Khi đi du lịch đến Hồ Ba Bể ở Bắc Kạn, bạn sẽ nhìn thấy trong hồ có hai hòn đảo nhỏ, một là đảo An Mã. Hòn đảo nhỏ còn lại lô nhô đá và cây xanh, cách bến chính khoảng 300m. Đây chính là đảo Bà Góa.

< Đảo Bà Góa nằm giữa lòng hồ Ba Bể.

Đảo Bà Góa (tiếng người địa phương gọi Pò Giả Mải) là một hòn đảo nhỏ xinh xắn nằm giữa hồ 1 (Pé Lèng) của hồ và được gắn liền với sự tích Ba Bể. Đảo là nơi thú vị để dừng chân cuối cùng trong chuyến du ngoạn và để chiêm ngưỡng cảnh đẹp lộng lẫy của trời mây non nước hòa quyện tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình có một không hai của danh thắng này.

Đảo được tạo thành bởi những phiến đá to nhỏ xếp chồng lên nhau, cây cối trên đảo xanh tốt quanh năm, rễ cây buông xuống ôm lấy những phiến đá.

Nhìn từ xa, đảo như một hòn non bộ giữa mặt hồ. Trên đảo có bia đá khắc năm Khải Định thứ 9. Đây là hòn đảo nhỏ nhưng tuyệt đẹp với khu hệ thực vật phong phú như một điểm nhấn cho vẻ đẹp tự nhiên của cả một khu vực.

Truyền thuyết kể lại rằng ngày xưa vào dịp lễ hội Vô Giá trong vùng, dân bản Năm Mẫu thấy con bò lạc liền xẻ thịt chia nhau. Hai mẹ con bà góa nghèo cuối bản cũng được phần là chiếc đuôi và miếng da bé tẹo. Có bà lão ghẻ lở, rách rưới, hôi hám đến dự hội và xin ăn nhưng bị mọi người xua đuổi.

Đến cuối làng mới gặp được một căn nhà nhỏ của 2 mẹ con người đàn bà góa tốt bụng. Người ăn mày được tiếp đãi tử tế, mới bảo bà góa lấy trấu rắc quanh nhà. Đến nửa đêm mưa to gió lớn, người ăn mày biến mất, cả một vùng rộng lớn sụt xuống thành một cái hồ lớn nay gọi là hồ Ba Bể. Riêng ngôi nhà của 2 mẹ con là còn nguyên vẹn, thành cái đảo nhỏ này, nay gọi là đảo Bà Góa.

Đến đây, khách du lịch không nên bỏ qua cơ hội được ngâm mình trong làn nước xanh ngắt và mát lạnh của một bãi tắm mà thiên nhiên đã tạo dựng từ hàng ngàn năm qua, lại được che mát bởi các cây cổ thụ mọc trên đảo.

Du lịch, GO! tổng hợp

Thăm đảo Bà Góa – Bắc Kạn

Khi đi du lịch đến Hồ Ba Bể ở Bắc Kạn, bạn sẽ nhìn thấy trong hồ có hai hòn đảo nhỏ, một là đảo An Mã. Hòn đảo nhỏ còn lại lô nhô đá và cây xanh, cách bến chính khoảng 300m. Đây chính là đảo Bà Góa.

< Đảo Bà Góa nằm giữa lòng hồ Ba Bể.

Đảo Bà Góa (tiếng người địa phương gọi Pò Giả Mải) là một hòn đảo nhỏ xinh xắn nằm giữa hồ 1 (Pé Lèng) của hồ và được gắn liền với sự tích Ba Bể. Đảo là nơi thú vị để dừng chân cuối cùng trong chuyến du ngoạn và để chiêm ngưỡng cảnh đẹp lộng lẫy của trời mây non nước hòa quyện tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình có một không hai của danh thắng này.

Đảo được tạo thành bởi những phiến đá to nhỏ xếp chồng lên nhau, cây cối trên đảo xanh tốt quanh năm, rễ cây buông xuống ôm lấy những phiến đá.

Nhìn từ xa, đảo như một hòn non bộ giữa mặt hồ. Trên đảo có bia đá khắc năm Khải Định thứ 9. Đây là hòn đảo nhỏ nhưng tuyệt đẹp với khu hệ thực vật phong phú như một điểm nhấn cho vẻ đẹp tự nhiên của cả một khu vực.

Truyền thuyết kể lại rằng ngày xưa vào dịp lễ hội Vô Giá trong vùng, dân bản Năm Mẫu thấy con bò lạc liền xẻ thịt chia nhau. Hai mẹ con bà góa nghèo cuối bản cũng được phần là chiếc đuôi và miếng da bé tẹo. Có bà lão ghẻ lở, rách rưới, hôi hám đến dự hội và xin ăn nhưng bị mọi người xua đuổi.

Đến cuối làng mới gặp được một căn nhà nhỏ của 2 mẹ con người đàn bà góa tốt bụng. Người ăn mày được tiếp đãi tử tế, mới bảo bà góa lấy trấu rắc quanh nhà. Đến nửa đêm mưa to gió lớn, người ăn mày biến mất, cả một vùng rộng lớn sụt xuống thành một cái hồ lớn nay gọi là hồ Ba Bể. Riêng ngôi nhà của 2 mẹ con là còn nguyên vẹn, thành cái đảo nhỏ này, nay gọi là đảo Bà Góa.

Đến đây, khách du lịch không nên bỏ qua cơ hội được ngâm mình trong làn nước xanh ngắt và mát lạnh của một bãi tắm mà thiên nhiên đã tạo dựng từ hàng ngàn năm qua, lại được che mát bởi các cây cổ thụ mọc trên đảo.

Du lịch, GO! tổng hợp
Đọc thêm..
“Vua đầm” là tên do phóng viên Hãng phim truyền hình TPHCM (TFS) “tặng” ông Nguyễn Văn Hùng (Hai Hùng) - người làm du lịch homestay duy nhất trên đầm Thị Tường.

< Cất vó lúc bình minh trên đầm Thị Tường.

Đầm Thị Tường là hồ nước tự nhiên lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long, còn được mệnh danh “Biển Hồ giữa đồng bằng”, nơi rộng nhất 3km, dài 10km, diện tích mặt nước khoảng 700ha. Đầm được bồi lắng bởi phù sa sông Mỹ Bình, sông Ông Đốc cùng nhiều kinh rạch của ba huyện Phú Tân, Trần Văn Thời và Cái Nước (Cà Mau).

Tọa lạc giữa hai huyện Phú Tân và Trần Văn Thời, đầm có ba đầm chính: đầm Trong, đầm Giữa và đầm Ngoài, nối với con sông tiếp quốc lộ 1A, sông còn lại chảy ra vịnh Thái Lan. Trong ba đầm, đầm Giữa lớn nhất, như trái bóng phình hết cỡ. Trên đầm có khoảng 20 chòi lớn nhỏ - nơi ngư dân canh thu hoạch cá tôm mà họ đặt chà, đáy nhỏ, nò, đó…, nằm giữa mênh mông trời nước...

Ông Hai Hùng, người có nhiều chòi nhất trên đầm Giữa, trong đó có một chòi lớn nhất. Vì lớn nhất (10mx20m) nên người ta gọi “nhà nổi trên đầm”, hoặc “thủy biệt thự”. Trong nhà có đủ tiện nghi vật chất, thậm chí còn có chiếc xuồng cũ trồng rau cải, có chuồng heo, gà, vịt. Chúng tôi đến “thủy biệt thự” bằng mấy chiếc vỏ (vỏ lãi) do các con Hai Hùng vô “bờ” đón, và thích thú hòa mình vào cuộc sống vừa hoang sơ vừa khá hiện đại của ông “Robinson” giữa “hoang đầm” này.

Hai Hùng là một người cao lớn, râu mép hơi rậm, nói cười hệch hạc. 51 tuổi, cách đây khoảng 30 năm, ông đưa vợ ra đây cất chòi “độ nhựt” bằng tôm cá dưới mặt nước đầm. Mùa nào loại nấy, ngác, chẽm, nâu, đối, ghẹ, tôm sú, tôm thẻ, tôm đất, cua, ghẹm..., ê hề. Những sản vật ấy, qua nhiều năm tháng, giúp Hai Hùng cũng như nhiều ngư dân khác trên đầm trở thành người giàu có.

Hai Hùng nói tháng 9 ghẹm nhiều vô kể, chạy máy chém văng xác ghẹm đầy vỏ. Bây giờ, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cho biết: “Ở đầm, vào mỗi con nước rằm hay ba mươi, ghẹm nhiều vô số. Lớp vô lú, lớp bu đầy bập dừa thả lềnh bềnh ngắm trời chơi. Ở đầm người ta cầu kỳ ghê lắm, muối toàn là ghẹm cái, loại nhiều gạch nhất, ăn vừa mặn lưỡi vừa béo ngậy”. Vô mùa ghẹm, dở dở cũng có được năm bảy trăm ký một ngày.

Hai Hùng lái vỏ đưa chúng tôi dạo quanh đầm. Buổi chiều, mặt trời dần xuống thấp phía biển Tây, những tia nắng hấp hối đỏ sẫm lan tỏa những vệt lấp lánh mặt nước gợn sóng không gì đẹp bằng. Mấy ngư dân trầm mình trong làn nước lạnh, nhô đầu lên, thu hoạch thủy sản nhìn Hai Hùng chào nói rổn rảng.

Hai Hùng nói mùa khô nước ngang ngực, mùa mưa, cao nhất trên dưới 1,6m. Hai Hùng cho biết cá ở đây lớn lên ra biển rồi trở về theo quy trình thủy sinh... Né tránh những hàng cọc tre hàng hàng lớp lớp nhô trên mặt nước, Hai Hùng bảo đó là khu nuôi sò của những tỉ phú Kiên Giang đến mướn mặt nước.

Vỏ chạy hết đầm mất hai tiếng đồng hồ, chuyến tham quan lý thú với chúng tôi, khách thành thị. Nhưng khi về nhà Hai Hùng lại là một điều kỳ thú khác với trên sàn ván đước trải tấm nylon lớn rộng ê hề những món ăn chế biến từ thủy sản nước pha chè đầm Thị Tường. Nào canh chua cá ngác. Cá ngác kho. Ghẹm rang me. Bánh tôm tích chiên. Tôm thẻ đầy tú hụ một dĩa lớn. Một dĩa bự đầy nhóc những con cua yếm vuông - đặc sản chỉ có tại đầm. Chính những con cua này đã khiến chúng tôi mê mệt. Thịt chắc, ngọt ngon, không khai, ăn hoài không chán. Rồi tôm thẻ. Con nào con nấy lớn cỡ ngón tay cái.

Trong câu chuyện tâm tình lý thú, Hai Hùng cho biết đầm có tên chính là Bà Tường, theo truyền thuyết bà là người tiên phong khai thác đầm này, nên người ta kính trọng gọi đầm Bà. Về sau, gọi đầm Thị Tường. Nằm giữa đồng bằng nên đầm chiếm vị trí môi trường sinh thái vô cùng độc đáo với vẻ hoang sơ bốn bề là những rặng dừa nước vươn cao ngọn lá lên trời, cho nên người ta còn gọi đầm Dừa Nước.

