấy đã biến ông thành một pho sử sống về đỉnh Pha Đin.

< Ông Dị.

“Thuở mới lên đây chỉ một mình nên sợ lắm. Đường sá đi lại không có. Người dân tộc đi rừng thấy tôi họ cứ trố mắt nhìn. Cũng là người Nhà nước hẳn hoi nhưng cuộc sống chẳng khác mấy so với người rừng. Hết việc làm lại lang thang vào các bản nằm rải rác ở lưng đèo tìm mấy cụ trưởng bản nghe kể chuyện về cái nơi mình sẽ gắn bó này”. Ông Dị bảo, đèo Pha Đin từng xảy ra những cuộc chiến.

Ông nghe dân bản địa kể rằng người Lai Châu cũ (nay là Điện Biên) và Sơn La từ xa xưa còn lưu truyền câu chuyện kể về cuộc bàn thảo tìm cách vạch định ranh giới của hai địa phương bằng một cuộc đua ngựa vượt dốc Pha Đin.

Người và ngựa của cả hai phía đều đồng thời xuất phát từ dốc đèo. Hai dũng sĩ và hai con tuấn mã đều có sức mạnh và ý chí như nhau nên khoảng cách mà họ đi được cho tới địa điểm gặp nhau trên đèo không chênh lệch bao nhiêu. Tuy vậy, phần ngựa Lai Châu phi nhanh hơn nên phần đèo thuộc về Lai Châu dài hơn một chút so với phía Sơn La.

Một truyền thuyết khác cũng kể lại rằng: Xưa trên đỉnh Phạ Đin có một nàng con gái xinh đẹp tuyệt trần. Nàng bị tranh chấp bởi hai lãnh chúa trong vùng. Một cuộc chiến diễn ra để tranh giành người đẹp, cuối cùng hai lãnh chúa đi về hai hướng và hết lương thực nên chọn đỉnh đèo làm mốc phân chia không bao giờ được xâm phạm lẫn nhau.

Chuyện xưa chỉ nghe kể nên “pho sử Dị” chẳng dám chắc. Nhưng có những chuyện ông dám chắc thì hẳn bất cứ ai nghe cũng thấy buồn. Ông dẫn tôi đi xa hơn lên phía đồi thông. Hai ngôi mộ liệt sĩ chưa biết tên được phát hiện trong một lần công nhân làm đường mấy năm trước. Cách đó chừng một cây về phía dốc đèo là tấm bia ghi lại một sự kiện lịch sử. Lễ tết ông lại lên nhang khói và trò chuyện với vong linh người đã khuất. “Và chẳng biết trong lớp đất đá này còn bao nhiêu người ngã xuống chưa được tìm thấy. Nếu họ lên trò chuyện với tôi cho đỡ buồn thì hay biết mấy”. Ông Dị nói xong rồi nhìn sang mấy tảng đá bên cạnh khiến tôi thấy lành lạnh ở sống lưng.

Nhà ông ở Điện Biên. Mỗi tháng được về nhà một ngày để thăm gia đình và chuẩn bị lương thực. Một lần về như thế ông phải cõng tất tần tật cho một tháng. Gạo, thịt, mỳ tôm lên chất vào tủ. Chỉ thỉnh thoảng mới cải thiện được bữa ăn tươi thì phải vào rừng hái rau hoặc xuống chân đèo mua của dân bản.

Lâu lắm gia đình hoặc cơ quan mới có người lên thăm. Phần vì bận rộn mưu sinh, phần nữa họ sợ con đèo dài đằng đẵng và độ dốc chẳng khác nào lên trời từ đỉnh đèo lên nơi ông sống. Thành thử bạn với ông là một con mèo. Chỉ có điều là con mèo ấy bao năm không lớn nổi vì thời tiết ở đây khắc nghiệt quá. Đào rừng cũng trốn rét đến cuối tháng Giêng mới bắt đầu hé nụ ra hoa.

Cuộc gặp gỡ người đàn bà kỳ lạ

Cuộc rượu thâu đêm với ông Dị trên đỉnh Pha Đin tôi được nghe kể về một người đàn bà kỳ lạ. Một người mà ông bảo: “Không sợ trời, không sợ đất chỉ sợ Pha Đin không giữ được màu xanh". Đó là một người phụ nữ 38 tuổi, xinh đẹp và có lối nói chuyện đâu ra đấy. “Tên Trần Thị Thủy, quê ở Hà Tĩnh. Lên đây vì tình yêu với Pha Đin”. Chị bắt đầu câu chuyện một cách gọn gàng như thế.

Tôi xin phép được gọi chị là người phụ nữ gan lỳ. Chẳng gan sao được khi nghe chị kể rằng hơn chục năm về trước đỉnh Pha Đin hoang vu này chỉ có một mình chị và…sên. Ngày đó Thủy còn là một cô gái đầy sức sống, có trong tay nhiều điều bất cứ người phụ nữ nào cũng phải mơ ước. Tuổi trẻ, sắc đẹp, tiền bạc, gia đình…

< Chị Thủy.

Quê chị ở Hà Tĩnh nhưng cả nhà chuyển ra TP Sơn La làm ăn. Đang yên vị ở một Cty kinh doanh thì đùng một cái Thủy báo tin cho gia đình là mình lên sống ở… đỉnh đèo.
Bà Điểm, mẹ chị nghe xong như muốn quỵ. Còn cậu em trai đang học đại học ở Hà Nội vội vàng nhảy xe về nằng nặc bắt gia đình đưa bà chị của mình đi xem bói thử có bị ma làm không. Nhưng đã quá muộn. Khi Thủy thông báo với gia đình thì chị đã hoàn tất thủ tục mua lại đất trên đỉnh đèo của một cán bộ về hưu.

Ngày Thủy lên, gia tài là một túp lều cỏ tranh và vài con bò thả rong làm vốn. Sương muối, rét cắt cộng với lũ sên dày như tấm rải ở các cánh rừng khiến đàn bò của chị chỉ làm bạn với chủ được vài tháng rồi rủ nhau chết sạch. Chưa hết, mấy lần cuốc nương xong chị ngủ lại lều.

“Có hai lý do để tôi đến với đỉnh Pha Đin. Thứ nhất, con đèo này chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, nơi ngã xuống của nhiều bộ đội. Tôi yêu hình ảnh người bộ đội. Bố tôi cũng là bộ đội nên tôi xem nơi đẻ ra hình ảnh “anh gánh chị thồ” trong thơ Tố Hữu hết sức thiêng liêng. Muốn làm một cái gì đó cho con đèo lịch sử. Thứ hai là vì tôi lãng mạn. Thích cuộc sống giữa ngàn mây hư hư thực thực này”.

< Những nấm mồ liệt sỹ được chị Thủy quy tập về.

Sáng ra hai bắp chân chi chít đám sên no máu không buồn nhả. Khóc chẳng ai nghe, la hét mãi cũng khản giọng. Đành quệt nước mắt, tẩm nước bọt xoa lũ sên xong phải chạy xuống chân đèo mua thuốc uống. Gặp ông chủ tịch xã Tỏa Tình (huyện Tuần Giáo, Điện Biên) khi ấy, chị còn được khuyên: “Mày về đi. Không thành công được đâu. Con gái có thì, mày sẽ chôn vùi hết ở cái nơi khỉ ho cò gáy ấy thôi con ạ”.

Chỉ có chị tin rằng đỉnh Pha Đin sẽ không bạc đãi với lòng thành. Và cái cách đối phó của Thủy với sên cũng lạ lắm. Lũ sên hút máu nên chị chuyển sang trồng cây với suy nghĩ  "chỉ có cây mới không bị sên cắn, mới chống chịu nổi với thời tiết khắc nghiệt ở đỉnh đèo”.

Thế mà thành công. Ban đầu là những cây ngắn ngày như ngô, sắn… Vừa giữ đất, vừa có tiền để tiếp tục giấc mơ. Khi ngô sắn đã đủ để duy trì cuộc sống, Thủy bắt đầu đi trồng thông. Một tay người phụ nữ ấy lật từng viên đá nhan nhản giữa rừng lau lách. Thỉnh thoảng Thủy còn nhặt được cả…vỏ đạn. Cây thông trồng trên đất đá đỉnh đèo mất gấp đôi thời gian bình thường để lớn. Đã có lúc chị nhìn cây thông còi cọc rồi rơi nước mắt thương cho thân gái. Nhưng hình ảnh người bộ đội, giấc mơ đỉnh Pha Đin lại thôi thúc vượt lên. Đất không phụ lòng người. Cây èo uột mãi rồi cũng lớn.

Trớ trêu khi cây thông vừa nhô lên khỏi những tảng đá thì một mối đe dọa khác lại ập đến. Cháy.
“Xung quanh đỉnh đèo chủ hầu hết là người Mông. Họ thích sống cao và đốt nương làm rẫy. Không ít lần đám thông của Thủy họa lây từ những lần đốt nương của đồng bào. Lại phải đi vận động, xin dân bản đừng phát nương cạnh đỉnh đèo…”.
Mảnh đất hoang sơ cứ thế xanh dần, đến lúc trong tay người phụ nữ này có vài chục ha rừng trồng thì mới ớ ra mình đã là…tỷ phú.

“Phải. Tôi có tiền tỷ. Nhưng với điều kiện là bán hết khu rừng đỉnh đèo này cho một người khác. Còn hiện trong túi chỉ có vài đồng bạc lẻ. Bao nhiêu tiền của làm ra tôi đều đổ hết vào đỉnh Pha Đin này rồi. Có cả những ông chủ nước ngoài muốn mua lại khu này với giá gần 3 tỷ đồng. Nhưng nói thật, tôi chẳng bao giờ bán mảnh đất đã lấy đi của tôi tất cả. Tình yêu, tuổi trẻ, sắc đẹp và rất nhiều tiền bạc”.

Truyền thuyết về đèo Pha Đin có một cuộc tranh giành giữa tỉnh Lai Châu cũ và Sơn La. Chẳng thể ngờ đến tận hôm nay cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt. Chẳng biết họ giành nhau khu đất tiền tỷ hay giành cô gái kỳ lạ tên Thủy. Chỉ biết rằng toàn bộ khu đất rừng rộng hơn 200 ha của Thủy một nửa thuộc Sơn La, một nửa thuộc Điện Biên. Mọi chuyện chưa rõ ràng, nhưng Thủy bảo với tôi rằng chị vẫn tiếp tục thực hiện giấc mơ. Giấc mơ về một Pha Đin không bê tông cốt thép. Giấc mơ biến đỉnh đèo thành một Sa Pa thứ hai. Tôi tỏ ý lo ngại về vấn đề kinh tế thời buổi bây giờ chỉ quyết tâm thì không đủ.