Hào hứng với câu chuyện, uống rượu đế không đã, Hai Hùng vô buồng ôm hũ rượu pha mật ong rừng ra. Chị Hai Hùng, Dương Thị Lụa, thố lộ mật này do con chị đi “ăn” quanh rừng dừa nước ven bờ. Uống một ly rượu mật ong, thịt cua, thịt tôm... hầu như bay biến, đặc biệt cái lạnh của những ngày cuối năm, của những ngọn gió trời lồng lộng xuyên đầm chẳng hề hấn gì. Vui miệng, Hai Hùng kể, có đoàn khách Hàn Quốc uống rượu này khoái quá, “quá hớp”, bước xuống vỏ, té. Tuy “tắm bùn” dơ hầy nhưng anh ta vẫn cười vui hí hửng.

Đêm dần buông. Nhằm ngày rằm, mặt trăng dần lên, tỏa những tia sáng yếu ớt nhưng kỳ ảo xuống đầm, là một cảnh quan cực kỳ khả tú. Chúng tôi ngắm trăng, uống rượu, thưởng thức mồi bén. Ánh trăng càng lúc càng vằng vặc. Câu chuyện tới khuya rồi cũng tàn. Chúng tôi chìm trong giấc ngủ ngon trong căn “thủy biệt thự” có nhiều cửa nhưng không cửa nào có cánh.
Chưa rạng sáng chị Lụa lo nấu một chảo cháo với tép thẻ phục vụ cái dạ dày của chúng tôi.

Tô cháo ngon, ly trà thơm càng ấm bụng. Chúng tôi bàng hoàng khi thấy những tia nắng ban mai yếu ớt rọi màu đỏ hoang sơ vào nhà. Nhìn ra. Buổi sáng tinh mơ, mặt nước đầm trong vắt như pha lê. Trong chốc lát, những rạng mây ngang đầu ngày nhuộm mặt nước đầm một màu hồng phấn, không họa sĩ tài ba nào có thể phối nổi. Mặt trời ló dạng, sương sớm tan dần, những vệt sáng đỏ ban mai lăn tăn gờn gợn khắp mặt đầm, cảnh quan càng thêm kỳ ảo. Chia tay, vợ chồng Hai Hùng bịn rịn.

Homestay nhà Hai Hùng một chiều, một đêm và rạng sáng, mỗi người chỉ tốn có 200.000 đồng. Nhiều đoàn khách ra đây. Hai Hùng tâm sự người ta ra chơi, về post lên mạng, đồn đãi riết thành điểm du lịch sinh thái thứ thiệt như vầy.

Theo Phù Sa Lộc (The Saigon Times)
Du lịch, GO!

Một đêm với “vua đầm”

“Vua đầm” là tên do phóng viên Hãng phim truyền hình TPHCM (TFS) “tặng” ông Nguyễn Văn Hùng (Hai Hùng) - người làm du lịch homestay duy nhất trên đầm Thị Tường.

< Cất vó lúc bình minh trên đầm Thị Tường.

Đầm Thị Tường là hồ nước tự nhiên lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long, còn được mệnh danh “Biển Hồ giữa đồng bằng”, nơi rộng nhất 3km, dài 10km, diện tích mặt nước khoảng 700ha. Đầm được bồi lắng bởi phù sa sông Mỹ Bình, sông Ông Đốc cùng nhiều kinh rạch của ba huyện Phú Tân, Trần Văn Thời và Cái Nước (Cà Mau).

Tọa lạc giữa hai huyện Phú Tân và Trần Văn Thời, đầm có ba đầm chính: đầm Trong, đầm Giữa và đầm Ngoài, nối với con sông tiếp quốc lộ 1A, sông còn lại chảy ra vịnh Thái Lan. Trong ba đầm, đầm Giữa lớn nhất, như trái bóng phình hết cỡ. Trên đầm có khoảng 20 chòi lớn nhỏ - nơi ngư dân canh thu hoạch cá tôm mà họ đặt chà, đáy nhỏ, nò, đó…, nằm giữa mênh mông trời nước...

Ông Hai Hùng, người có nhiều chòi nhất trên đầm Giữa, trong đó có một chòi lớn nhất. Vì lớn nhất (10mx20m) nên người ta gọi “nhà nổi trên đầm”, hoặc “thủy biệt thự”. Trong nhà có đủ tiện nghi vật chất, thậm chí còn có chiếc xuồng cũ trồng rau cải, có chuồng heo, gà, vịt. Chúng tôi đến “thủy biệt thự” bằng mấy chiếc vỏ (vỏ lãi) do các con Hai Hùng vô “bờ” đón, và thích thú hòa mình vào cuộc sống vừa hoang sơ vừa khá hiện đại của ông “Robinson” giữa “hoang đầm” này.

Hai Hùng là một người cao lớn, râu mép hơi rậm, nói cười hệch hạc. 51 tuổi, cách đây khoảng 30 năm, ông đưa vợ ra đây cất chòi “độ nhựt” bằng tôm cá dưới mặt nước đầm. Mùa nào loại nấy, ngác, chẽm, nâu, đối, ghẹ, tôm sú, tôm thẻ, tôm đất, cua, ghẹm..., ê hề. Những sản vật ấy, qua nhiều năm tháng, giúp Hai Hùng cũng như nhiều ngư dân khác trên đầm trở thành người giàu có.

Hai Hùng nói tháng 9 ghẹm nhiều vô kể, chạy máy chém văng xác ghẹm đầy vỏ. Bây giờ, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cho biết: “Ở đầm, vào mỗi con nước rằm hay ba mươi, ghẹm nhiều vô số. Lớp vô lú, lớp bu đầy bập dừa thả lềnh bềnh ngắm trời chơi. Ở đầm người ta cầu kỳ ghê lắm, muối toàn là ghẹm cái, loại nhiều gạch nhất, ăn vừa mặn lưỡi vừa béo ngậy”. Vô mùa ghẹm, dở dở cũng có được năm bảy trăm ký một ngày.

Hai Hùng lái vỏ đưa chúng tôi dạo quanh đầm. Buổi chiều, mặt trời dần xuống thấp phía biển Tây, những tia nắng hấp hối đỏ sẫm lan tỏa những vệt lấp lánh mặt nước gợn sóng không gì đẹp bằng. Mấy ngư dân trầm mình trong làn nước lạnh, nhô đầu lên, thu hoạch thủy sản nhìn Hai Hùng chào nói rổn rảng.

Hai Hùng nói mùa khô nước ngang ngực, mùa mưa, cao nhất trên dưới 1,6m. Hai Hùng cho biết cá ở đây lớn lên ra biển rồi trở về theo quy trình thủy sinh... Né tránh những hàng cọc tre hàng hàng lớp lớp nhô trên mặt nước, Hai Hùng bảo đó là khu nuôi sò của những tỉ phú Kiên Giang đến mướn mặt nước.

Vỏ chạy hết đầm mất hai tiếng đồng hồ, chuyến tham quan lý thú với chúng tôi, khách thành thị. Nhưng khi về nhà Hai Hùng lại là một điều kỳ thú khác với trên sàn ván đước trải tấm nylon lớn rộng ê hề những món ăn chế biến từ thủy sản nước pha chè đầm Thị Tường. Nào canh chua cá ngác. Cá ngác kho. Ghẹm rang me. Bánh tôm tích chiên. Tôm thẻ đầy tú hụ một dĩa lớn. Một dĩa bự đầy nhóc những con cua yếm vuông - đặc sản chỉ có tại đầm. Chính những con cua này đã khiến chúng tôi mê mệt. Thịt chắc, ngọt ngon, không khai, ăn hoài không chán. Rồi tôm thẻ. Con nào con nấy lớn cỡ ngón tay cái.

Trong câu chuyện tâm tình lý thú, Hai Hùng cho biết đầm có tên chính là Bà Tường, theo truyền thuyết bà là người tiên phong khai thác đầm này, nên người ta kính trọng gọi đầm Bà. Về sau, gọi đầm Thị Tường. Nằm giữa đồng bằng nên đầm chiếm vị trí môi trường sinh thái vô cùng độc đáo với vẻ hoang sơ bốn bề là những rặng dừa nước vươn cao ngọn lá lên trời, cho nên người ta còn gọi đầm Dừa Nước.

Hào hứng với câu chuyện, uống rượu đế không đã, Hai Hùng vô buồng ôm hũ rượu pha mật ong rừng ra. Chị Hai Hùng, Dương Thị Lụa, thố lộ mật này do con chị đi “ăn” quanh rừng dừa nước ven bờ. Uống một ly rượu mật ong, thịt cua, thịt tôm... hầu như bay biến, đặc biệt cái lạnh của những ngày cuối năm, của những ngọn gió trời lồng lộng xuyên đầm chẳng hề hấn gì. Vui miệng, Hai Hùng kể, có đoàn khách Hàn Quốc uống rượu này khoái quá, “quá hớp”, bước xuống vỏ, té. Tuy “tắm bùn” dơ hầy nhưng anh ta vẫn cười vui hí hửng.

Đêm dần buông. Nhằm ngày rằm, mặt trăng dần lên, tỏa những tia sáng yếu ớt nhưng kỳ ảo xuống đầm, là một cảnh quan cực kỳ khả tú. Chúng tôi ngắm trăng, uống rượu, thưởng thức mồi bén. Ánh trăng càng lúc càng vằng vặc. Câu chuyện tới khuya rồi cũng tàn. Chúng tôi chìm trong giấc ngủ ngon trong căn “thủy biệt thự” có nhiều cửa nhưng không cửa nào có cánh.
Chưa rạng sáng chị Lụa lo nấu một chảo cháo với tép thẻ phục vụ cái dạ dày của chúng tôi.

Tô cháo ngon, ly trà thơm càng ấm bụng. Chúng tôi bàng hoàng khi thấy những tia nắng ban mai yếu ớt rọi màu đỏ hoang sơ vào nhà. Nhìn ra. Buổi sáng tinh mơ, mặt nước đầm trong vắt như pha lê. Trong chốc lát, những rạng mây ngang đầu ngày nhuộm mặt nước đầm một màu hồng phấn, không họa sĩ tài ba nào có thể phối nổi. Mặt trời ló dạng, sương sớm tan dần, những vệt sáng đỏ ban mai lăn tăn gờn gợn khắp mặt đầm, cảnh quan càng thêm kỳ ảo. Chia tay, vợ chồng Hai Hùng bịn rịn.

Homestay nhà Hai Hùng một chiều, một đêm và rạng sáng, mỗi người chỉ tốn có 200.000 đồng. Nhiều đoàn khách ra đây. Hai Hùng tâm sự người ta ra chơi, về post lên mạng, đồn đãi riết thành điểm du lịch sinh thái thứ thiệt như vầy.

Theo Phù Sa Lộc (The Saigon Times)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Phú Yên vốn nổi tiếng với danh thắng độc đáo Gành Đá Đĩa. Nhưng ít ai biết rằng, cách đó không xa tồn tại một vẻ đẹp hữu tình của mây trời sông nước – đầm Ô Loan.

Đầm Ô Loan thuộc địa phận huyện Tuy An, có diện tích toàn mặt nước là 1.570ha và độ sâu trung bình 1,2 - 1,4m, mùa mưa có thể sâu tới 3m. Đầm cách thành phố Tuy Hoà về phía Bắc 20km, được bao bọc chung quanh bởi 5 xã và 10 thôn làng. Nước trong đầm thuộc loại nước lợ do đầm ăn thông ra biển bằng cửa Lễ Thịnh, đưa nước mặn vào đầm mỗi khi thuỷ triều lên, đầm cũng nhận nước ngọt từ sông Cái và các con suối nhỏ chung quanh đổ vào.