Đến lúc này chị mới “khai” rằng mình đã từng phải giấu mẹ mang mấy chỉ vàng của gia đình đi bán. “Khó khăn? Tất nhiên. Nhưng tôi không chấp nhận những sự cộng tác chỉ vì tiền. Tôi muốn tìm một địa chỉ có chung tình yêu Pha Đin với mình. Tôi đối với nơi này chỉ có một thứ duy nhất: Đó là tình yêu”. Với một người đã bỏ phí cả tuổi xuân và hạnh phúc ở nơi này thì tôi tin rằng những lời ấy chắc chắn xuất phát tận đáy lòng.

Thủy từng một lần thất bại trong tình yêu. Đó là khi gia đình anh chàng người yêu là một kỹ sư nông nghiệp chê nhà chị nghèo, là gia đình nông thôn. Nhưng chị cũng nói rằng chính vì được sinh ra ở nông thôn mới giúp chị đứng vững ở ngọn đèo khắc nghiệt này. Có lẽ đó cũng là một phần khiến người đàn bà có gia tài tiền tỷ này…sợ tiền. “Đồng tiền nhũng nhiễu ghê lắm. Tôi sợ nó và sợ luôn những người muốn hợp tác đầu tư. Sợ rằng một ngày họ sẽ vì lợi nhuận mà phá vỡ Pha Đin như tôi mơ ước”.

Chia tay tôi, Thủy rút từ đống giấy tờ cũ nát ra một bài thơ mà chị viết từ những đêm mòn mỏi một mình trong túp lều ở đỉnh đèo này. Chị còn nói sẽ viết tiểu thuyết. Tôi chợt nghĩ, riêng đời người đàn bà cũng đã là một cuốn tiểu thuyết quá hay rồi.

Theo Hoàng Sang – H.Anh (Vietnamnet)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(NGVN) - Khi vừa cất tiếng khóc chào đời đến khi tóc trên đầu phơ phơ bạc, thì con trai sẽ được gọi là cò, còn con gái sẽ được gọi là đĩ. Trăm nhà như một, cấm có sai. Tiếng gọi độc đáo ấy chỉ chấm dứt cùng với âm thanh của búa đóng đinh lộp bộp trên nắp cỗ quan tài.

Làng cò

“Cò Ký đã về đấy à? Thế Tết này mày ở quê chơi có được lâu không hả cháu?”. Người đàn ông tóc đã hoa râm xa quê bấy lâu chợt luống cuống khi nghe tiếng gọi thân mật ấy phát ra từ chính miệng bà cô mình. Đối với người đàn bà nông dân này thì thằng cháu (PGS.TS Phạm Văn Ký) tuổi ngót lục tuần, giảng viên một trường đại học danh tiếng tại Hà Nội cũng chỉ là cò Ký ngày nào còn chân đất, đầu trần chơi ô ăn quan, chơi khăng, chơi đáo ở làng mà thôi.

Ở Ngô Xuyên (Văn Lâm, Hưng Yên) khi một đứa trẻ trai mới sinh ra liền được gọi là cò. Vợ ông Phạm Trọng Khoát đẻ ra được một đàn cò gồm cò Ký (tức PGS.TS Phạm Văn Ký), cò Đạt, cò Tâm, cò Trường trong đó người là PGS, người là thạc sĩ, chí ít cũng là kỹ sư.

Con cái xa nhà, phương trưởng cả, thỉnh thoảng bà Khoát lại hỏi chồng: “Ông ơi cò Khoa có gọi điện về không?”. Cò Khoa tức là đứa cháu nội đang học đại học tận bên Mỹ. Cách nửa vòng trái đất mà bà ngỡ như thằng bé vẫn còn ở cái thủa lẫm chẫm tập đi hồi ở làng cò. Những cụ già phơ phơ đầu bạc cũng một mực khẳng định với tôi rằng cái chuyện gọi con trai là cò từ đời cụ kỵ sinh ra đã thấy rồi, không biết do ai đặt. Tuy nhiên cũng có người kể với tôi lệ ấy có cả một gốc tích rễ chuỗi hẳn hoi.

Một gia đình nọ trong thôn đẻ ra đứa con trai đặt tên là cò Cường. Cò Cường lấy vợ đẻ ra cò Tráng. Cò Tráng lập gia thất sinh ra cò Kiện. Thấy hay hay cả thôn liền gọi theo, làng cò hình thành từ bấy.

Không phải ai muốn mở miệng gọi người khác là cò cũng được mà phải ở vai trên hoặc chí ít cũng bằng vai phải lứa. Chuyện rằng một cô mẫu giáo về Ngô Xuyên nhận công tác, đến giờ đón cháu, các bà, các mẹ cứ ời ời gọi: “Cô cho tôi đón cò Dân”, rồi “Cò Luân ơi cho ra bà ẵm”, “Cò Nam ơi ra với mẹ nào”… khiến cho cô giáo trẻ cứ quýnh quáng, tay chân thừa thãi, mặt mày thộn ra chẳng biết cò nào với cò nào. Mấy cô giáo cũ nom thấy cảnh ấy cứ gọi là ôm bụng cười lăn cười bò.

Làng cò trước đây có nghề luyện chó bắt chuột chân truyền. Thủa nhỏ, ông Khoát từng cùng đội thiếu nhi nô nức rủ nhau đi bắt chuột nộp đuôi lấy thưởng trên xã. Trung bình mỗi người mỗi ngày bắt được đến 50 con, giấy khen xếp cả đống. Chuột đồng chặt đuôi xong được các cò đun nước, làm lông trắng phau phau như lợn cạo. Luộc vừa chín tới, chuột được bẻ đôi ra xếp lên tấm ván sạch rồi rắc lá chanh thái chỉ bên trên rồi đặt tấm ván khác có dằn một hòn đá nặng giống như người ta ép bánh trưng vậy. Thịt chuột khô kiệt nước, xé miếng chấm với muối giã nhỏ trộn ớt tươi, mới đưa lên mũi thôi đã như đánh thức từng con tì, con vị, đã làm cho nước trong miệng tứa ra ngập cả răng lẫn lợi.

Hết sinh hoạt trong đội thiếu nhi ông Khoát làm trưởng ban thông tin tuyên truyền xã, suốt ngày vác cái loa bằng ống bầu khô đi đọc nghị quyết, cổ động. Đọc dưới đất chưa thỏa, ông còn leo tuốt lên mấy ngọn đa, ngọn muỗm cao chót vót trong làng mà phát thanh. Sau này làm đến chức Chủ tịch xã rồi xung phong nhập ngũ, giữa lửa khói mù trời của đủ loại bom đạn mà ông vẫn khôn nguôi nhớ mùi khói hun chuột nơi quê nhà, nhớ miếng thịt chuột ép khô thơm lựng mùi lá chanh thái chỉ.

Ngoài món thịt chuột luộc ép lá chanh trứ danh làng cò còn có một món đặc sản nữa gọi là bánh âm, một thứ bánh thường chỉ làm vào dịp Tết. Người ta đốt quả xoan, lá bưởi, vỏ bưởi, rơm nếp ra thành tro rồi đem ngâm tro theo tỷ lệ ba tro, chín nước, một vôi trong suốt một tuần lễ. Lọc nước tro ấy ngâm gạo nếp, lấy gạo nếp no nước gói thành bánh mà luộc.

Cái bánh chỉ to bằng cỡ cái chuôi liềm, đổ màu óng ả như hổ phách với những nhân gạo nẩy hình hạt dền mới gọi là đạt. Bánh âm đem chấm với chè kho thực hợp như cậu với mợ. Sau mấy ngày Tết liên miên cỗ bàn, nhìn thấy miếng thịt, miếng cá đã ngấy ngá đến tận cổ họng mà nhẩn nha nhai miếng bánh âm mới thấy nó mát, nó lành, nó thanh tao làm sao. Bánh âm từng đến tận nước Mỹ trên hành trình du học của cò Khoa tức đứa cháu nội ông Khoát. Khi tôi ra khỏi cửa, thấy tiếng bước chân bà Khoát lịch bịch chạy theo, dúi vào tay mấy cái bánh âm buộc lạt đỏ vẫn còn hôi hổi nóng.

Làng đĩ

Cách Ngô Xuyên một con sông nhỏ tên gọi sông Ghênh chảy từ Thuận Thành (Bắc Ninh) đổ ra dòng Bắc Hưng Hải là thôn Hành Lạc. Cái tên đến lạ, nó như đề cao nỗi sung sướng bản năng ở đời. Thời bốn ông tổ Nguyễn, Vũ, Trần, Ngô đến đây vỡ hoang, lập ấp Hòa Lạc rồi Bình Lạc cuối cùng cải thành Hành Lạc (tục gọi là làng Bến) ngày nay ngoài lệ gọi con trai là cò như ở Ngô Xuyên còn có tục gọi con gái là đĩ.

Vợ ông Ngô Ngọc Xướng đẻ một mạch mấy đứa con là Ca, Dịu, Dàng, Vang, Lừng, Ba trong đó có ba đĩ Dịu, Dàng, Lừng. Người làng gặp ông từ đầu ngõ cứ gọi là liền tắp, cứ xướng một mạch Xướng, Ca, Dịu, Dàng, Vang, Lừng luôn cho nó khoái khẩu, khoái nhĩ. Cả gia đình ông Xướng hiện vẫn tứ đại đồng đường theo lối cổ. Đấy là tên thật, rất ngộ, ở Hành Lạc còn có những gia đình ngoài tên khai sinh còn có tên thường gọi rất vần vè như bà Giành đẻ một mạch “ngũ long công chúa” gồm năm đứa con gái là Giỏ, Cua, Cá, Tôm, Tép.

Ông Giành năm nay đã 55 tuổi nhưng gặp đâu dân làng vẫn gọi là bố đĩ dù cuối cùng vợ ông cũng sinh ra cho dòng họ Ngô một thằng cò chính hiệu. Cái Hường nhà bà giờ đang học thạc sĩ, về làng vẫn thường giật thột mình khi bị người ta bất ngờ réo: “Đĩ Cá đã về rồi à?”.