Trên đỉnh đèo Quán Cau, phóng tầm nhìn bao quát khắp cả vùng, đầm Ô Loan như một mặt hồ rộng yên ả được bao bọc bởi những dãy đồi thấp thoai thoải với những ruộng mía xanh ngắt. Nhìn từ phía Nam, đầm Ô Loan giống như chim phượng hoàng đang xoải cánh, còn trên bản đồ Ô Loan giống con thiên nga đang thong thả bay trên bầu trời cao xanh thăm thẳm.

Phía Tây đầm Ô Loan là những quả đồi nhỏ nằm san sát nhau, phía Đông là mả Cao Biền, dân gian cho rằng trên đường đi ếm hại nhân tài nước Nam, Cao Biền đã bị trời chôn tại đây. Nhưng thật ra, đây không phải là mả mà là một cồn cát, tuy nằm sát biển, sóng gió vô chừng nhưng nhờ có một luồng gió xoáy mang cát bồi đắp, nên không khi nào mả bị sụp xuống thấp.

Nhìn về hướng núi Từ Bi sẽ thấy một doi đất chảy ra đầm Ô Loan như một con chim hạc vừa giang đôi cánh rộng vừa cúi đầu xuống mặt hồ uống nước. Núi Từ Bi chính là nhánh nhỏ của đèo Quán Cau, phía dưới có con suối cùng tên chảy ngoằn ngoèo qua các khe núi rồi chảy ra đầm trông rất lạ mắt. Còn trên bản đồ, đầm Ô Loan lại giống như con thiên nga đang thong thả bay.

Trong bất kỳ thời điểm nào của một ngày, bạn cũng có dịp tận hưởng những khoảnh khắc đẹp nhất: khi bình minh lên, các dãy đồi phía Đông – Nam có dáng như một con chim khổng lồ đang chuẩn bị cất đôi cánh bay lên trời cao lộng gió, khi hoàng hôn buông xuống các dãy đồi phía Đông như con chim đang xoải rộng cánh trên mặt hồ.

Quan sát cảnh tượng quanh bờ, bạn không khỏi ngỡ ngàng bởi quanh bờ có những ghềnh đá nhô ra với nhiều hình dạng khác nhau, có nhiều cách so sánh ví von như cánh chim vươn cao, như tà áo lụa bay mềm mại. Có rất nhiều thi sĩ đã nảy sinh cảm hứng viết lên những vần thơ tuyệt bút từ cảnh tượng thiên nhiên tươi đẹp nơi đây.

Ô Loan là một đầm nước lợ, gần như nằm trọn trong đất liền. Nhờ điều kiện thuận lợi, con nước liên tục lưu thông, cả nước mặn và nước ngọt nên sản vật ở đầm Ô Loan vô cùng phong phú.

Đầm có món đặc sản là sò huyết cơm dày thịt, ngọt và thơm. Dưới thời phong kiến, các quan lại khi về Phú Yên thường ra đầm Ô Loan thưởng ngoạn phong cảnh và thưởng thức món sò huyết. Ngoài ra, còn nhiều đặc sản ngon khác như hàu và cua huỳnh đế cùng nhiều món khác như tôm rắn, tôm bạc, mực, sứa, rau câu, điệp, cá mú… đủ sức làm thỏa mãn khách sành ăn.

Đặc biệt, du khách đến đây còn được tận hưởng cái thú thả bè ra giữa đầm trong đêm khuya tĩnh mịch chỉ có tiếng sóng nước, ếch kêu mà thưởng thức những món ngon của đầm Ô Loan.

Hàng năm đến ngày mùng 7 tháng giêng âm lịch, lễ hội cầu ngư của ngư dân vùng đầm Ô Loan được tổ chức, hàng vạn người từ khắp nơi về tham dự.

Tham quan đầm Ô Loan mỗi khi bình minh lên hay hoàng hôn xuống, du khách có thể cảm nhận được vẻ đẹp kỳ vĩ của đầm trong sắc màu kỳ diệu của mặt trời, rồi ví von như những cánh chim đang vươn cao hay tà áo lụa khổng lồ mềm mại cứ từ từ bay lên cùng trời đất. Và đó cũng là thi hứng để biết bao vần thơ tuyệt bút của nhiều thi sĩ tài hoa được chắp cánh khi đến với danh thắng độc đáo này của vùng đất Phú Yên. Đầm Ô Loan được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích danh thắng quốc gia.

Du lịch, GO!

Đầm Ô Loan ở Phú Yên

Phú Yên vốn nổi tiếng với danh thắng độc đáo Gành Đá Đĩa. Nhưng ít ai biết rằng, cách đó không xa tồn tại một vẻ đẹp hữu tình của mây trời sông nước – đầm Ô Loan.

Đầm Ô Loan thuộc địa phận huyện Tuy An, có diện tích toàn mặt nước là 1.570ha và độ sâu trung bình 1,2 - 1,4m, mùa mưa có thể sâu tới 3m. Đầm cách thành phố Tuy Hoà về phía Bắc 20km, được bao bọc chung quanh bởi 5 xã và 10 thôn làng. Nước trong đầm thuộc loại nước lợ do đầm ăn thông ra biển bằng cửa Lễ Thịnh, đưa nước mặn vào đầm mỗi khi thuỷ triều lên, đầm cũng nhận nước ngọt từ sông Cái và các con suối nhỏ chung quanh đổ vào.

Trên đỉnh đèo Quán Cau, phóng tầm nhìn bao quát khắp cả vùng, đầm Ô Loan như một mặt hồ rộng yên ả được bao bọc bởi những dãy đồi thấp thoai thoải với những ruộng mía xanh ngắt. Nhìn từ phía Nam, đầm Ô Loan giống như chim phượng hoàng đang xoải cánh, còn trên bản đồ Ô Loan giống con thiên nga đang thong thả bay trên bầu trời cao xanh thăm thẳm.

Phía Tây đầm Ô Loan là những quả đồi nhỏ nằm san sát nhau, phía Đông là mả Cao Biền, dân gian cho rằng trên đường đi ếm hại nhân tài nước Nam, Cao Biền đã bị trời chôn tại đây. Nhưng thật ra, đây không phải là mả mà là một cồn cát, tuy nằm sát biển, sóng gió vô chừng nhưng nhờ có một luồng gió xoáy mang cát bồi đắp, nên không khi nào mả bị sụp xuống thấp.

Nhìn về hướng núi Từ Bi sẽ thấy một doi đất chảy ra đầm Ô Loan như một con chim hạc vừa giang đôi cánh rộng vừa cúi đầu xuống mặt hồ uống nước. Núi Từ Bi chính là nhánh nhỏ của đèo Quán Cau, phía dưới có con suối cùng tên chảy ngoằn ngoèo qua các khe núi rồi chảy ra đầm trông rất lạ mắt. Còn trên bản đồ, đầm Ô Loan lại giống như con thiên nga đang thong thả bay.

Trong bất kỳ thời điểm nào của một ngày, bạn cũng có dịp tận hưởng những khoảnh khắc đẹp nhất: khi bình minh lên, các dãy đồi phía Đông – Nam có dáng như một con chim khổng lồ đang chuẩn bị cất đôi cánh bay lên trời cao lộng gió, khi hoàng hôn buông xuống các dãy đồi phía Đông như con chim đang xoải rộng cánh trên mặt hồ.

Quan sát cảnh tượng quanh bờ, bạn không khỏi ngỡ ngàng bởi quanh bờ có những ghềnh đá nhô ra với nhiều hình dạng khác nhau, có nhiều cách so sánh ví von như cánh chim vươn cao, như tà áo lụa bay mềm mại. Có rất nhiều thi sĩ đã nảy sinh cảm hứng viết lên những vần thơ tuyệt bút từ cảnh tượng thiên nhiên tươi đẹp nơi đây.

Ô Loan là một đầm nước lợ, gần như nằm trọn trong đất liền. Nhờ điều kiện thuận lợi, con nước liên tục lưu thông, cả nước mặn và nước ngọt nên sản vật ở đầm Ô Loan vô cùng phong phú.

Đầm có món đặc sản là sò huyết cơm dày thịt, ngọt và thơm. Dưới thời phong kiến, các quan lại khi về Phú Yên thường ra đầm Ô Loan thưởng ngoạn phong cảnh và thưởng thức món sò huyết. Ngoài ra, còn nhiều đặc sản ngon khác như hàu và cua huỳnh đế cùng nhiều món khác như tôm rắn, tôm bạc, mực, sứa, rau câu, điệp, cá mú… đủ sức làm thỏa mãn khách sành ăn.

Đặc biệt, du khách đến đây còn được tận hưởng cái thú thả bè ra giữa đầm trong đêm khuya tĩnh mịch chỉ có tiếng sóng nước, ếch kêu mà thưởng thức những món ngon của đầm Ô Loan.

Hàng năm đến ngày mùng 7 tháng giêng âm lịch, lễ hội cầu ngư của ngư dân vùng đầm Ô Loan được tổ chức, hàng vạn người từ khắp nơi về tham dự.

Tham quan đầm Ô Loan mỗi khi bình minh lên hay hoàng hôn xuống, du khách có thể cảm nhận được vẻ đẹp kỳ vĩ của đầm trong sắc màu kỳ diệu của mặt trời, rồi ví von như những cánh chim đang vươn cao hay tà áo lụa khổng lồ mềm mại cứ từ từ bay lên cùng trời đất. Và đó cũng là thi hứng để biết bao vần thơ tuyệt bút của nhiều thi sĩ tài hoa được chắp cánh khi đến với danh thắng độc đáo này của vùng đất Phú Yên. Đầm Ô Loan được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích danh thắng quốc gia.

Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(TBKTSG) - Chúng tôi từ Hà Nội đi Thung Nai, một xã miền núi thuộc huyện Cao Phong (cách trung tâm thành phố Hòa Bình 25km) bằng xe máy. Đó là một chuyến du ngoạn ngắn nhưng có nhiều kỷ niệm và thật nhiều ấn tượng.

Bắt đầu xuất phát ở Hà Nội vào khoảng 2 giờ chiều, chúng tôi vẫn kịp ghé thăm công trình thủy điện sông Đà ở thành phố Hòa Bình trước khi đặt chân đến Thung Nai lúc xế chiều.
Thung Nai trong hoàng hôn kiều mị hiện lên trước mắt chúng tôi sau một quãng đường núi hoang sơ khoảng hơn chục cây số từ thành phố Hòa Bình. Thung Nai - khi ấy tựa một bức tranh phủ màu đỏ thắm của vầng dương cuối ngày.

Những hòn đảo nhấp nhô xa gần trên hồ nước mênh mông như gối đầu lên nhau tạo thành các lớp phông nền trùng điệp mờ ảo. Đâu đó, những chiếc thuyền rẽ màn nước phẳng lặng dưới ánh hoàng hôn.

Vì tới muộn nên chúng tôi không thể mượn xuồng thúng để đi tắm hồ. Nhiều nhóm du khách tới Thung Nai trước chúng tôi đã kịp đắm mình trong dòng nước mát. Tuy vậy, những giây phút ngồi trên thuyền ra đảo, lặng ngắm khung cảnh Thung Nai trong thời khắc chuyển giao giữa ngày và đêm cũng thật thú vị.