Kỷ lục nhất ở Hành Lạc là cặp vợ chồng ông Đỗ Đức Bần và bà Nguyễn Thị Sóng khi sở hữu trong tay tới 6 đĩ. Đĩ mẹ Sóng đẻ ra con gái đầu lòng gọi là đĩ nhớn, đứa kế là đĩ bé, đứa tiếp nữa là đĩ cỏn, đứa tiếp nữa nữa là đĩ con. Đến đứa thứ năm thì bà Sóng bí, bí thực sự vì vốn từ vựng tiếng Việt sau từ nhớn chỉ có bé, cỏn, con thôi nên đành gọi là đĩ Lan. Đứa thứ sáu bà gọi luôn là đĩ Út. Út mà chưa chót phận út, về sau khi đã đứng tuổi ông bà cố gắng nhào nặn một lần nữa để cho ra đời cò Công - cái tên gói ghém bao công sức lặn lội của cặp vợ chồng cho đặng nỗi khát khao một thằng chống gậy.

Tiếng là Bần nhưng ông cho xây cái nhà tầng to, cao vào diện nhất nhì làng như minh chứng cho cả đời chắt chiu tần tảo. Hôm tôi đến, sáu đĩ nhà ông bà, đứa đi lấy chồng, đứa đi làm, đứa đi học chỉ nhõn cò Công ở nhà. Mẹ gọi ồi ồi, thằng bé từ trong chăn ló mặt ra nhìn khách lạ rồi lại ngáp một cái rõ to, rúc đầu vào chăn như đà điểu rúc cát, điềm nhiên ngủ tiếp.

Theo Dương Đình Tường - Nông Nghiệp Việt Nam
Du lịch, GO!

Ngôi làng gọi trai là cò, gái là đĩ

(NGVN) - Khi vừa cất tiếng khóc chào đời đến khi tóc trên đầu phơ phơ bạc, thì con trai sẽ được gọi là cò, còn con gái sẽ được gọi là đĩ. Trăm nhà như một, cấm có sai. Tiếng gọi độc đáo ấy chỉ chấm dứt cùng với âm thanh của búa đóng đinh lộp bộp trên nắp cỗ quan tài.

Làng cò

“Cò Ký đã về đấy à? Thế Tết này mày ở quê chơi có được lâu không hả cháu?”. Người đàn ông tóc đã hoa râm xa quê bấy lâu chợt luống cuống khi nghe tiếng gọi thân mật ấy phát ra từ chính miệng bà cô mình. Đối với người đàn bà nông dân này thì thằng cháu (PGS.TS Phạm Văn Ký) tuổi ngót lục tuần, giảng viên một trường đại học danh tiếng tại Hà Nội cũng chỉ là cò Ký ngày nào còn chân đất, đầu trần chơi ô ăn quan, chơi khăng, chơi đáo ở làng mà thôi.

Ở Ngô Xuyên (Văn Lâm, Hưng Yên) khi một đứa trẻ trai mới sinh ra liền được gọi là cò. Vợ ông Phạm Trọng Khoát đẻ ra được một đàn cò gồm cò Ký (tức PGS.TS Phạm Văn Ký), cò Đạt, cò Tâm, cò Trường trong đó người là PGS, người là thạc sĩ, chí ít cũng là kỹ sư.

Con cái xa nhà, phương trưởng cả, thỉnh thoảng bà Khoát lại hỏi chồng: “Ông ơi cò Khoa có gọi điện về không?”. Cò Khoa tức là đứa cháu nội đang học đại học tận bên Mỹ. Cách nửa vòng trái đất mà bà ngỡ như thằng bé vẫn còn ở cái thủa lẫm chẫm tập đi hồi ở làng cò. Những cụ già phơ phơ đầu bạc cũng một mực khẳng định với tôi rằng cái chuyện gọi con trai là cò từ đời cụ kỵ sinh ra đã thấy rồi, không biết do ai đặt. Tuy nhiên cũng có người kể với tôi lệ ấy có cả một gốc tích rễ chuỗi hẳn hoi.

Một gia đình nọ trong thôn đẻ ra đứa con trai đặt tên là cò Cường. Cò Cường lấy vợ đẻ ra cò Tráng. Cò Tráng lập gia thất sinh ra cò Kiện. Thấy hay hay cả thôn liền gọi theo, làng cò hình thành từ bấy.

Không phải ai muốn mở miệng gọi người khác là cò cũng được mà phải ở vai trên hoặc chí ít cũng bằng vai phải lứa. Chuyện rằng một cô mẫu giáo về Ngô Xuyên nhận công tác, đến giờ đón cháu, các bà, các mẹ cứ ời ời gọi: “Cô cho tôi đón cò Dân”, rồi “Cò Luân ơi cho ra bà ẵm”, “Cò Nam ơi ra với mẹ nào”… khiến cho cô giáo trẻ cứ quýnh quáng, tay chân thừa thãi, mặt mày thộn ra chẳng biết cò nào với cò nào. Mấy cô giáo cũ nom thấy cảnh ấy cứ gọi là ôm bụng cười lăn cười bò.

Làng cò trước đây có nghề luyện chó bắt chuột chân truyền. Thủa nhỏ, ông Khoát từng cùng đội thiếu nhi nô nức rủ nhau đi bắt chuột nộp đuôi lấy thưởng trên xã. Trung bình mỗi người mỗi ngày bắt được đến 50 con, giấy khen xếp cả đống. Chuột đồng chặt đuôi xong được các cò đun nước, làm lông trắng phau phau như lợn cạo. Luộc vừa chín tới, chuột được bẻ đôi ra xếp lên tấm ván sạch rồi rắc lá chanh thái chỉ bên trên rồi đặt tấm ván khác có dằn một hòn đá nặng giống như người ta ép bánh trưng vậy. Thịt chuột khô kiệt nước, xé miếng chấm với muối giã nhỏ trộn ớt tươi, mới đưa lên mũi thôi đã như đánh thức từng con tì, con vị, đã làm cho nước trong miệng tứa ra ngập cả răng lẫn lợi.

Hết sinh hoạt trong đội thiếu nhi ông Khoát làm trưởng ban thông tin tuyên truyền xã, suốt ngày vác cái loa bằng ống bầu khô đi đọc nghị quyết, cổ động. Đọc dưới đất chưa thỏa, ông còn leo tuốt lên mấy ngọn đa, ngọn muỗm cao chót vót trong làng mà phát thanh. Sau này làm đến chức Chủ tịch xã rồi xung phong nhập ngũ, giữa lửa khói mù trời của đủ loại bom đạn mà ông vẫn khôn nguôi nhớ mùi khói hun chuột nơi quê nhà, nhớ miếng thịt chuột ép khô thơm lựng mùi lá chanh thái chỉ.

Ngoài món thịt chuột luộc ép lá chanh trứ danh làng cò còn có một món đặc sản nữa gọi là bánh âm, một thứ bánh thường chỉ làm vào dịp Tết. Người ta đốt quả xoan, lá bưởi, vỏ bưởi, rơm nếp ra thành tro rồi đem ngâm tro theo tỷ lệ ba tro, chín nước, một vôi trong suốt một tuần lễ. Lọc nước tro ấy ngâm gạo nếp, lấy gạo nếp no nước gói thành bánh mà luộc.

Cái bánh chỉ to bằng cỡ cái chuôi liềm, đổ màu óng ả như hổ phách với những nhân gạo nẩy hình hạt dền mới gọi là đạt. Bánh âm đem chấm với chè kho thực hợp như cậu với mợ. Sau mấy ngày Tết liên miên cỗ bàn, nhìn thấy miếng thịt, miếng cá đã ngấy ngá đến tận cổ họng mà nhẩn nha nhai miếng bánh âm mới thấy nó mát, nó lành, nó thanh tao làm sao. Bánh âm từng đến tận nước Mỹ trên hành trình du học của cò Khoa tức đứa cháu nội ông Khoát. Khi tôi ra khỏi cửa, thấy tiếng bước chân bà Khoát lịch bịch chạy theo, dúi vào tay mấy cái bánh âm buộc lạt đỏ vẫn còn hôi hổi nóng.

Làng đĩ

Cách Ngô Xuyên một con sông nhỏ tên gọi sông Ghênh chảy từ Thuận Thành (Bắc Ninh) đổ ra dòng Bắc Hưng Hải là thôn Hành Lạc. Cái tên đến lạ, nó như đề cao nỗi sung sướng bản năng ở đời. Thời bốn ông tổ Nguyễn, Vũ, Trần, Ngô đến đây vỡ hoang, lập ấp Hòa Lạc rồi Bình Lạc cuối cùng cải thành Hành Lạc (tục gọi là làng Bến) ngày nay ngoài lệ gọi con trai là cò như ở Ngô Xuyên còn có tục gọi con gái là đĩ.

Vợ ông Ngô Ngọc Xướng đẻ một mạch mấy đứa con là Ca, Dịu, Dàng, Vang, Lừng, Ba trong đó có ba đĩ Dịu, Dàng, Lừng. Người làng gặp ông từ đầu ngõ cứ gọi là liền tắp, cứ xướng một mạch Xướng, Ca, Dịu, Dàng, Vang, Lừng luôn cho nó khoái khẩu, khoái nhĩ. Cả gia đình ông Xướng hiện vẫn tứ đại đồng đường theo lối cổ. Đấy là tên thật, rất ngộ, ở Hành Lạc còn có những gia đình ngoài tên khai sinh còn có tên thường gọi rất vần vè như bà Giành đẻ một mạch “ngũ long công chúa” gồm năm đứa con gái là Giỏ, Cua, Cá, Tôm, Tép.

Ông Giành năm nay đã 55 tuổi nhưng gặp đâu dân làng vẫn gọi là bố đĩ dù cuối cùng vợ ông cũng sinh ra cho dòng họ Ngô một thằng cò chính hiệu. Cái Hường nhà bà giờ đang học thạc sĩ, về làng vẫn thường giật thột mình khi bị người ta bất ngờ réo: “Đĩ Cá đã về rồi à?”.