Thung Nai không có điểm vui chơi hay tham quan nào thực sự nổi bật. Thế nhưng, Thung Nai là một trong những địa điểm ở không xa Hà Nội rất thích hợp cho việc dã ngoại, tụ tập vui chơi cùng bạn bè.

Người ta thường nhắc đến Thung Nai như một vịnh Hạ Long trên cạn, hay một vịnh Hạ Long trên núi. Trong cảm nhận của riêng mình, tôi không hề nhớ tới vịnh Hạ Long khi đi thuyền giữa lòng hồ khoáng đạt được bao quanh là vô số những núi, đảo trùng điệp ấy. Với tôi, Thung Nai là nốt nhạc trong trẻo, thanh thoát giữa lòng sông Đà vốn nổi tiếng với hình ảnh kỳ vĩ, hùng tráng.

Chúng tôi tới Thung Nai hôm ấy vào đúng dịp trăng tròn. Khi mặt trời vừa lặn xuống hẳn sau vầng mây phía dãy núi xa xa, ánh trăng cũng tỏa dịu man mác khắp không gian. Tuy vậy, ban đầu, chúng tôi cũng chẳng buồn để ý đến... trăng. Thứ nhất, bởi sau chặng đường chạy xe máy hơn 100km, bụng đứa nào đứa nấy đều đã đói meo. Bàn ăn với những món ăn được coi là đặc sản của vùng này mới là thứ hấp dẫn nhất. Này nhé, cá hồ nướng thơm lừng, măng rừng xào ngọt đắng… Khu nhà sàn trên đảo chật kín bàn ăn. Các nhóm khách ngồi quây quần cùng nhau theo từng dãy bàn. Tiếng ly, cốc chạm tới tấp, tiếng “dzô, dzô” liên tiếp.

Khung cảnh bữa ăn tối trên đảo giữa lòng hồ Thung Nai náo nhiệt và rộn ràng. Cô quản lý đảo đã khá lớn tuổi nhưng tính cách trẻ trung nồng nhiệt tới từng bàn chúc rượu. Tuy nhóm tôi chỉ vỏn vẹn mấy mạng đủ ngồi một bàn nhưng cũng tưng bừng không kém các nhóm khác.

Phong cách cởi mở và hiếu khách của cô chủ nhà đưa đẩy những lần chạm cốc không ngừng. Bàn nhóm tôi ngồi trở nên xôm tụ hơn khi một nhóm ngồi gần đó cũng nhập hội. Họ là nhóm bạn cùng làm việc ở một công ty về thiết bị y tế tới Thung Nai du lịch. Ông sếp người Hàn Quốc của họ cũng có mặt. Rượu vào thì… lời ra. ‘Lời’ ở đây là những bài hát giao lưu vui vẻ.

Cô chủ đảo nhiệt tình hát tặng khách phương xa các giai điệu dân ca Hòa Bình ngọt ngào. Khách phương xa cũng hào hứng ca những khúc hát quê hương mình tặng nhau. Ông khách Hàn Quốc hát cho chúng tôi nghe một bài hát trong bộ phim Hàn đã từng rất nổi tiếng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 20. Chúng tôi từ những người không quen biết đã hòa nhập rất nhanh vào không khí chung nhờ chén rượu nồng say.

Đêm càng về khuya, trăng càng lên cao, ánh sáng vằng vặc tỏa chiếu khắp một vùng không gian hồ trong núi biếc. Những ồn ào náo nhiệt của buổi tiệc rượu cũng như buổi khiêu vũ, nhảy nhót lắng dần. Chúng tôi ngồi lặng lẽ bên nhau trên ban công nho nhỏ của nhà sàn, ngắm mặt hồ lấp lánh như dát bạc. Gió khuya trong lành thổi vào lồng lồng mát rượi.
Những mệt mỏi sau một tuần làm việc của chúng tôi tan như mây khói, nhẹ nhàng…

Theo Gia Nguyên (Thời Báo Kinh Tế Sàigòn)
Du lịch, GO!

Men nồng đêm trăng Thung Nai

(TBKTSG) - Chúng tôi từ Hà Nội đi Thung Nai, một xã miền núi thuộc huyện Cao Phong (cách trung tâm thành phố Hòa Bình 25km) bằng xe máy. Đó là một chuyến du ngoạn ngắn nhưng có nhiều kỷ niệm và thật nhiều ấn tượng.

Bắt đầu xuất phát ở Hà Nội vào khoảng 2 giờ chiều, chúng tôi vẫn kịp ghé thăm công trình thủy điện sông Đà ở thành phố Hòa Bình trước khi đặt chân đến Thung Nai lúc xế chiều.
Thung Nai trong hoàng hôn kiều mị hiện lên trước mắt chúng tôi sau một quãng đường núi hoang sơ khoảng hơn chục cây số từ thành phố Hòa Bình. Thung Nai - khi ấy tựa một bức tranh phủ màu đỏ thắm của vầng dương cuối ngày.

Những hòn đảo nhấp nhô xa gần trên hồ nước mênh mông như gối đầu lên nhau tạo thành các lớp phông nền trùng điệp mờ ảo. Đâu đó, những chiếc thuyền rẽ màn nước phẳng lặng dưới ánh hoàng hôn.

Vì tới muộn nên chúng tôi không thể mượn xuồng thúng để đi tắm hồ. Nhiều nhóm du khách tới Thung Nai trước chúng tôi đã kịp đắm mình trong dòng nước mát. Tuy vậy, những giây phút ngồi trên thuyền ra đảo, lặng ngắm khung cảnh Thung Nai trong thời khắc chuyển giao giữa ngày và đêm cũng thật thú vị.

Thung Nai không có điểm vui chơi hay tham quan nào thực sự nổi bật. Thế nhưng, Thung Nai là một trong những địa điểm ở không xa Hà Nội rất thích hợp cho việc dã ngoại, tụ tập vui chơi cùng bạn bè.

Người ta thường nhắc đến Thung Nai như một vịnh Hạ Long trên cạn, hay một vịnh Hạ Long trên núi. Trong cảm nhận của riêng mình, tôi không hề nhớ tới vịnh Hạ Long khi đi thuyền giữa lòng hồ khoáng đạt được bao quanh là vô số những núi, đảo trùng điệp ấy. Với tôi, Thung Nai là nốt nhạc trong trẻo, thanh thoát giữa lòng sông Đà vốn nổi tiếng với hình ảnh kỳ vĩ, hùng tráng.

Chúng tôi tới Thung Nai hôm ấy vào đúng dịp trăng tròn. Khi mặt trời vừa lặn xuống hẳn sau vầng mây phía dãy núi xa xa, ánh trăng cũng tỏa dịu man mác khắp không gian. Tuy vậy, ban đầu, chúng tôi cũng chẳng buồn để ý đến... trăng. Thứ nhất, bởi sau chặng đường chạy xe máy hơn 100km, bụng đứa nào đứa nấy đều đã đói meo. Bàn ăn với những món ăn được coi là đặc sản của vùng này mới là thứ hấp dẫn nhất. Này nhé, cá hồ nướng thơm lừng, măng rừng xào ngọt đắng… Khu nhà sàn trên đảo chật kín bàn ăn. Các nhóm khách ngồi quây quần cùng nhau theo từng dãy bàn. Tiếng ly, cốc chạm tới tấp, tiếng “dzô, dzô” liên tiếp.

Khung cảnh bữa ăn tối trên đảo giữa lòng hồ Thung Nai náo nhiệt và rộn ràng. Cô quản lý đảo đã khá lớn tuổi nhưng tính cách trẻ trung nồng nhiệt tới từng bàn chúc rượu. Tuy nhóm tôi chỉ vỏn vẹn mấy mạng đủ ngồi một bàn nhưng cũng tưng bừng không kém các nhóm khác.

Phong cách cởi mở và hiếu khách của cô chủ nhà đưa đẩy những lần chạm cốc không ngừng. Bàn nhóm tôi ngồi trở nên xôm tụ hơn khi một nhóm ngồi gần đó cũng nhập hội. Họ là nhóm bạn cùng làm việc ở một công ty về thiết bị y tế tới Thung Nai du lịch. Ông sếp người Hàn Quốc của họ cũng có mặt. Rượu vào thì… lời ra. ‘Lời’ ở đây là những bài hát giao lưu vui vẻ.

Cô chủ đảo nhiệt tình hát tặng khách phương xa các giai điệu dân ca Hòa Bình ngọt ngào. Khách phương xa cũng hào hứng ca những khúc hát quê hương mình tặng nhau. Ông khách Hàn Quốc hát cho chúng tôi nghe một bài hát trong bộ phim Hàn đã từng rất nổi tiếng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 20. Chúng tôi từ những người không quen biết đã hòa nhập rất nhanh vào không khí chung nhờ chén rượu nồng say.

Đêm càng về khuya, trăng càng lên cao, ánh sáng vằng vặc tỏa chiếu khắp một vùng không gian hồ trong núi biếc. Những ồn ào náo nhiệt của buổi tiệc rượu cũng như buổi khiêu vũ, nhảy nhót lắng dần. Chúng tôi ngồi lặng lẽ bên nhau trên ban công nho nhỏ của nhà sàn, ngắm mặt hồ lấp lánh như dát bạc. Gió khuya trong lành thổi vào lồng lồng mát rượi.
Những mệt mỏi sau một tuần làm việc của chúng tôi tan như mây khói, nhẹ nhàng…

Theo Gia Nguyên (Thời Báo Kinh Tế Sàigòn)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(CTO) - Những người mê du lịch khám phá, nhất là rong ruổi bằng xe gắn máy, khi đến An Giang, không thể bỏ qua điểm: hồ trên núi vùng Tri Tôn.

< Trong xanh nước hồ Tạ Pạ đủ làm say lòng bất kỳ du khách nào.

Hồ trên núi là "hậu quả" của việc khai thác đá nhưng vô tình tạo nên điểm đến thú vị, thu hút du khách. Khách dừng chân ở huyện miền núi này, dành thời gian lên đồi Tà Pạ ngắm hồ trên núi và những thửa ruộng từ trên cao - danh thắng độc đáo, hiếm có…

Trước đây, người dân Tri Tôn chỉ lên đồi Tà Pạ vào dịp thanh minh vì đó là một nghĩa địa rộng lớn. Còn người Khmer thường xuyên đến Tà Pạ vì trên đỉnh thấp của ngọn đồi có một ngôi chùa Nam Tông cổ kính. Tuy nhiên, những năm gần đây, Tà Pạ nổi lên như một điểm đến của "tín đồ" du lịch khám phá.

Khi công trường khai thác đá trên núi ngưng hoạt động đã để lại những dấu vết tạo thành hồ nước. Vách núi bị cắt nham nhở tạo thành những dãy núi trông như một bức tranh thủy mặc rộng lớn giữa thiên nhiên mênh mông.

Ban đầu, hồ do học sinh, thanh niên ở địa phương phát hiện và lên tắm. Sau đó, ngày càng nhiều người biết và đi bộ lên đồi tập thể dục. Tiếng lành đồn xa, hồ trên núi ở An Giang thu hút giới nhiếp ảnh, hấp dẫn du khách và trở thành một trong điểm đến của Tri Tôn, bên cạnh những di tích, danh thắng như đồi Tức Dụp, nhà mồ Ba Chúc, núi non…

Ở An Giang, có một số hồ do khai thác đá tạo thành, chủ yếu tập trung ở hai huyện Thoại Sơn và Tri Tôn. Nhưng đặc sắc nhất là hồ Tà Pạ. Công trình khai thác đá hiện đã ngừng hoạt động. Phần sâu nhất của công trình tạo thành một hồ nước rộng với những hốc đá. Hồ được bao bọc bởi các vách đá, nước trong xanh, nhìn tận đáy.