Kỷ lục nhất ở Hành Lạc là cặp vợ chồng ông Đỗ Đức Bần và bà Nguyễn Thị Sóng khi sở hữu trong tay tới 6 đĩ. Đĩ mẹ Sóng đẻ ra con gái đầu lòng gọi là đĩ nhớn, đứa kế là đĩ bé, đứa tiếp nữa là đĩ cỏn, đứa tiếp nữa nữa là đĩ con. Đến đứa thứ năm thì bà Sóng bí, bí thực sự vì vốn từ vựng tiếng Việt sau từ nhớn chỉ có bé, cỏn, con thôi nên đành gọi là đĩ Lan. Đứa thứ sáu bà gọi luôn là đĩ Út. Út mà chưa chót phận út, về sau khi đã đứng tuổi ông bà cố gắng nhào nặn một lần nữa để cho ra đời cò Công - cái tên gói ghém bao công sức lặn lội của cặp vợ chồng cho đặng nỗi khát khao một thằng chống gậy.

Tiếng là Bần nhưng ông cho xây cái nhà tầng to, cao vào diện nhất nhì làng như minh chứng cho cả đời chắt chiu tần tảo. Hôm tôi đến, sáu đĩ nhà ông bà, đứa đi lấy chồng, đứa đi làm, đứa đi học chỉ nhõn cò Công ở nhà. Mẹ gọi ồi ồi, thằng bé từ trong chăn ló mặt ra nhìn khách lạ rồi lại ngáp một cái rõ to, rúc đầu vào chăn như đà điểu rúc cát, điềm nhiên ngủ tiếp.

Theo Dương Đình Tường - Nông Nghiệp Việt Nam
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(TPO) - Phượt dịp Tết đã trở thành trào lưu trong giới trẻ từ nhiều năm nay. Ưa xê dịch, nhiều bạn trẻ đã lên kế hoạch xông đất trên nhiều miền quê, ngao du sơn thủy, chinh phục các đèo “Mã”, làm từ thiện bằng xe máy.
Đón Tết ở cực Đông, cực Tây.

Trên các diễn đàn, trang mạng chuyên về du lịch, “phượt”, nhiều kế hoạch xê dịch được cập nhật, thu hút nhiều người tham gia đăng ký. Những chủ đề như “Cần tìm người đi Lào, Campuchia dịp Tết”, “Lên Sơn La Tết âm lịch”, hay “Tết này ai phượt đâu không?”… được đông đảo bạn trẻ bình luận, chia sẻ.

Ly Ly (Hà Nội) dù mới làm tour “trăng mật” Đà Lạt, Nha Trang cùng chồng nhưng vẫn sẵn sàng lên đường dịp Tết. “Năm nay nghỉ Tết dài, lại không phải lo chuyện xế như những hành trình trước nên luôn sẵn sàng đi”, Ly Ly nói.

Mộc Châu (Sơn La), Sa Pa Y Tý (Lào Cai), cực Tây A Pa Chải (Điện Biên), hay đỉnh Fansipan (Lào Cai) là những điểm đến được nhiều bạn trẻ lựa chọn trong dịp Tết Giáp Ngọ. Nguyễn Hoài Anh (Vụ Bản, Nam Định) cho biết Tết này sẽ trở lại Hà Nội từ mồng 2 Tết để cùng nhóm bạn lên cực Tây A Pa Chải.

“Tôi muốn cuộc sống của mình phải có dấu ấn và tôi chọn chào năm mới ở một vùng đất đặc biệt. Đón Tết ở ngã ba biên giới sẽ cho tôi nhiều niềm vui, trải nghiệm. Không chỉ biết thêm được vùng quê của đất nước mà còn thêm hiểu văn hoá, truyền thống, người dân nơi đây”, Hoài Anh nói.

Từng đạp xe xuyên Việt, đi bộ qua đèo Hải Vân, nữ phượt thủ với nickname Bigpig lên khung “xông đất cực Đông mùng 5 Tết”. Lý do lên đường của cô tìm may mắn trong năm tuổi. “Sang năm mới là năm tuổi. Mình quyết định giải vận xui của năm tuổi vào đầu năm mới với kế hoạch chinh phục cực Đông bắt đầu vào ngày mùng 5 Tết (tức ngày 4/2 dương lịch)”, Bigpig cho hay.

Sau khi bàn luận, họp nhóm, hành trình chinh phục cực Đông của nhóm Bigpig sẽ có 16 người. Cả đoàn sẽ xuất phát từ Nha Trang để đến Mũi Đôi (thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, Khánh Hòa) - điểm nhận ánh sáng mặt trời đầu tiên trên đất liền của Tổ quốc.

Năm mới trên lưng ngựa sắt

Có nhiều bạn trẻ chọn khởi hành đầu năm Ngọ bằng con ngựa sắt chinh phục các cung đường, đổ đèo ở Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), vượt qua đèo “Sống mũi ngựa” Mã Pí Lèng hay xông đất Cao Bằng có đèo Mã Phục nằm trên con đường độc đạo từ thị xã vào 5 huyện biên giới miền Đông của tỉnh và đèo “khuỷu tay ngựa” Mã Quỷnh…

Một thành viên phượt có nickname Phonghai đã lập kế hoạch “Ăn tết ta trên đường lên núi xuống biển” kéo dài 5 ngày, từ mùng 2 Tết. Hành trình được khởi hành từ TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Buôn Mê Thuột, Quy Nhơn. Còn nhóm của phượt thủ có nickname NTTN sẽ phiêu du với hành trình Mộc Châu – Sầm Nưa (Lào). Đoàn đã chốt với số lượng thành viên 14 (gắn với năm 2014).

Gắn với những chuyến tình nguyện hướng về những vùng sâu, xa khó khăn ở Thanh Hóa trong suốt cả năm, nhưng dịp Tết Nguyên đán, nhiều thành viên đội tình nguyện Sinh viên Hàm Rồng vẫn ấp ủ dự định lên đường. Thảo Nguyên (ĐH Quốc gia Hà Nội) chia sẻ: Một số thành viên trong đội tình nguyện Sinh viên Hàm Rồng đang có dự định phượt xuyên Thanh Hóa với những địa điểm trong clip Quê tôi Thanh Hóa tầm mùng 3, 4 Tết”.

Khởi hành trong những ngày đầu xuân năm mới, những người trẻ mang theo tâm niệm đi an toàn để cảm nhận, sẻ chia. Ngay từ khi lên kế hoạch cung đường du xuân, phần lớn các trưởng đoàn đều cung cấp lịch trình, tình hình về đường sá, thời tiết… và có thêm những bàn luận, góp ý của thành viên. Tổ chức tour Tây Bắc từ 2 -6 Tết bằng xe máy, Mạc Văn Kiên (giáo viên dạy Toán, Quảng Ninh) yêu cầu rõ: “Phương tiện là xe số trên 100cc, bảo dưỡng thay dầu máy và kiểm tra phanh thật tốt. Khi đi tuân thủ luật giao thông và theo sự chỉ dẫn của trưởng đoàn”.

Cũng đăng ký một hanh trình du xuân, Tuancamau thành viên "xông đất cực Đông mùng 5 Tết” đã tìm hiểu nhiều bài viết về cực Đông để lấy kinh nghiệm. “Mình nghĩ tự thân mỗi người phải tự tìm hiểu các bài viết về cực Đông để lượng sức, tránh sự ỉ lại vào trưởng đoàn và các thành viên trong đoàn”, Tuancamau chia sẻ.

Nhiều nhóm phượt kết hợp làm tình nguyện, từ thiện. Những ngày cận Tết, nhóm 3 người của Hoàng Thị Hà (SN 1989, Vũng Tàu) đang tìm thêm người đồng hành để lên Điện Biên làm chương trình “Hơi ấm biên cương” trao quà tới các em học sinh; đồng thời trải nghiệm lên cực Tây A Pa Chải. “Lúc đầu đoàn có 8 người, nhưng do một số thành viên có việc gia đình không thể tham gia, nên hành trình đang tuyển thêm người”, Hà chia sẻ.

Cô cũng cho hay chương trình đã vận động được khoảng 100 áo ấm cùng găng tay, dép mới và gần 60 bộ sách giáo khoa, 300 vở viết… để tặng các em học sinh trường THCS Sín Thầu tại xã Sín Thầu (Mường Nhé, Điện Biên). “Mình cũng đã liên hệ trước nhờ sự tư vấn và giúp đỡ với Đồn Biên phòng A Pa Chải, Huyện Đoàn Mường Nhé và trường THCS Sín Thầu”.

Theo báo Tiền Phong
Du lịch, GO!

Cưỡi “ngựa sắt” chào năm Ngọ

(TPO) - Phượt dịp Tết đã trở thành trào lưu trong giới trẻ từ nhiều năm nay. Ưa xê dịch, nhiều bạn trẻ đã lên kế hoạch xông đất trên nhiều miền quê, ngao du sơn thủy, chinh phục các đèo “Mã”, làm từ thiện bằng xe máy.
Đón Tết ở cực Đông, cực Tây.

Trên các diễn đàn, trang mạng chuyên về du lịch, “phượt”, nhiều kế hoạch xê dịch được cập nhật, thu hút nhiều người tham gia đăng ký. Những chủ đề như “Cần tìm người đi Lào, Campuchia dịp Tết”, “Lên Sơn La Tết âm lịch”, hay “Tết này ai phượt đâu không?”… được đông đảo bạn trẻ bình luận, chia sẻ.

Ly Ly (Hà Nội) dù mới làm tour “trăng mật” Đà Lạt, Nha Trang cùng chồng nhưng vẫn sẵn sàng lên đường dịp Tết. “Năm nay nghỉ Tết dài, lại không phải lo chuyện xế như những hành trình trước nên luôn sẵn sàng đi”, Ly Ly nói.

Mộc Châu (Sơn La), Sa Pa Y Tý (Lào Cai), cực Tây A Pa Chải (Điện Biên), hay đỉnh Fansipan (Lào Cai) là những điểm đến được nhiều bạn trẻ lựa chọn trong dịp Tết Giáp Ngọ. Nguyễn Hoài Anh (Vụ Bản, Nam Định) cho biết Tết này sẽ trở lại Hà Nội từ mồng 2 Tết để cùng nhóm bạn lên cực Tây A Pa Chải.

“Tôi muốn cuộc sống của mình phải có dấu ấn và tôi chọn chào năm mới ở một vùng đất đặc biệt. Đón Tết ở ngã ba biên giới sẽ cho tôi nhiều niềm vui, trải nghiệm. Không chỉ biết thêm được vùng quê của đất nước mà còn thêm hiểu văn hoá, truyền thống, người dân nơi đây”, Hoài Anh nói.

Từng đạp xe xuyên Việt, đi bộ qua đèo Hải Vân, nữ phượt thủ với nickname Bigpig lên khung “xông đất cực Đông mùng 5 Tết”. Lý do lên đường của cô tìm may mắn trong năm tuổi. “Sang năm mới là năm tuổi. Mình quyết định giải vận xui của năm tuổi vào đầu năm mới với kế hoạch chinh phục cực Đông bắt đầu vào ngày mùng 5 Tết (tức ngày 4/2 dương lịch)”, Bigpig cho hay.

Sau khi bàn luận, họp nhóm, hành trình chinh phục cực Đông của nhóm Bigpig sẽ có 16 người. Cả đoàn sẽ xuất phát từ Nha Trang để đến Mũi Đôi (thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, Khánh Hòa) - điểm nhận ánh sáng mặt trời đầu tiên trên đất liền của Tổ quốc.

Năm mới trên lưng ngựa sắt

Có nhiều bạn trẻ chọn khởi hành đầu năm Ngọ bằng con ngựa sắt chinh phục các cung đường, đổ đèo ở Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), vượt qua đèo “Sống mũi ngựa” Mã Pí Lèng hay xông đất Cao Bằng có đèo Mã Phục nằm trên con đường độc đạo từ thị xã vào 5 huyện biên giới miền Đông của tỉnh và đèo “khuỷu tay ngựa” Mã Quỷnh…

Một thành viên phượt có nickname Phonghai đã lập kế hoạch “Ăn tết ta trên đường lên núi xuống biển” kéo dài 5 ngày, từ mùng 2 Tết. Hành trình được khởi hành từ TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Buôn Mê Thuột, Quy Nhơn. Còn nhóm của phượt thủ có nickname NTTN sẽ phiêu du với hành trình Mộc Châu – Sầm Nưa (Lào). Đoàn đã chốt với số lượng thành viên 14 (gắn với năm 2014).

Gắn với những chuyến tình nguyện hướng về những vùng sâu, xa khó khăn ở Thanh Hóa trong suốt cả năm, nhưng dịp Tết Nguyên đán, nhiều thành viên đội tình nguyện Sinh viên Hàm Rồng vẫn ấp ủ dự định lên đường. Thảo Nguyên (ĐH Quốc gia Hà Nội) chia sẻ: Một số thành viên trong đội tình nguyện Sinh viên Hàm Rồng đang có dự định phượt xuyên Thanh Hóa với những địa điểm trong clip Quê tôi Thanh Hóa tầm mùng 3, 4 Tết”.

Khởi hành trong những ngày đầu xuân năm mới, những người trẻ mang theo tâm niệm đi an toàn để cảm nhận, sẻ chia. Ngay từ khi lên kế hoạch cung đường du xuân, phần lớn các trưởng đoàn đều cung cấp lịch trình, tình hình về đường sá, thời tiết… và có thêm những bàn luận, góp ý của thành viên. Tổ chức tour Tây Bắc từ 2 -6 Tết bằng xe máy, Mạc Văn Kiên (giáo viên dạy Toán, Quảng Ninh) yêu cầu rõ: “Phương tiện là xe số trên 100cc, bảo dưỡng thay dầu máy và kiểm tra phanh thật tốt. Khi đi tuân thủ luật giao thông và theo sự chỉ dẫn của trưởng đoàn”.

Cũng đăng ký một hanh trình du xuân, Tuancamau thành viên "xông đất cực Đông mùng 5 Tết” đã tìm hiểu nhiều bài viết về cực Đông để lấy kinh nghiệm. “Mình nghĩ tự thân mỗi người phải tự tìm hiểu các bài viết về cực Đông để lượng sức, tránh sự ỉ lại vào trưởng đoàn và các thành viên trong đoàn”, Tuancamau chia sẻ.

Nhiều nhóm phượt kết hợp làm tình nguyện, từ thiện. Những ngày cận Tết, nhóm 3 người của Hoàng Thị Hà (SN 1989, Vũng Tàu) đang tìm thêm người đồng hành để lên Điện Biên làm chương trình “Hơi ấm biên cương” trao quà tới các em học sinh; đồng thời trải nghiệm lên cực Tây A Pa Chải. “Lúc đầu đoàn có 8 người, nhưng do một số thành viên có việc gia đình không thể tham gia, nên hành trình đang tuyển thêm người”, Hà chia sẻ.

Cô cũng cho hay chương trình đã vận động được khoảng 100 áo ấm cùng găng tay, dép mới và gần 60 bộ sách giáo khoa, 300 vở viết… để tặng các em học sinh trường THCS Sín Thầu tại xã Sín Thầu (Mường Nhé, Điện Biên). “Mình cũng đã liên hệ trước nhờ sự tư vấn và giúp đỡ với Đồn Biên phòng A Pa Chải, Huyện Đoàn Mường Nhé và trường THCS Sín Thầu”.

Theo báo Tiền Phong
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(TPO) - Năm 2013 vừa qua đầy biến động với dân phượt, nhưng không gì có thể ngăn nổi dân phượt tiếp tục rong ruổi trên nhiều cung đường cùng con ngựa sắt, với chủ nghĩa xê dịch mạnh như những chú ngựa không thể kìm cương.

Loài ngựa được nhắc đến như là loài động vật mạnh mẽ, có thể gánh hàng trăm cân trên lưng và vẫn luôn chạy nhanh về phía trước. Để đo đạc sức mạnh của những phương tiện di chuyển nói riêng, người ta dùng đơn vị đo là “mã lực”.
Dân phượt, một cộng đồng khó định nghĩa, chỉ có thể nói họ giống như những chú ngựa luôn ngứa chân ngứa cẳng và không chịu bó mình một chỗ.

Dân phượt cũng không giới hạn phương tiện, có thể là xe đạp, xe máy, ô tô, cũng có thể chỉ là đôi chân trần cùng hành lý trên lưng. Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, hay dọc bờ biển miền Trung, miền Tây, leo Phan..., rất nhiều địa danh khắp trong và ngoài nước được đặt ra làm đích đến và chinh phục của dân phượt khắp cả nước.

Năm 2013, từ “Phượt” ngày càng được nhắc đến nhiều hơn, với cộng đồng lớn hơn, nhưng cũng non trẻ hơn và có vẻ hỗn độn hơn. Dân phượt giờ đây có nhiều những người đi theo phong trào, theo đám bạn, và vì thế tai nạn rủi ro cũng nhiều hơn.

Dân phượt trẻ với khái niệm phượt là không kế hoạch, không chuẩn bị, cứ đi là đi thôi khiến những người lớn cảm thấy lo lắng hơn. Những tay phượt kỳ cựu luôn có đủ những kiến thức sống, kiến thức phượt và cả kiến thức sinh tồn, và họ luôn đưa ra những kế hoạch hợp lý trong phút chốc, chứ không phải là không chuẩn bị gì cho một chuyển đi.

Năm qua, dân phượt cũng đón nhận nhiều tin buồn hơn. Nữ sinh mới ngoài 20 tuổi tử nạn trên đường phượt, khi theo một nhóm đông đảo tới 60 người. Phượt thủ kỳ cựu được nhiều người yêu quý Chu Hồng Đăng cũng qua đời, nguyên nhân được cho là cơn đau tim đột ngột.

Thêm nữa, những tin đồn kiểu như nữ phượt thủ ăn ngủ chung với nam, nữ phượt thủ bị cưỡng hiếp, cùng với nhiều thông tin khác khiến cho cụm từ phượt bị nhiều người, phần lớn là người lớn, coi nó là một trào lưu không mấy tốt đẹp và an toàn.

Vượt lên trên những dị nghị của của người lớn hay những “anh hùng bàn phím”, phượt vẫn ngày càng phát triển và mở rộng hơn. Cho dù là một chuyển đi không kế hoạch, không chuẩn bị, không mục đích, có thể có rủi ro, nhưng chắc chắn những chuyến đi sẽ tốt hơn so với việc chỉ ngồi yên một chỗ.

"Đi một ngày đàng, học một sàng khôn", những kinh nghiệm trên đường phượt chắc chắn sẽ giúp ích không nhỏ trong hành trang của những con người trẻ.

“Phượt” trong năm Ngọ hy vọng sẽ không vì những tin buồn, những điều tiếng trên mạng xã hội mà suy yếu. Như những chú ngựa cuồng chân, cư dân phượt sẽ tiếp tục chinh phục các mục tiêu, bằng nhiều phương tiện, từ Bắc tới Nam, trong nước và ngoài nước.

Theo báo Tiền Phong
Du lịch, GO!

Dân phượt phi như ngựa...

(TPO) - Năm 2013 vừa qua đầy biến động với dân phượt, nhưng không gì có thể ngăn nổi dân phượt tiếp tục rong ruổi trên nhiều cung đường cùng con ngựa sắt, với chủ nghĩa xê dịch mạnh như những chú ngựa không thể kìm cương.

Loài ngựa được nhắc đến như là loài động vật mạnh mẽ, có thể gánh hàng trăm cân trên lưng và vẫn luôn chạy nhanh về phía trước. Để đo đạc sức mạnh của những phương tiện di chuyển nói riêng, người ta dùng đơn vị đo là “mã lực”.
Dân phượt, một cộng đồng khó định nghĩa, chỉ có thể nói họ giống như những chú ngựa luôn ngứa chân ngứa cẳng và không chịu bó mình một chỗ.

Dân phượt cũng không giới hạn phương tiện, có thể là xe đạp, xe máy, ô tô, cũng có thể chỉ là đôi chân trần cùng hành lý trên lưng. Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, hay dọc bờ biển miền Trung, miền Tây, leo Phan..., rất nhiều địa danh khắp trong và ngoài nước được đặt ra làm đích đến và chinh phục của dân phượt khắp cả nước.

Năm 2013, từ “Phượt” ngày càng được nhắc đến nhiều hơn, với cộng đồng lớn hơn, nhưng cũng non trẻ hơn và có vẻ hỗn độn hơn. Dân phượt giờ đây có nhiều những người đi theo phong trào, theo đám bạn, và vì thế tai nạn rủi ro cũng nhiều hơn.

Dân phượt trẻ với khái niệm phượt là không kế hoạch, không chuẩn bị, cứ đi là đi thôi khiến những người lớn cảm thấy lo lắng hơn. Những tay phượt kỳ cựu luôn có đủ những kiến thức sống, kiến thức phượt và cả kiến thức sinh tồn, và họ luôn đưa ra những kế hoạch hợp lý trong phút chốc, chứ không phải là không chuẩn bị gì cho một chuyển đi.