Những nơi quá sâu, nước hồ có màu xanh thẫm. Một điều rất lạ là màu nước hồ thay đổi tùy thời tiết và độ nông sâu. Khi trời trong xanh, nước hồ có màu xanh ngọc bích, phẳng lì như mặt gương.

Những chỗ cạn hơn thì có màu xanh nhạt; lại có chỗ màu kem, màu cam sẫm và màu vàng. Đó là do những mảng đá bên dưới tạo nên. Đá ở đáy màu gì thì nước có màu ấy nên hồ như một bức tranh đầy màu sắc. Đây cũng là nét độc đáo của hồ Tà Pạ.

Không gian xung quanh cũng góp phần tạo nên nét riêng cho hồ. Những vách đá dựng đứng dàn hàng ngang như một dãy tường thành che chắn hồ nước. Gần đó là những bức tường lớn hơn, cao hơn, để lộ ra những mảng màu đa dạng của đá núi vốn còn non. Bên trên là những rặng cây xanh um vững chãi bám vào đá núi. Sắc màu của đá, của cây và của màu trời kết hợp hài hòa, đầy quyến rũ.

Có thể nói, khi khai thác đá, con người đã lấy đi của ngọn đồi này một mảng màu xanh vốn có và để lại những "vết thương". Nhưng chính những "vết thương" ấy đã làm nên một vẻ đẹp khác của ngọn đồi. Nếu trước đây, du khách lên đồi để chụp đồng lúa- được xem là ruộng bậc thang duy nhất của miền Tây, hay vãn cảnh ngôi chùa cổ kính thì bây giờ, du khách dừng lại ngọn đồi lâu hơn chỉ vì mặt hồ quyến rũ. Đứng ở những vị trí khác nhau, khách lại cảm nhận một vẻ đẹp khác của hồ.

Từ trên cao nhìn xuống hay từ bên dưới nhìn lên, hồ Tà Pạ như một bức tranh thủy mặc in bóng núi lung linh. Trời càng xanh trong, mặt hồ càng rõ những bóng núi, rặng cây, nhìn rõ những đàn cá tung tăng trong hồ. Mùa này, hồ trên núi càng thêm quyến rũ bởi đứng bên hồ có thể nhìn thấy những ô ruộng bậc thang xanh rì xen lẫn những mảng vàng của lúa chín sớm.

Những bờ đê chia nhỏ những thửa ruộng trên cánh đồng nằm giữa Tà Pạ và núi Cô Tô lại tiếp tục tạo ra những mảng màu khác đầy thi vị. Có lẽ, chưa có chỗ nào như đồi Tà Pạ. Từ một góc nhìn, có thể khám phá những mảng màu khác nhau. Quay một góc 180 độ từ hồ Tà Pạ sang thung lũng, những mảng màu lại khác, không gian lại khác.
Hồ Tà Pạ càng thêm đặc sắc và mang nét hoang sơ quyến rũ khi chưa được đưa vào khai thác du lịch một cách triệt để như nhiều điểm đến khác.

Theo Đề Quy (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Lên Thất Sơn ngắm Tà Pạ
Ruộng bậc thang ở Tà Pạ

An Giang có hồ trên núi

(CTO) - Những người mê du lịch khám phá, nhất là rong ruổi bằng xe gắn máy, khi đến An Giang, không thể bỏ qua điểm: hồ trên núi vùng Tri Tôn.

< Trong xanh nước hồ Tạ Pạ đủ làm say lòng bất kỳ du khách nào.

Hồ trên núi là "hậu quả" của việc khai thác đá nhưng vô tình tạo nên điểm đến thú vị, thu hút du khách. Khách dừng chân ở huyện miền núi này, dành thời gian lên đồi Tà Pạ ngắm hồ trên núi và những thửa ruộng từ trên cao - danh thắng độc đáo, hiếm có…

Trước đây, người dân Tri Tôn chỉ lên đồi Tà Pạ vào dịp thanh minh vì đó là một nghĩa địa rộng lớn. Còn người Khmer thường xuyên đến Tà Pạ vì trên đỉnh thấp của ngọn đồi có một ngôi chùa Nam Tông cổ kính. Tuy nhiên, những năm gần đây, Tà Pạ nổi lên như một điểm đến của "tín đồ" du lịch khám phá.

Khi công trường khai thác đá trên núi ngưng hoạt động đã để lại những dấu vết tạo thành hồ nước. Vách núi bị cắt nham nhở tạo thành những dãy núi trông như một bức tranh thủy mặc rộng lớn giữa thiên nhiên mênh mông.

Ban đầu, hồ do học sinh, thanh niên ở địa phương phát hiện và lên tắm. Sau đó, ngày càng nhiều người biết và đi bộ lên đồi tập thể dục. Tiếng lành đồn xa, hồ trên núi ở An Giang thu hút giới nhiếp ảnh, hấp dẫn du khách và trở thành một trong điểm đến của Tri Tôn, bên cạnh những di tích, danh thắng như đồi Tức Dụp, nhà mồ Ba Chúc, núi non…

Ở An Giang, có một số hồ do khai thác đá tạo thành, chủ yếu tập trung ở hai huyện Thoại Sơn và Tri Tôn. Nhưng đặc sắc nhất là hồ Tà Pạ. Công trình khai thác đá hiện đã ngừng hoạt động. Phần sâu nhất của công trình tạo thành một hồ nước rộng với những hốc đá. Hồ được bao bọc bởi các vách đá, nước trong xanh, nhìn tận đáy.

Những nơi quá sâu, nước hồ có màu xanh thẫm. Một điều rất lạ là màu nước hồ thay đổi tùy thời tiết và độ nông sâu. Khi trời trong xanh, nước hồ có màu xanh ngọc bích, phẳng lì như mặt gương.

Những chỗ cạn hơn thì có màu xanh nhạt; lại có chỗ màu kem, màu cam sẫm và màu vàng. Đó là do những mảng đá bên dưới tạo nên. Đá ở đáy màu gì thì nước có màu ấy nên hồ như một bức tranh đầy màu sắc. Đây cũng là nét độc đáo của hồ Tà Pạ.

Không gian xung quanh cũng góp phần tạo nên nét riêng cho hồ. Những vách đá dựng đứng dàn hàng ngang như một dãy tường thành che chắn hồ nước. Gần đó là những bức tường lớn hơn, cao hơn, để lộ ra những mảng màu đa dạng của đá núi vốn còn non. Bên trên là những rặng cây xanh um vững chãi bám vào đá núi. Sắc màu của đá, của cây và của màu trời kết hợp hài hòa, đầy quyến rũ.

Có thể nói, khi khai thác đá, con người đã lấy đi của ngọn đồi này một mảng màu xanh vốn có và để lại những "vết thương". Nhưng chính những "vết thương" ấy đã làm nên một vẻ đẹp khác của ngọn đồi. Nếu trước đây, du khách lên đồi để chụp đồng lúa- được xem là ruộng bậc thang duy nhất của miền Tây, hay vãn cảnh ngôi chùa cổ kính thì bây giờ, du khách dừng lại ngọn đồi lâu hơn chỉ vì mặt hồ quyến rũ. Đứng ở những vị trí khác nhau, khách lại cảm nhận một vẻ đẹp khác của hồ.

Từ trên cao nhìn xuống hay từ bên dưới nhìn lên, hồ Tà Pạ như một bức tranh thủy mặc in bóng núi lung linh. Trời càng xanh trong, mặt hồ càng rõ những bóng núi, rặng cây, nhìn rõ những đàn cá tung tăng trong hồ. Mùa này, hồ trên núi càng thêm quyến rũ bởi đứng bên hồ có thể nhìn thấy những ô ruộng bậc thang xanh rì xen lẫn những mảng vàng của lúa chín sớm.

Những bờ đê chia nhỏ những thửa ruộng trên cánh đồng nằm giữa Tà Pạ và núi Cô Tô lại tiếp tục tạo ra những mảng màu khác đầy thi vị. Có lẽ, chưa có chỗ nào như đồi Tà Pạ. Từ một góc nhìn, có thể khám phá những mảng màu khác nhau. Quay một góc 180 độ từ hồ Tà Pạ sang thung lũng, những mảng màu lại khác, không gian lại khác.
Hồ Tà Pạ càng thêm đặc sắc và mang nét hoang sơ quyến rũ khi chưa được đưa vào khai thác du lịch một cách triệt để như nhiều điểm đến khác.

Theo Đề Quy (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Lên Thất Sơn ngắm Tà Pạ
Ruộng bậc thang ở Tà Pạ
Đọc thêm..
(Danviet) - Ngay sát mép nước là những căn nhà gỗ lúc nào cũng soi bóng xuống mặt hồ Hoà Bình, nhón chân một cái là từ thuyền đã đặt chân được lên nhà. Nơi đây đã có những thiếu nữ trong trang phục người Mông đợi sẵn với nụ cươi như mời như gọi...

Sinh ra ở xã Quan Thần Sán, huyện Simacai, tỉnh Lào Cai, chàng trai người Mông Cư Văn Thủy đi khắp trời tây, làm nhiều nghề khác nhau. Ai cũng nghĩ anh sẽ chọn Hà Nội để sống. Nhưng cứ về phố anh lại thấy mình tù túng, cứ phải xa rừng núi là anh lại buồn. Và như một cơ duyên, anh cưới cô gái Nguyễn Thị Kiều Vân người Hòa Bình...

... và chính điều này đã khiến anh chọn hòn đảo giữa lòng sông Đà tại xã Thung Nai, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, để sống và làm du lịch. Anh đã đặt tên nơi đây là đảo Xanh - như một cam kết không hóa chất, không khói thuốc và không túi nilong trên đảo để bảo vệ môi trường.

Người Mông đầu tiên ra đảo sống

Bên bếp lửa bập bùng giữa Đà Giang hùng vĩ, anh Cư Văn Thủy (43 tuổi) mở đầu câu chuyện ra đảo sống bằng câu nói “Có lẽ tôi là người Mông đầu tiên ra đảo sống, vì họ hàng, tổ tiên vẫn ở núi bao đời nay”.

Anh Thủy bắt đầu câu chuyện của mình khiến nhiều người phải ngỡ ngàng:
"Tôi sinh ra ở Quan Thần Sán, huyện Simacai, Lào Cai. Năm 1978, khi cha tôi xuống Hà Nội làm việc, anh em chúng tôi đi theo ông. Học hết phổ thông, tôi sang học tập ở Tiệp Khắc rồi cắm chốt bên trời tây 15 năm. Mùa đông ở tây, lại nhớ mùa rét ở núi rừng quê nhà và rồi tôi đã về nước.

Anh chị em đều muốn tôi ở Hà Nội nhưng miền ký ức về núi rừng đã thôi thúc tôi một mình lên Hà Giang lập nghiệp. Có kinh nghiệm, có được chút vốn, năm 2003, tôi lấy Vân- người thành phố Hòa Bình. Sau đó, hai vợ chồng kéo nhau về Lào Cai sinh sống, mở công ty xây dựng và quay về Simacai mải miết đi đấu thầu, thi công hành chục công trình..., công việc làm ăn cũng lúc lên lúc xuống.

Cách đây 4 năm, vợ chồng tôi tiết kiệm được ít tiền nên đã gửi về Hoà Bình để trồng rừng keo vì gia đình có nhận được 16ha đảo để chăm sóc bảo vệ. Năm 2010, tôi đưa vợ về Hoà Bình ăn tết, lên thăm rừng keo gia đình trồng được 3 năm, thấy cây keo khép tán, đẹp quá. Nhìn hòn đảo xanh ngút ngàn trong cái màu biêng biếc của sông Đà, thú thực tôi đi cũng nhiều nhưng chưa bao giờ thấy cảnh nước non lại đẹp như vậy... Tôi bàn với gia đình, quyết định dốc toàn bộ vốn liếng để xây dựng đảo thành một địa điểm du lịch, kết hợp với chăm sóc bảo vệ rừng.

Với suy nghĩ mình làm du lịch ở đây không thể phá vỡ cảnh quan, cũng như phải bảo vệ môi trường nên tôi quyết định làm du lịch xanh đúng nghĩa. Nghĩ là làm ngay, nhưng khi bắt tay vào rồi, thì 2 vợ chồng mới giật mình, chẳng có ai đi trước để học hỏi, hay tư vấn gì cả, mà chỉ nghĩ gì làm đó. Vợ tôi thì nói đùa: chắc anh là người Mông đầu tiên xây đảo. Đôi lúc công việc cũng rối tinh rối mù lên, nhưng cứ quyết là làm thôi, người Mông mà".

Thiên đường giữa Đà Giang

Từ Hà Nội, ngược quốc lộ 6 qua thành phố Hoà Bình 20km, tới cảng Thung Nai, đã có đò của đảo Xanh đợi sẵn. 20 phút bồng bềnh rẽ sóng Đà Giang là ta đã đặt chân được lên đảo Xanh. Ngay sát mép nước là những căn nhà gỗ lúc nào cũng soi bóng xuống mặt hồ Hoà Bình, nhón chân một cái là từ thuyền đã đặt chân được lên nhà. Nơi đây đã có những thiếu nữ trong trang phục người Mông đợi sẵn với nụ cươi như mời như gọi.

Và chỉ khi đặt chân lên đảo mới thấy hết được cái hài hoà giữa con người và cảnh sắc thiên nhiên nơi đây. Những bậc thang lên đảo cũng được chủ nhà kỳ công xây đắp với cọc tre đóng bao quanh, rồi lại trải lớp đá cuội lên..., tạo thành những bậc thang vàng óng ánh mà cứ mỗi bước đi lại nghe tiếng lách cách nhẹ nhẹ như những bản nhạc của núi rừng.

Trung tâm của đảo là ngôi nhà sàn lớn, bên dưới làm chỗ ăn uống, quầy bar, phía trên dành cho khách sinh hoạt, vui chơi tập thể. Còn những ai cần sự riêng tư thì đã có sẵn các căn nhà lá xinh xắn ẩn hiện trong rừng keo, nhìn ra mặt hồ nơi buổi sáng có thể ngắm mặt nước bảng lảng sương khói, còn buổi chiều mê đắm trong ánh hoàng hôn bên hồ...

Lên đảo, khách được tự do khám phá và hòa cùng thiên nhiên, thử sức cùng các trò chơi dân gian như bắn nỏ, tung còn, đập bóng, kéo co hay đốt lửa trại, bơi thuyền, tắm sông. Và sẽ thật thiếu sót nếu như không kể tới các món ăn quyến rũ của nơi đây. Tuy chỉ có 3 món chủ đạo là gà, cá và lợn, và nếu khách yêu cầu thì có thêm món tôm sông nướng là chanh, nhưng không một thực khách nào có thể thờ ơ chỉ sau một lần nếm thử.

Chủ nhân của đảo chia sẻ:
"Gà và lợn thì chúng tôi nuôi ngay trên đảo. Chúng được tự do đi kiếm ăn trên khu chăn nuôi của đảo và chính vì điều này nên nhiều khi cả chủ nhà và khách "dở khóc dở cười" khi phải đi bắt... đồ ăn.

Do lợn gà được nuôi thả hoang dã nên khi khách muốn thưởng thức đôi lúc phải huy động toàn bộ người của đảo đi tìm bắt... gà, lợn. Đôi khi cũng không túm được con nào vì đảo rộng mà gà, lợn chạy như... vận động viên.

Riêng món cá thì đảm bảo 100% là toàn cá sông Đà, nhưng khách ăn phải đặt trước thì mới có được cá từ những người câu chuyên nghiệp".

"Các món ăn nếu chỉ ngon thì chưa chắc đã làm khách hài lòng, mà còn phải sạch và bắt mắt nữa. Riêng khâu chế biến thì phải sạch. Trên đảo Xanh, khách lúc nào xuống bếp kiểm tra cũng được. Ngay cả khâu bưng bê cũng rất được chú ý, món ăn phải đặt ra khay, lúc để lên bàn ăn, nhân viên phải dùng 2 tay để đặt.

Còn tại khu vực ăn uống, khi khách đứng dậy là chúng tôi thu dọn ngay mọi thứ, kể cả mẩu thuốc lá cũng được nhân viên nhặt cho vào thùng rác cẩn thận. Tôi đã nói với nhân viên, mọi thứ mình có không phải do mình tạo ra, mà do khách hàng đem lại", anh Thủy tâm sự rất thật lòng.

Cứ đến cuối tuần, chị Vân lại tất bật cùng chồng chuẩn bị đón khách. Chị cho biết: "Vợ chồng tôi luôn chuẩn bị tỉ mỉ từ mớ rau, con cá, đàn gà, bầy lợn sao cho ngon và sạch. Với những sản phẩm sạch như trên đảo, chỉ thấy khách khen thức ăn ngon chứ chưa thấy ai chê bao giờ. Nhiều người còn mua gà, lợn để mang về nhà nữa.

Lượng khách đông dần, mình sẽ mở rộng trang trại chăn nuôi hơn nữa để làm du lịch khép kín, biến đảo Xanh thành một khu du lịch thân thiện với môi trường để khách đến với Đà Giang luôn được thưởng thức vẻ đẹp hùng vĩ của sông núi và không bao giờ phải bận lòng với hai từ chặt chém...".

Sau một bữa ăn ngon và ấm lòng với những bát rượu ngô sóng sánh, đặt lưng xuống sàn nhà gỗ ngay sát mép nước sông Đà, đánh một giấc ngủ ngon lành và sáng ra tỉnh dậy bởi tiếng sáo trên sông của vợ chồng anh đi đặt đó tôm... Một cảm giác nhẹ nhàng, hư ảo, sảng khoải đến lạ thường, điều mà có lẽ chỉ trên đảo Xanh giữa Đà Giang mới thấy.

Theo Nguyễn Gia Tưởng (Báo Dân Việt)
Du lịch, GO!

Đảo Xanh giữa Đà Giang

(Danviet) - Ngay sát mép nước là những căn nhà gỗ lúc nào cũng soi bóng xuống mặt hồ Hoà Bình, nhón chân một cái là từ thuyền đã đặt chân được lên nhà. Nơi đây đã có những thiếu nữ trong trang phục người Mông đợi sẵn với nụ cươi như mời như gọi...

Sinh ra ở xã Quan Thần Sán, huyện Simacai, tỉnh Lào Cai, chàng trai người Mông Cư Văn Thủy đi khắp trời tây, làm nhiều nghề khác nhau. Ai cũng nghĩ anh sẽ chọn Hà Nội để sống. Nhưng cứ về phố anh lại thấy mình tù túng, cứ phải xa rừng núi là anh lại buồn. Và như một cơ duyên, anh cưới cô gái Nguyễn Thị Kiều Vân người Hòa Bình...

... và chính điều này đã khiến anh chọn hòn đảo giữa lòng sông Đà tại xã Thung Nai, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, để sống và làm du lịch. Anh đã đặt tên nơi đây là đảo Xanh - như một cam kết không hóa chất, không khói thuốc và không túi nilong trên đảo để bảo vệ môi trường.

Người Mông đầu tiên ra đảo sống

Bên bếp lửa bập bùng giữa Đà Giang hùng vĩ, anh Cư Văn Thủy (43 tuổi) mở đầu câu chuyện ra đảo sống bằng câu nói “Có lẽ tôi là người Mông đầu tiên ra đảo sống, vì họ hàng, tổ tiên vẫn ở núi bao đời nay”.

Anh Thủy bắt đầu câu chuyện của mình khiến nhiều người phải ngỡ ngàng:
"Tôi sinh ra ở Quan Thần Sán, huyện Simacai, Lào Cai. Năm 1978, khi cha tôi xuống Hà Nội làm việc, anh em chúng tôi đi theo ông. Học hết phổ thông, tôi sang học tập ở Tiệp Khắc rồi cắm chốt bên trời tây 15 năm. Mùa đông ở tây, lại nhớ mùa rét ở núi rừng quê nhà và rồi tôi đã về nước.

Anh chị em đều muốn tôi ở Hà Nội nhưng miền ký ức về núi rừng đã thôi thúc tôi một mình lên Hà Giang lập nghiệp. Có kinh nghiệm, có được chút vốn, năm 2003, tôi lấy Vân- người thành phố Hòa Bình. Sau đó, hai vợ chồng kéo nhau về Lào Cai sinh sống, mở công ty xây dựng và quay về Simacai mải miết đi đấu thầu, thi công hành chục công trình..., công việc làm ăn cũng lúc lên lúc xuống.

Cách đây 4 năm, vợ chồng tôi tiết kiệm được ít tiền nên đã gửi về Hoà Bình để trồng rừng keo vì gia đình có nhận được 16ha đảo để chăm sóc bảo vệ. Năm 2010, tôi đưa vợ về Hoà Bình ăn tết, lên thăm rừng keo gia đình trồng được 3 năm, thấy cây keo khép tán, đẹp quá. Nhìn hòn đảo xanh ngút ngàn trong cái màu biêng biếc của sông Đà, thú thực tôi đi cũng nhiều nhưng chưa bao giờ thấy cảnh nước non lại đẹp như vậy... Tôi bàn với gia đình, quyết định dốc toàn bộ vốn liếng để xây dựng đảo thành một địa điểm du lịch, kết hợp với chăm sóc bảo vệ rừng.

Với suy nghĩ mình làm du lịch ở đây không thể phá vỡ cảnh quan, cũng như phải bảo vệ môi trường nên tôi quyết định làm du lịch xanh đúng nghĩa. Nghĩ là làm ngay, nhưng khi bắt tay vào rồi, thì 2 vợ chồng mới giật mình, chẳng có ai đi trước để học hỏi, hay tư vấn gì cả, mà chỉ nghĩ gì làm đó. Vợ tôi thì nói đùa: chắc anh là người Mông đầu tiên xây đảo. Đôi lúc công việc cũng rối tinh rối mù lên, nhưng cứ quyết là làm thôi, người Mông mà".

Thiên đường giữa Đà Giang

Từ Hà Nội, ngược quốc lộ 6 qua thành phố Hoà Bình 20km, tới cảng Thung Nai, đã có đò của đảo Xanh đợi sẵn. 20 phút bồng bềnh rẽ sóng Đà Giang là ta đã đặt chân được lên đảo Xanh. Ngay sát mép nước là những căn nhà gỗ lúc nào cũng soi bóng xuống mặt hồ Hoà Bình, nhón chân một cái là từ thuyền đã đặt chân được lên nhà. Nơi đây đã có những thiếu nữ trong trang phục người Mông đợi sẵn với nụ cươi như mời như gọi.