Năm qua, dân phượt cũng đón nhận nhiều tin buồn hơn. Nữ sinh mới ngoài 20 tuổi tử nạn trên đường phượt, khi theo một nhóm đông đảo tới 60 người. Phượt thủ kỳ cựu được nhiều người yêu quý Chu Hồng Đăng cũng qua đời, nguyên nhân được cho là cơn đau tim đột ngột.

Thêm nữa, những tin đồn kiểu như nữ phượt thủ ăn ngủ chung với nam, nữ phượt thủ bị cưỡng hiếp, cùng với nhiều thông tin khác khiến cho cụm từ phượt bị nhiều người, phần lớn là người lớn, coi nó là một trào lưu không mấy tốt đẹp và an toàn.

Vượt lên trên những dị nghị của của người lớn hay những “anh hùng bàn phím”, phượt vẫn ngày càng phát triển và mở rộng hơn. Cho dù là một chuyển đi không kế hoạch, không chuẩn bị, không mục đích, có thể có rủi ro, nhưng chắc chắn những chuyến đi sẽ tốt hơn so với việc chỉ ngồi yên một chỗ.

"Đi một ngày đàng, học một sàng khôn", những kinh nghiệm trên đường phượt chắc chắn sẽ giúp ích không nhỏ trong hành trang của những con người trẻ.

“Phượt” trong năm Ngọ hy vọng sẽ không vì những tin buồn, những điều tiếng trên mạng xã hội mà suy yếu. Như những chú ngựa cuồng chân, cư dân phượt sẽ tiếp tục chinh phục các mục tiêu, bằng nhiều phương tiện, từ Bắc tới Nam, trong nước và ngoài nước.

Theo báo Tiền Phong
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(BTN) - Bây giờ người ta không còn làm ống trúm bằng nứa hay tre nữa, họ dùng ống nhựa, một đầu nung nóng cho nó co khít lại hoặc dùng chai nhựa dán keo bịt lại. Tuy nhiên đầu kia thì vẫn phải dùng hom đan bằng tre.

12 giờ trưa, đang chờ đèn đỏ ở ngã tư Thanh Điền (huyện Châu Thành), chợt thấy 2 người đàn ông hơi lớn tuổi dừng đổ xăng, trên 2 chiếc xe máy cà tàng, cũ kỹ có mấy cái bao tải đựng ống nhựa dài chừng 1,2 mét. Nhìn kỹ mấy ống nhựa, tôi mường tượng như ống trúm mà ngày còn bé tôi cũng từng làm để bẫy lươn. Tò mò, nên họ vừa nổ máy chạy đi, tôi cũng theo sau.

< Đi xuyên qua những cánh rừng cao su bạt ngàn.

Ngày bé ở quê, tôi thường làm ống trúm bẫy lươn bằng nứa hay tre, một đầu bịt chặt và khoét một lỗ để lưu thông oxy, đầu kia được bịt bằng hom - đan bằng tre, hình chóp nón - rồi đút vào miệng ống, dùng chốt tre chèn lại.

Cái ống đó dùng để bẫy lươn, chỉ cần tra mồi bằng giun đất hay cua đồng giã nhỏ vào miệng ống hay trên hom rồi nút chặt, chiều tối đem thả xuống bờ ao hay bờ ruộng, miệng ống nằm sát đất, đuôi ống kê lên bờ ruộng hoặc bờ ao.

Lươn ngửi thấy mùi cua hay giun đất phân hủy thì khoái vô cùng, chui vào ống để “đánh chén”. Mấy chú lươn đâu biết rằng chui vào thì được nhưng chui ra thì khó hơn lên trời.

< Chú Hiếu đang thả ống trúm xuống một con suối nhỏ giữa rừng.

Bây giờ, người ta không còn làm ống trúm bằng nứa hay tre nữa, họ dùng ống nhựa, một đầu nung nóng cho nó co khít lại hoặc dùng chai nhựa dán keo bịt lại. Tuy nhiên đầu kia thì vẫn phải dùng hom đan bằng tre.

Xuyên rừng, xuyên biên giới săn lươn

Đi theo họ một quãng đường khá xa, từ Thanh Điền (Châu Thành) lên tới xã Thạnh Tân (thành phố Tây Ninh). Lúc này, tôi mới vượt lên, chạy song song với họ để bắt chuyện, rồi ngỏ ý xin được đi cùng.

< Hai chú Yên và Hiếu tìm nơi đặt ống trúm trong rừng Suối Lam.

Hai người đàn ông có vẻ ngỡ ngàng, nhưng thấy tôi có chút am hiểu về cái ống trúm bằng nhựa nên chỉ đắn đo một chút rồi đồng ý. Tuy nhiên họ cũng báo trước là phải đi xuyên rừng, sát biên giới Campuchia và phải sang ngày mai mới về.

Trên đường đi, đôi lời qua lại, hai người đàn ông mới cho biết họ tên tên là Nguyễn Văn Yên và Nguyễn Văn Hiếu – cùng ngụ ở ấp Thanh Trung, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành. Cả 2 đều có dáng người nhỏ nhắn, nước da sạm đen. Chú Yên năm nay 58 tuổi, làm nghề “săn lươn” được hơn 7 năm, còn chú Hiếu ít hơn 10 tuổi nhưng lại làm nghề này gần 30 năm. Chú Yên có gương mặt khá khắc khổ, lại có hàm răng rơi đâu mất mấy cái răng cửa, nhưng rất hay cười, nụ cười yêu đời.

< Xin ngủ nhờ ở một ngôi nhà tại ấp Đông Thành.

Từ Thạnh Tân, chúng tôi ngược lên hướng các xã biên giới huyện Tân Châu, len lỏi qua những con đường đất, những cánh rừng, tới một cây cầu sắt bắc qua con suối chảy qua rừng cao su, nơi đó có mấy hộ dân sinh sống và có 1 quán cà phê nhỏ.
Tôi thoáng thấy tấm biển ghi rõ ấp Đông Lợi, xã Tân Đông (huyện Tân Châu), bên kia cầu có trạm kiểm soát của đồn biên phòng, đây có lẽ là khu vực biên giới rồi. Chú Yên dừng lại, chỉ tay vào quán cà phê: “Điểm đặt ống trúm cách đây mấy cây số nữa, phải qua cánh rừng cao su phía trước, qua đường vành đai biên giới, rồi băng qua một cánh rừng cao su nữa là tới”.

Chúng tôi tiếp tục đi, lên tới đường vành đai biên giới, tôi chỉ kịp liếc nhìn cột mốc lộ giới ghi rõ “Vạc Xa 18km – cầu Sài Gòn 21km”. Rẽ vào đường mòn trong rừng cao su, tới một cánh rừng tràm, chú Yên bảo đây là rừng suối Lam, điểm đầu đặt trúm bắt lươn. Từ Thanh Điền lên tới cánh rừng này cũng phải hơn 60km, sóng điện thoại chỉ có mỗi Viettel, các nhà mạng khác đều “chết ngắc”.

Lúc đó cũng đã 3 giờ chiều. Theo các con rạch trong rừng, các chú lần lượt thả trúm và đánh dấu cho dễ nhớ. Từ đó, họ lại đi thêm khảng 6, 7km nữa, sát biên giới Campuchia mới thả hết số ống trúm. Theo họ một đỗi, bụng đói cồn cào, tôi xin phép quay lại quán cà phê ở khoảnh rừng cao su ấp Đông Lợi, kiếm gì bỏ bụng.

< Trút trúm đổ lươn ra để bán.

Tết nhất, quán cà phê có bán mì tôm chế nước sôi đã là may. Thấy tôi là người lạ, vài người trong quán dò hỏi. Tôi bảo đi theo mấy người thả trúm bắt lươn, bà chủ quán nhanh nhẩu nói, mấy ông đặt trúm ở dưới Thanh Điền thường qua đây. Một chị phụ nữ không biết Thanh Điền ở đâu, khi nghe tôi chỉ, chị chép miệng thở dài: Đi chi mà xa dữ vậy trời! Không biết bắt được nhiều lươn không, bán được bao nhiêu tiền mà cực vậy!

Nghề cơ cực

Hơn 2 giờ sau, hai chú Yên và Hiếu cũng về tới quán. Uống vội ly cà phê, chúng tôi lại lên đường, quay về Kà Tum ăn tối.
7 giờ tối, chúng tôi đến một căn nhà nhỏ ở ấp Đông Thành xin ngủ nhờ. Thấy tôi có vẻ ngại ngùng, hai chú trấn an rằng đây là nơi hai chú thường xin ghé qua mỗi khi đi đánh lươn trên này. Nghe nói vậy tôi cũng có phần yên tâm. Ngủ trước thềm nhà, hai chú mới cho biết, mỗi lần đi săn lươn, các chú thường đi theo tốp, có thể 2 hoặc ba người đi chung. Cái nghề đặt trúm bắt lươn này tối ngày rong ruổi khắp nơi, từ Phước Vinh, Tân Đông, Dầu Tiếng, Bàu Đồn sang tận Đức Hoà (Long An), thậm chí có khi qua hai tỉnh Campuchia giáp biên là Svay Rieng và Kampong Cham nên khổ cực quen rồi.

< Đi hơn 60km cũng chỉ được chưa đầy 5kg lươn.

Trước đây, mỗi lần đi là bắt được khá nhiều lươn. Bây giờ, nguồn nước ngày càng ô nhiễm, người ta lại dùng xung điện đánh bắt nên phải đi xa là vậy. Đi xa, có chỗ xin ngủ nhờ được còn đỡ, còn không thì mắc võng ngủ rừng hay tìm lán chợ nào ngủ tạm. Cơm nước thì gặp đâu ăn đó, còn chuyện tắm rửa thì một là ao hồ sông suối, hai là cứ để mai về hẵng hay.

Trước thềm nhà có cái giường bỏ không, cô chủ nhà cho mượn cái mền đắp tạm. Giường nhỏ chỉ đủ chỗ cho hai người, nếu không có tôi chắc đủ cho hai chú tìm được giấc ngủ ngon sau chuyến đi mệt nhọc. Vì tôi, nên chú Hiếu nhường chỗ, mắc võng ngủ ngoài trời. Càng về khuya, sương rơi nhiều, trời năm này chẳng hiểu sao lại lạnh như ngoài Bắc nên nửa đêm chú Hiếu phải ngồi dậy đốt lửa sưởi ấm.
Mới 5 giờ sáng, chúng tôi thức dậy bắt đầu đi thu ống trúm. Chú Yên khoe, chắc cũng được 5 kg. Giá lươn khoảng 150 ngàn/kg, số lươn này cũng kiếm được hơn 700 ngàn.