Và chỉ khi đặt chân lên đảo mới thấy hết được cái hài hoà giữa con người và cảnh sắc thiên nhiên nơi đây. Những bậc thang lên đảo cũng được chủ nhà kỳ công xây đắp với cọc tre đóng bao quanh, rồi lại trải lớp đá cuội lên..., tạo thành những bậc thang vàng óng ánh mà cứ mỗi bước đi lại nghe tiếng lách cách nhẹ nhẹ như những bản nhạc của núi rừng.

Trung tâm của đảo là ngôi nhà sàn lớn, bên dưới làm chỗ ăn uống, quầy bar, phía trên dành cho khách sinh hoạt, vui chơi tập thể. Còn những ai cần sự riêng tư thì đã có sẵn các căn nhà lá xinh xắn ẩn hiện trong rừng keo, nhìn ra mặt hồ nơi buổi sáng có thể ngắm mặt nước bảng lảng sương khói, còn buổi chiều mê đắm trong ánh hoàng hôn bên hồ...

Lên đảo, khách được tự do khám phá và hòa cùng thiên nhiên, thử sức cùng các trò chơi dân gian như bắn nỏ, tung còn, đập bóng, kéo co hay đốt lửa trại, bơi thuyền, tắm sông. Và sẽ thật thiếu sót nếu như không kể tới các món ăn quyến rũ của nơi đây. Tuy chỉ có 3 món chủ đạo là gà, cá và lợn, và nếu khách yêu cầu thì có thêm món tôm sông nướng là chanh, nhưng không một thực khách nào có thể thờ ơ chỉ sau một lần nếm thử.

Chủ nhân của đảo chia sẻ:
"Gà và lợn thì chúng tôi nuôi ngay trên đảo. Chúng được tự do đi kiếm ăn trên khu chăn nuôi của đảo và chính vì điều này nên nhiều khi cả chủ nhà và khách "dở khóc dở cười" khi phải đi bắt... đồ ăn.

Do lợn gà được nuôi thả hoang dã nên khi khách muốn thưởng thức đôi lúc phải huy động toàn bộ người của đảo đi tìm bắt... gà, lợn. Đôi khi cũng không túm được con nào vì đảo rộng mà gà, lợn chạy như... vận động viên.

Riêng món cá thì đảm bảo 100% là toàn cá sông Đà, nhưng khách ăn phải đặt trước thì mới có được cá từ những người câu chuyên nghiệp".

"Các món ăn nếu chỉ ngon thì chưa chắc đã làm khách hài lòng, mà còn phải sạch và bắt mắt nữa. Riêng khâu chế biến thì phải sạch. Trên đảo Xanh, khách lúc nào xuống bếp kiểm tra cũng được. Ngay cả khâu bưng bê cũng rất được chú ý, món ăn phải đặt ra khay, lúc để lên bàn ăn, nhân viên phải dùng 2 tay để đặt.

Còn tại khu vực ăn uống, khi khách đứng dậy là chúng tôi thu dọn ngay mọi thứ, kể cả mẩu thuốc lá cũng được nhân viên nhặt cho vào thùng rác cẩn thận. Tôi đã nói với nhân viên, mọi thứ mình có không phải do mình tạo ra, mà do khách hàng đem lại", anh Thủy tâm sự rất thật lòng.

Cứ đến cuối tuần, chị Vân lại tất bật cùng chồng chuẩn bị đón khách. Chị cho biết: "Vợ chồng tôi luôn chuẩn bị tỉ mỉ từ mớ rau, con cá, đàn gà, bầy lợn sao cho ngon và sạch. Với những sản phẩm sạch như trên đảo, chỉ thấy khách khen thức ăn ngon chứ chưa thấy ai chê bao giờ. Nhiều người còn mua gà, lợn để mang về nhà nữa.

Lượng khách đông dần, mình sẽ mở rộng trang trại chăn nuôi hơn nữa để làm du lịch khép kín, biến đảo Xanh thành một khu du lịch thân thiện với môi trường để khách đến với Đà Giang luôn được thưởng thức vẻ đẹp hùng vĩ của sông núi và không bao giờ phải bận lòng với hai từ chặt chém...".

Sau một bữa ăn ngon và ấm lòng với những bát rượu ngô sóng sánh, đặt lưng xuống sàn nhà gỗ ngay sát mép nước sông Đà, đánh một giấc ngủ ngon lành và sáng ra tỉnh dậy bởi tiếng sáo trên sông của vợ chồng anh đi đặt đó tôm... Một cảm giác nhẹ nhàng, hư ảo, sảng khoải đến lạ thường, điều mà có lẽ chỉ trên đảo Xanh giữa Đà Giang mới thấy.

Theo Nguyễn Gia Tưởng (Báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(Kienthuc) - Người dân Hồ Thang Hen (xã Quốc Toản, huyện Trà lĩnh, Cao Bằng) từ bao đời truyền miện những câu chuyện đầy kỳ bí về nhiều nghìn khối nước trơ cạn trong một đêm.

Ly kỳ chuyện thủy quái hại dân

Theo các cụ già dân tộc Tày tại đây, từ bao đời nay bản Lũng Táo vốn nằm dưới chân hồ Thang Hen là vùng đất có địa thế đẹp, nơi định cư của đa phần dân tộc tày cuộc sống vốn yên bình. Những, cuộc sống của họ bỗng chốc bị đảo lộn hoàn toàn, không biết dân làng ai đã đắc tội hay làm sai điều gì với thần linh mà một ngày nọ bỗng từ đâu xuất hiện một con quái thú.

Vào một ngày khi mặt trời còn nằm trên ngọn núi, khi mọi người đang hoạt động sản xuất thì đất, trời bỗng mây đen lũ lượt kéo về, sặc mùi ám khí, đêm về buông xuống tiếng gầm rú của con quái thú làm rung chuyển núi, rừng ai cũng khiếp sợ hoảng loạn không dám bước ra khỏi cửa.

Gia súc trong làng thả ra là bị móng vuốt sắc nhọn của con quái thú “vồ” thịt, hoang mang, sợ hãi nhiều người dân cũng dần nản trí trong họ bắt đầu có ý định dời đến vùng đất khác, vì không còn ai chịu nổi được sự hoành hành của con quái thú.

Trước sự lộng hành của con quái thú, trưởng bản tụ tập tất cả mọi người lại họp, bàn diệt trừ con quái thú gian ác. Sau nhiều ý kiến nhiệm vụ diệt quái thú được dao các thanh niên, trai tráng khỏe mạnh nhất trong làng và vùng lân cận.

Ngay lập tức công việc chuẩn bị cho việc diệt quái thú được đưa ra là lập một hàng rào đầy rẫy trong gai sắt nhọn ngay trước của miệng hang nơi con quái thú đang đang ẩn náu. Khi giăng bẫy đã xong mọi người bắt đầu dụ con quái thú ra ngoài hang.
Các loại vũ khí dáo, mác, cung tên… được tất cả mọi người chuẩn bị sẵn sàng tiêu diệt con quái thú, vì gia súc trong làng bị quái thú ăn thịt hết nên khi đánh hơi thấy mồi nhử con quái thú liền lao ra khỏi hang xẻ thịt con mồi cho cơn đói.


< Bản Lũng Táo yên bình dưới chân hồ Thang Hen.

Nhưng con quái thú không thể ngờ đó là cái bẫy đã được giăng sẵn chờ đón con ác thú, khi chưa kịp chạm tới mồi nhử con quái thú bị dính bẫy ngàn mũi chông nhọn hoắt, quá đau đớn con quái thú vùng vẫy loạn xạ, nhưng càng vùng vẫy thì con quái thú càng dính nhiều bẫy chông không thể thoát ra được.
Nắm được thời cơ tiêu diệt con quái thú đã tới, thanh niên, trai tráng cùng mọi người dùng tất cả các loại vũ khí mình có trong tay phóng thẳng vào mắt con quái thú, bị mù hai mắt con quái thú thét gào trong vô vọng hoang mang. Dù vậy, vẫn chưa đẩy lùi được con quái thú xuống dưới miệng hang. Bởi, vũ khí thô sơ và có hạn nên con quái thú dần dần thoát được bẫy giăng.

Ngay lập tức mọi người dùng mõ, trống… gõ liên hồi trên miệng hang làm cho con quái thú càng trở nên hoảng loạn và bị đẩy xuống vực sâu, khi bị đẩy xuống vực sâu mọi người đã lập nhiều hàng rào chông trước miệng hang động để con quái thú không lên được nữa.

Khi con quái thú bị giam cầm trong hang động sâu thẳm thẳm, khi tiêu diệt được con quái thú, bà con trong bản reo hò, mở hội ăn mừng chiến thắng. Từ đó đến nay bản Lũng Táo luôn sống trong yên bình. Còn con quái thú khi bị giam giữ trong trong cơn cuồng loạn đã dùng chút sức lực cuối cùng của mình tìm lối thoát và đã gây ra những hang động dọc ngang dưới lòng đất cho đến tận ngày nay…

Đứng trước miệng hang, nơi được cho là truyền thuyết quái thú hại dân đứng trên đỉnh núi nhìn xuống miệng hang sâu hơn 20 mét thông thẳng lên đỉnh núi, bốn mùa nước trong hang chỉ lên xuống chênh lệch đôi chút nên lúc nào khi ai lên đây đều có thể nhìn thấy nước trong hang luôn trong xanh những cũng ẩn chứa đầy bí ẩn.

Hồ Thang Hen là một hồ nước đẹp, nằm cách con đường tỉnh lộ 205 đi vào huyện Trà Lĩnh, nơi có những rừng xanh bạt ngàn như một bức tranh nhuốm màu xanh đặc trưng của miền núi. Con đường nhỏ và duy nhất dẫn lối vào “hồ nước thủng” với những cung đường quanh co, rồi bất ngờ đổ xuống dốc gấp khúc như một thách thức của thiên nhiên đối với con người khi đến với nơi vùng đất này.

Cách “hồ nước thủng’ không xa là bản Lũng Táo nơi sinh sống của đồng bào tày hiền hòa nằm dưới chân “hồ nước thủng” nằm uốn lượn quanh co qua các dãy núi đá thoặt nhìn thoáng qua ai cũng rất dễ dàng hình dung ra được “hồ nước thủng” giống y như đuôi của một con ong nằm vắt vẻ ngang lưng trời…những cụ già người dân tộc tày của bản Lũng Táo nơi đây vẫn kể cho con cháu hay các khách du lịch mỗi khi đến hồ Thang Hen, nó như một truyền thuyết của người đồng bào tày nơi đây nhắc lại để răn dạy con cháu mình.

Hồ nước nghìn khối trơ cạn trong một đêm


< Hồ cạn nước khiến những chiếc thuyền, cano bị mắc kẹt ở bãi đá ven hồ.

Xung quanh câu chuyện về hồ nước nghìn khối này trơ cạn trong một đêm người dân tại đây cho biết, hiện tượng hàng nghìn khối nước trong hồ trơ cạn trong một đêm dường như đây như một quy luật tự nhiên. Nhưng hồ chỉ trơ cạn vào buổi đêm khi đó người dân tại bản Lũng Táo và những người dân khu vực xung quanh lại đổ xô đi bắt cá thỏa thuê. Khi ấy những thanh niên trai tráng là những người bắt được nhiều hơn cả, cả năm cá trong hồ được bắt một lần nên cá rất to ngoài việc dành để ăn, gia đình nào được nhiều ca lại đem ra chợ huyện bán lấy tiền.