Về tới cầu Mới, Thanh Điền cũng đã gần 11 giờ trưa. Đây là nơi các chú thường bán lươn mỗi khi đi về. Bà chủ vựa bảo, số lươn chỉ có 4,6 kg nên chỉ được 690 ngàn. Còn 2 con lươn khá to đã chết bị loại ra nhưng vẫn bị bà chủ vựa lấy luôn, nói là để bù cho những con lươn nhỏ. Tính ra, mỗi chú cũng được hơn 300 ngàn, trừ chi phí xăng xe, cơm nước dọc đường, tính ra mỗi người chẳng được là bao.

< Lại chuẩn bị mồi, ống trúm cho chuyến đi kế tiếp.

Về tới nhà, chú Yên lại tiếp tục giã mồi rồi cho vào ống trúm để còn kịp cho chuyến đi Dương Minh Châu chiều nay. Chú bảo, cứ sau một chuyến đi xa là một chuyến đi gần. Vợ chú ngồi bên nói thêm: “Mấy ổng làm nghề này cực lắm, đi thâu ngày thâu đêm, ăn uống tạm bợ, ngủ rừng ngủ bụi. Nhiều khi gặp trời mưa trúm lươn bị ngập nước, lươn chết đã đành, còn phải lặn lội mò tìm ống trúm. Có hôm nước lớn quá, phải bỏ đó đợi rút rồi mới đi tìm lại”.
Lúc từ giã, chú Yên còn dặn đi, dặn lại: “Khi nào chú điện, mày nhớ xuống ăn cháo lươn nghe!”.

Theo Đình Dương (báo Tây Ninh)
Du lịch, GO!

Xuyên rừng săn lươn

(BTN) - Bây giờ người ta không còn làm ống trúm bằng nứa hay tre nữa, họ dùng ống nhựa, một đầu nung nóng cho nó co khít lại hoặc dùng chai nhựa dán keo bịt lại. Tuy nhiên đầu kia thì vẫn phải dùng hom đan bằng tre.

12 giờ trưa, đang chờ đèn đỏ ở ngã tư Thanh Điền (huyện Châu Thành), chợt thấy 2 người đàn ông hơi lớn tuổi dừng đổ xăng, trên 2 chiếc xe máy cà tàng, cũ kỹ có mấy cái bao tải đựng ống nhựa dài chừng 1,2 mét. Nhìn kỹ mấy ống nhựa, tôi mường tượng như ống trúm mà ngày còn bé tôi cũng từng làm để bẫy lươn. Tò mò, nên họ vừa nổ máy chạy đi, tôi cũng theo sau.

< Đi xuyên qua những cánh rừng cao su bạt ngàn.

Ngày bé ở quê, tôi thường làm ống trúm bẫy lươn bằng nứa hay tre, một đầu bịt chặt và khoét một lỗ để lưu thông oxy, đầu kia được bịt bằng hom - đan bằng tre, hình chóp nón - rồi đút vào miệng ống, dùng chốt tre chèn lại.

Cái ống đó dùng để bẫy lươn, chỉ cần tra mồi bằng giun đất hay cua đồng giã nhỏ vào miệng ống hay trên hom rồi nút chặt, chiều tối đem thả xuống bờ ao hay bờ ruộng, miệng ống nằm sát đất, đuôi ống kê lên bờ ruộng hoặc bờ ao.

Lươn ngửi thấy mùi cua hay giun đất phân hủy thì khoái vô cùng, chui vào ống để “đánh chén”. Mấy chú lươn đâu biết rằng chui vào thì được nhưng chui ra thì khó hơn lên trời.

< Chú Hiếu đang thả ống trúm xuống một con suối nhỏ giữa rừng.

Bây giờ, người ta không còn làm ống trúm bằng nứa hay tre nữa, họ dùng ống nhựa, một đầu nung nóng cho nó co khít lại hoặc dùng chai nhựa dán keo bịt lại. Tuy nhiên đầu kia thì vẫn phải dùng hom đan bằng tre.

Xuyên rừng, xuyên biên giới săn lươn

Đi theo họ một quãng đường khá xa, từ Thanh Điền (Châu Thành) lên tới xã Thạnh Tân (thành phố Tây Ninh). Lúc này, tôi mới vượt lên, chạy song song với họ để bắt chuyện, rồi ngỏ ý xin được đi cùng.

< Hai chú Yên và Hiếu tìm nơi đặt ống trúm trong rừng Suối Lam.

Hai người đàn ông có vẻ ngỡ ngàng, nhưng thấy tôi có chút am hiểu về cái ống trúm bằng nhựa nên chỉ đắn đo một chút rồi đồng ý. Tuy nhiên họ cũng báo trước là phải đi xuyên rừng, sát biên giới Campuchia và phải sang ngày mai mới về.

Trên đường đi, đôi lời qua lại, hai người đàn ông mới cho biết họ tên tên là Nguyễn Văn Yên và Nguyễn Văn Hiếu – cùng ngụ ở ấp Thanh Trung, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành. Cả 2 đều có dáng người nhỏ nhắn, nước da sạm đen. Chú Yên năm nay 58 tuổi, làm nghề “săn lươn” được hơn 7 năm, còn chú Hiếu ít hơn 10 tuổi nhưng lại làm nghề này gần 30 năm. Chú Yên có gương mặt khá khắc khổ, lại có hàm răng rơi đâu mất mấy cái răng cửa, nhưng rất hay cười, nụ cười yêu đời.

< Xin ngủ nhờ ở một ngôi nhà tại ấp Đông Thành.

Từ Thạnh Tân, chúng tôi ngược lên hướng các xã biên giới huyện Tân Châu, len lỏi qua những con đường đất, những cánh rừng, tới một cây cầu sắt bắc qua con suối chảy qua rừng cao su, nơi đó có mấy hộ dân sinh sống và có 1 quán cà phê nhỏ.
Tôi thoáng thấy tấm biển ghi rõ ấp Đông Lợi, xã Tân Đông (huyện Tân Châu), bên kia cầu có trạm kiểm soát của đồn biên phòng, đây có lẽ là khu vực biên giới rồi. Chú Yên dừng lại, chỉ tay vào quán cà phê: “Điểm đặt ống trúm cách đây mấy cây số nữa, phải qua cánh rừng cao su phía trước, qua đường vành đai biên giới, rồi băng qua một cánh rừng cao su nữa là tới”.

Chúng tôi tiếp tục đi, lên tới đường vành đai biên giới, tôi chỉ kịp liếc nhìn cột mốc lộ giới ghi rõ “Vạc Xa 18km – cầu Sài Gòn 21km”. Rẽ vào đường mòn trong rừng cao su, tới một cánh rừng tràm, chú Yên bảo đây là rừng suối Lam, điểm đầu đặt trúm bắt lươn. Từ Thanh Điền lên tới cánh rừng này cũng phải hơn 60km, sóng điện thoại chỉ có mỗi Viettel, các nhà mạng khác đều “chết ngắc”.

Lúc đó cũng đã 3 giờ chiều. Theo các con rạch trong rừng, các chú lần lượt thả trúm và đánh dấu cho dễ nhớ. Từ đó, họ lại đi thêm khảng 6, 7km nữa, sát biên giới Campuchia mới thả hết số ống trúm. Theo họ một đỗi, bụng đói cồn cào, tôi xin phép quay lại quán cà phê ở khoảnh rừng cao su ấp Đông Lợi, kiếm gì bỏ bụng.

< Trút trúm đổ lươn ra để bán.

Tết nhất, quán cà phê có bán mì tôm chế nước sôi đã là may. Thấy tôi là người lạ, vài người trong quán dò hỏi. Tôi bảo đi theo mấy người thả trúm bắt lươn, bà chủ quán nhanh nhẩu nói, mấy ông đặt trúm ở dưới Thanh Điền thường qua đây. Một chị phụ nữ không biết Thanh Điền ở đâu, khi nghe tôi chỉ, chị chép miệng thở dài: Đi chi mà xa dữ vậy trời! Không biết bắt được nhiều lươn không, bán được bao nhiêu tiền mà cực vậy!

Nghề cơ cực

Hơn 2 giờ sau, hai chú Yên và Hiếu cũng về tới quán. Uống vội ly cà phê, chúng tôi lại lên đường, quay về Kà Tum ăn tối.
7 giờ tối, chúng tôi đến một căn nhà nhỏ ở ấp Đông Thành xin ngủ nhờ. Thấy tôi có vẻ ngại ngùng, hai chú trấn an rằng đây là nơi hai chú thường xin ghé qua mỗi khi đi đánh lươn trên này. Nghe nói vậy tôi cũng có phần yên tâm. Ngủ trước thềm nhà, hai chú mới cho biết, mỗi lần đi săn lươn, các chú thường đi theo tốp, có thể 2 hoặc ba người đi chung. Cái nghề đặt trúm bắt lươn này tối ngày rong ruổi khắp nơi, từ Phước Vinh, Tân Đông, Dầu Tiếng, Bàu Đồn sang tận Đức Hoà (Long An), thậm chí có khi qua hai tỉnh Campuchia giáp biên là Svay Rieng và Kampong Cham nên khổ cực quen rồi.

< Đi hơn 60km cũng chỉ được chưa đầy 5kg lươn.

Trước đây, mỗi lần đi là bắt được khá nhiều lươn. Bây giờ, nguồn nước ngày càng ô nhiễm, người ta lại dùng xung điện đánh bắt nên phải đi xa là vậy. Đi xa, có chỗ xin ngủ nhờ được còn đỡ, còn không thì mắc võng ngủ rừng hay tìm lán chợ nào ngủ tạm. Cơm nước thì gặp đâu ăn đó, còn chuyện tắm rửa thì một là ao hồ sông suối, hai là cứ để mai về hẵng hay.

Trước thềm nhà có cái giường bỏ không, cô chủ nhà cho mượn cái mền đắp tạm. Giường nhỏ chỉ đủ chỗ cho hai người, nếu không có tôi chắc đủ cho hai chú tìm được giấc ngủ ngon sau chuyến đi mệt nhọc. Vì tôi, nên chú Hiếu nhường chỗ, mắc võng ngủ ngoài trời. Càng về khuya, sương rơi nhiều, trời năm này chẳng hiểu sao lại lạnh như ngoài Bắc nên nửa đêm chú Hiếu phải ngồi dậy đốt lửa sưởi ấm.
Mới 5 giờ sáng, chúng tôi thức dậy bắt đầu đi thu ống trúm. Chú Yên khoe, chắc cũng được 5 kg. Giá lươn khoảng 150 ngàn/kg, số lươn này cũng kiếm được hơn 700 ngàn.

Về tới cầu Mới, Thanh Điền cũng đã gần 11 giờ trưa. Đây là nơi các chú thường bán lươn mỗi khi đi về. Bà chủ vựa bảo, số lươn chỉ có 4,6 kg nên chỉ được 690 ngàn. Còn 2 con lươn khá to đã chết bị loại ra nhưng vẫn bị bà chủ vựa lấy luôn, nói là để bù cho những con lươn nhỏ. Tính ra, mỗi chú cũng được hơn 300 ngàn, trừ chi phí xăng xe, cơm nước dọc đường, tính ra mỗi người chẳng được là bao.

< Lại chuẩn bị mồi, ống trúm cho chuyến đi kế tiếp.

Về tới nhà, chú Yên lại tiếp tục giã mồi rồi cho vào ống trúm để còn kịp cho chuyến đi Dương Minh Châu chiều nay. Chú bảo, cứ sau một chuyến đi xa là một chuyến đi gần. Vợ chú ngồi bên nói thêm: “Mấy ổng làm nghề này cực lắm, đi thâu ngày thâu đêm, ăn uống tạm bợ, ngủ rừng ngủ bụi. Nhiều khi gặp trời mưa trúm lươn bị ngập nước, lươn chết đã đành, còn phải lặn lội mò tìm ống trúm. Có hôm nước lớn quá, phải bỏ đó đợi rút rồi mới đi tìm lại”.
Lúc từ giã, chú Yên còn dặn đi, dặn lại: “Khi nào chú điện, mày nhớ xuống ăn cháo lươn nghe!”.

Theo Đình Dương (báo Tây Ninh)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Khi đang được rước từ đền về đình làng ở Đông Anh, kiệu chở chúa đã lật đổ xuống đường. Rất may, do được buộc bảo hiểm chặt nên cụ ông 70 tuổi không bị rơi ra ngoài.

Lễ hội đền Sái ở thôn Thụy Lôi, xã Thụy Lâm (Đông Anh, Hà Nội) diễn ra lúc 13h ngày 11/1 âm lịch nổi bật với nghi lễ rước vua, chúa giả. Tích xưa kể rằng, sau nhiều lần xây thành Cổ Loa không xong, vua Thục Phán An Dương Vương được thần Huyền Thiên Trấn Vũ giúp diệt trừ yêu tinh, xây được thành. Để tạc ghi công đức của thần, nhà vua cho xây dựng đền Sái, thờ thần Trấn Vũ và hàng năm, vào đầu xuân, nhà vua lại đích thân xa giá về bái yết tại đền.

< Hàng năm vào ngày này, người dân trong làng lại tưởng nhớ sự tích An Dương Vương xây thành Cổ Loa, được các tiên nữ đêm đêm xuống trần gánh đất đắp hộ nhưng thần ma gà tác yêu giả tiếng gà gáy sáng làm các tiên cô bỏ cuộc bay về trời, nên đắp mãi chưa xong thành.

Về sau, do đi lại khó khăn và tốn kém, nhà vua ban chiếu cho làng Thụỵ Lôi thực hành nghi lễ này. Từ đó xuất hiện lễ hội “Rước vua giả” - còn gọi là lễ rước vua sống - ở đền Sái. Từ đó đến nay, cứ đến ngày 11 tháng Giêng có lễ hội rước Vua (lễ hội đền Sái) với sự tham gia của đông đảo dân làng và du khách thập phương.

< Nhờ được thần Huyền Thiên Trấn Vũ ra tay diệt được ma gà trắng núp ở Thất Diệu Sơn nên vua Thục mới xây xong thành Cổ Loa. Thần Trấn Vũ được thờ trên núi Sái của Thất Diệu Sơn. Vua, chúa nhiều đời sau từng về đây bái yết, nhưng thấy việc đi lại làm hao phí tiền bạc, công sức của nhân dân nên vua ban chiếu cho dân làng làm nghi lễ rước vua giả.

< Và từ đó đến nay vào mỗi dịp ăn Tết xong, cả làng lại rộn rã tổ chức hội. Bắt đầu từ 13h, lễ khênh kiệu từ đền Sái về đình làng với màn quay kiệu khí thế, vui nhộn. Đám rước kiệu đi trong tiếng nhạc của phường bát âm và tiếng chiêng trống vang dội.

< Chúa được vẽ mặt đỏ để phân biệt với vua, cả hai ngồi trên kiệu buộc bảo hiểm chặt nhưng cũng phải hãi hùng mỗi khi đám trai làng dô và quay kiệu nghiêng ngả.

< Khi kiệu về gần đến đình làng, pha lúng túng vấp chân của một thanh niên khênh kiệu đi đầu đã kéo theo hàng loạt người phía sau ngã theo khiến chiếc kiệu lật nhào.

< Chàng trai ngã bật ra xa 2 mét, may mắn người đóng vai chúa không bị chấn thương do đã được buộc chặt.

< Người được đóng vai chúa (hay còn gọi là Thanh Trang) năm Giáp Ngọ là cụ Lê Quang Hân (70 tuổi). Đây là một trong hai lão ông cao niên trong làng được tuyển chọn kỹ lưỡng (phải từ 70 tuổi trở lên, con cháu đuề huề hạnh phúc, đầy đủ nội ngoại, gia đình văn hoá).

< Còn vua là cụ Trần Văn Chương (72 tuổi). Thỉnh thoảng vua đứng hẳn lên kiệu khua kiếm náo động đường làng.

< Ngoài ra còn có bốn vị "quan tứ trụ triều đình", quan Thị vệ, quan Tán Lý, quan Đề lĩnh và quan Trấn thủ (trên 60 tuổi) được ngồi võng cho 'lính' rước.

< Trẻ em cũng được tham gia đóng vai quân lính tại lễ hội này.

Theo Zing
Du lịch, GO!

Kiệu chúa bổ nhào trong hội rước vua

Khi đang được rước từ đền về đình làng ở Đông Anh, kiệu chở chúa đã lật đổ xuống đường. Rất may, do được buộc bảo hiểm chặt nên cụ ông 70 tuổi không bị rơi ra ngoài.

Lễ hội đền Sái ở thôn Thụy Lôi, xã Thụy Lâm (Đông Anh, Hà Nội) diễn ra lúc 13h ngày 11/1 âm lịch nổi bật với nghi lễ rước vua, chúa giả. Tích xưa kể rằng, sau nhiều lần xây thành Cổ Loa không xong, vua Thục Phán An Dương Vương được thần Huyền Thiên Trấn Vũ giúp diệt trừ yêu tinh, xây được thành. Để tạc ghi công đức của thần, nhà vua cho xây dựng đền Sái, thờ thần Trấn Vũ và hàng năm, vào đầu xuân, nhà vua lại đích thân xa giá về bái yết tại đền.

< Hàng năm vào ngày này, người dân trong làng lại tưởng nhớ sự tích An Dương Vương xây thành Cổ Loa, được các tiên nữ đêm đêm xuống trần gánh đất đắp hộ nhưng thần ma gà tác yêu giả tiếng gà gáy sáng làm các tiên cô bỏ cuộc bay về trời, nên đắp mãi chưa xong thành.

Về sau, do đi lại khó khăn và tốn kém, nhà vua ban chiếu cho làng Thụỵ Lôi thực hành nghi lễ này. Từ đó xuất hiện lễ hội “Rước vua giả” - còn gọi là lễ rước vua sống - ở đền Sái. Từ đó đến nay, cứ đến ngày 11 tháng Giêng có lễ hội rước Vua (lễ hội đền Sái) với sự tham gia của đông đảo dân làng và du khách thập phương.

< Nhờ được thần Huyền Thiên Trấn Vũ ra tay diệt được ma gà trắng núp ở Thất Diệu Sơn nên vua Thục mới xây xong thành Cổ Loa. Thần Trấn Vũ được thờ trên núi Sái của Thất Diệu Sơn. Vua, chúa nhiều đời sau từng về đây bái yết, nhưng thấy việc đi lại làm hao phí tiền bạc, công sức của nhân dân nên vua ban chiếu cho dân làng làm nghi lễ rước vua giả.

< Và từ đó đến nay vào mỗi dịp ăn Tết xong, cả làng lại rộn rã tổ chức hội. Bắt đầu từ 13h, lễ khênh kiệu từ đền Sái về đình làng với màn quay kiệu khí thế, vui nhộn. Đám rước kiệu đi trong tiếng nhạc của phường bát âm và tiếng chiêng trống vang dội.

< Chúa được vẽ mặt đỏ để phân biệt với vua, cả hai ngồi trên kiệu buộc bảo hiểm chặt nhưng cũng phải hãi hùng mỗi khi đám trai làng dô và quay kiệu nghiêng ngả.

< Khi kiệu về gần đến đình làng, pha lúng túng vấp chân của một thanh niên khênh kiệu đi đầu đã kéo theo hàng loạt người phía sau ngã theo khiến chiếc kiệu lật nhào.

< Chàng trai ngã bật ra xa 2 mét, may mắn người đóng vai chúa không bị chấn thương do đã được buộc chặt.

< Người được đóng vai chúa (hay còn gọi là Thanh Trang) năm Giáp Ngọ là cụ Lê Quang Hân (70 tuổi). Đây là một trong hai lão ông cao niên trong làng được tuyển chọn kỹ lưỡng (phải từ 70 tuổi trở lên, con cháu đuề huề hạnh phúc, đầy đủ nội ngoại, gia đình văn hoá).

< Còn vua là cụ Trần Văn Chương (72 tuổi). Thỉnh thoảng vua đứng hẳn lên kiệu khua kiếm náo động đường làng.

< Ngoài ra còn có bốn vị "quan tứ trụ triều đình", quan Thị vệ, quan Tán Lý, quan Đề lĩnh và quan Trấn thủ (trên 60 tuổi) được ngồi võng cho 'lính' rước.

< Trẻ em cũng được tham gia đóng vai quân lính tại lễ hội này.

Theo Zing
Du lịch, GO!

Đọc thêm..