Thời điểm hồ nước cạn là vào khoảng tháng 9 và tháng 10 lập thu hàng năm, nước trong hồ trơ cạn chỉ trong vòng 2 đến 3 tiếng đồng hồ. những người dân tại đây và cả các nhân viên ban quản lý hồ lâu năm tại đây cũng không thể lý giải được tại sao lại xảy ra hiện tượng như vậy nó không chỉ diễn ra một lần mà lặp đi, lặp lại theo chu kỳ nhưng câu hỏi lớn nhất đặt ra với họ là hàng nghìn mét khối nước trong hồ trơ cạn như vậy sẽ chảy về đâu?.

Cụ Nông Văn Bằng (78 tuổi) người dân tộc Tày cho biết: “Cả cái hồ rộng lớn bao la như vậy mà, nước cạn rút đi không biết chảy về đây chúng tôi đã dùng nhiều cách như tính được chu kỳ nước rút cả bản họp lại dùng trấu thóc đổ xuống hồ để xem nước hồ chảy qua khe núi hay đổ ra đâu nhưng tất cả đều không dấu vết nên từ đó đến nay mọi người ai cũng không còn để ý nhiều đến chuyện này nữa. Mọi người chỉ biết hồ nước cạn là dùng các dụng cụ có sẵn trong gia đình đi bắt cá.

Nhưng cũng theo người dân tại đây thì nước hồ rút cạn trong thời gian ngắn thì cũng tự khắc chảy trở lại hồ y như ban đầu đây là một trong những điều bí ẩn mà đến hàng trăm năm qua không ai giải thích được.
Nước trong hồ rút dần, rút dần xuống mà mắt thường cũng có thể nhìn thấy nước bị rút dần xuống lòng đất. trong khi đó mọi thứ xung quanh đều không có gì thay đổi y như một chiếc chậu nước bị thủng đang chảy nước ra ngoài cụ Bằng cho biết.

Trong 36 hồ được nối liền và thông nhau thì hồ Thang Moỏng nằm gần kề với hồ Thang Hen, hồ Thang Moỏng có diện tích hơn 10ha và sâu hơn 30 mét với trự lượng hàng ngàn mét khối nước và là hồ duy nhất bị trơ cạn. Quần thể 36 hồ tại đây, thì hồ Thang Hen là có thể chứa được lượng nước lơn nhất, khi mùa khô đến tất cả các hồ khác nước đều rút dần xuống rất nhanh và chỉ còn lại hồ Thang hen.

Theo ban quản lý khu du lịch hồ Thang Hen cho biết tổng cộng có 36 hồ nước tự nhiên lớn nhỏ, có nhưng hồ sâu tới 40 – 50 mét và mỗi hồ đều được ngăn cách nhau nhưng được nối liền thông nhau bởi các mạch hang động ngầm trong lòng đất nên mỗi khi nước cạn để lộ ra những hang động rất đẹp tạo nên những khung cảnh huyền ảo rất đẹp.

Tất cả các hồ lớn nhỏ tại đây đều được người dân địa phương đặt vơi những cái tên khac nhau: Thang kiều, Thang Ngả Nôi, Thang Hoi, Thang Khung, Thang Kè…vị trí của hồ nằm ngay giữa thũng lũng giáp ranh giữa hai huyện Hòa An và Trà Lĩnh (Cao Bằng) hồ đã tồn tại từ hàng trăm qua.

Có thể nói đây là hồ nước ngọt lớn nhất của địa phương tỉnh Cao Bằng và thông nhau với các sông suối lớn nhỏ khác nhau bao phủ một vùng rộng khắp. Đã tạo điều kiện thuận lợi cho phục vụ nhu cầu tưới tiêu của hàng ngàn ha ruộng đất ruộng và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân. Không chỉ vậy hồ còn là nơi tích trữ một lượng lớn nước khi có những đợt mưa lũ lớn.

Đồng thời, vị trí Hồ Thang Hen nằm ngay giữa thung lũng được bao bọc bởi rừng núi đã đã vô tình tạo nên một cảnh quan thiên nhiên hết sức thơ mộng với khung cảnh thiên nhiên “non nước hữu tình” tạo nên một địa điểm du lịch rất hấp dẫn đối với du khách khi tới Cao Bằng.

Theo Võ Sa Hà (Kienthuc)
Du lịch, GO!

Thang Hen: hồ nước kỳ lạ

(Kienthuc) - Người dân Hồ Thang Hen (xã Quốc Toản, huyện Trà lĩnh, Cao Bằng) từ bao đời truyền miện những câu chuyện đầy kỳ bí về nhiều nghìn khối nước trơ cạn trong một đêm.

Ly kỳ chuyện thủy quái hại dân

Theo các cụ già dân tộc Tày tại đây, từ bao đời nay bản Lũng Táo vốn nằm dưới chân hồ Thang Hen là vùng đất có địa thế đẹp, nơi định cư của đa phần dân tộc tày cuộc sống vốn yên bình. Những, cuộc sống của họ bỗng chốc bị đảo lộn hoàn toàn, không biết dân làng ai đã đắc tội hay làm sai điều gì với thần linh mà một ngày nọ bỗng từ đâu xuất hiện một con quái thú.

Vào một ngày khi mặt trời còn nằm trên ngọn núi, khi mọi người đang hoạt động sản xuất thì đất, trời bỗng mây đen lũ lượt kéo về, sặc mùi ám khí, đêm về buông xuống tiếng gầm rú của con quái thú làm rung chuyển núi, rừng ai cũng khiếp sợ hoảng loạn không dám bước ra khỏi cửa.

Gia súc trong làng thả ra là bị móng vuốt sắc nhọn của con quái thú “vồ” thịt, hoang mang, sợ hãi nhiều người dân cũng dần nản trí trong họ bắt đầu có ý định dời đến vùng đất khác, vì không còn ai chịu nổi được sự hoành hành của con quái thú.

Trước sự lộng hành của con quái thú, trưởng bản tụ tập tất cả mọi người lại họp, bàn diệt trừ con quái thú gian ác. Sau nhiều ý kiến nhiệm vụ diệt quái thú được dao các thanh niên, trai tráng khỏe mạnh nhất trong làng và vùng lân cận.

Ngay lập tức công việc chuẩn bị cho việc diệt quái thú được đưa ra là lập một hàng rào đầy rẫy trong gai sắt nhọn ngay trước của miệng hang nơi con quái thú đang đang ẩn náu. Khi giăng bẫy đã xong mọi người bắt đầu dụ con quái thú ra ngoài hang.
Các loại vũ khí dáo, mác, cung tên… được tất cả mọi người chuẩn bị sẵn sàng tiêu diệt con quái thú, vì gia súc trong làng bị quái thú ăn thịt hết nên khi đánh hơi thấy mồi nhử con quái thú liền lao ra khỏi hang xẻ thịt con mồi cho cơn đói.


< Bản Lũng Táo yên bình dưới chân hồ Thang Hen.

Nhưng con quái thú không thể ngờ đó là cái bẫy đã được giăng sẵn chờ đón con ác thú, khi chưa kịp chạm tới mồi nhử con quái thú bị dính bẫy ngàn mũi chông nhọn hoắt, quá đau đớn con quái thú vùng vẫy loạn xạ, nhưng càng vùng vẫy thì con quái thú càng dính nhiều bẫy chông không thể thoát ra được.
Nắm được thời cơ tiêu diệt con quái thú đã tới, thanh niên, trai tráng cùng mọi người dùng tất cả các loại vũ khí mình có trong tay phóng thẳng vào mắt con quái thú, bị mù hai mắt con quái thú thét gào trong vô vọng hoang mang. Dù vậy, vẫn chưa đẩy lùi được con quái thú xuống dưới miệng hang. Bởi, vũ khí thô sơ và có hạn nên con quái thú dần dần thoát được bẫy giăng.

Ngay lập tức mọi người dùng mõ, trống… gõ liên hồi trên miệng hang làm cho con quái thú càng trở nên hoảng loạn và bị đẩy xuống vực sâu, khi bị đẩy xuống vực sâu mọi người đã lập nhiều hàng rào chông trước miệng hang động để con quái thú không lên được nữa.

Khi con quái thú bị giam cầm trong hang động sâu thẳm thẳm, khi tiêu diệt được con quái thú, bà con trong bản reo hò, mở hội ăn mừng chiến thắng. Từ đó đến nay bản Lũng Táo luôn sống trong yên bình. Còn con quái thú khi bị giam giữ trong trong cơn cuồng loạn đã dùng chút sức lực cuối cùng của mình tìm lối thoát và đã gây ra những hang động dọc ngang dưới lòng đất cho đến tận ngày nay…

Đứng trước miệng hang, nơi được cho là truyền thuyết quái thú hại dân đứng trên đỉnh núi nhìn xuống miệng hang sâu hơn 20 mét thông thẳng lên đỉnh núi, bốn mùa nước trong hang chỉ lên xuống chênh lệch đôi chút nên lúc nào khi ai lên đây đều có thể nhìn thấy nước trong hang luôn trong xanh những cũng ẩn chứa đầy bí ẩn.

Hồ Thang Hen là một hồ nước đẹp, nằm cách con đường tỉnh lộ 205 đi vào huyện Trà Lĩnh, nơi có những rừng xanh bạt ngàn như một bức tranh nhuốm màu xanh đặc trưng của miền núi. Con đường nhỏ và duy nhất dẫn lối vào “hồ nước thủng” với những cung đường quanh co, rồi bất ngờ đổ xuống dốc gấp khúc như một thách thức của thiên nhiên đối với con người khi đến với nơi vùng đất này.

Cách “hồ nước thủng’ không xa là bản Lũng Táo nơi sinh sống của đồng bào tày hiền hòa nằm dưới chân “hồ nước thủng” nằm uốn lượn quanh co qua các dãy núi đá thoặt nhìn thoáng qua ai cũng rất dễ dàng hình dung ra được “hồ nước thủng” giống y như đuôi của một con ong nằm vắt vẻ ngang lưng trời…những cụ già người dân tộc tày của bản Lũng Táo nơi đây vẫn kể cho con cháu hay các khách du lịch mỗi khi đến hồ Thang Hen, nó như một truyền thuyết của người đồng bào tày nơi đây nhắc lại để răn dạy con cháu mình.

Hồ nước nghìn khối trơ cạn trong một đêm


< Hồ cạn nước khiến những chiếc thuyền, cano bị mắc kẹt ở bãi đá ven hồ.

Xung quanh câu chuyện về hồ nước nghìn khối này trơ cạn trong một đêm người dân tại đây cho biết, hiện tượng hàng nghìn khối nước trong hồ trơ cạn trong một đêm dường như đây như một quy luật tự nhiên. Nhưng hồ chỉ trơ cạn vào buổi đêm khi đó người dân tại bản Lũng Táo và những người dân khu vực xung quanh lại đổ xô đi bắt cá thỏa thuê. Khi ấy những thanh niên trai tráng là những người bắt được nhiều hơn cả, cả năm cá trong hồ được bắt một lần nên cá rất to ngoài việc dành để ăn, gia đình nào được nhiều ca lại đem ra chợ huyện bán lấy tiền.

Thời điểm hồ nước cạn là vào khoảng tháng 9 và tháng 10 lập thu hàng năm, nước trong hồ trơ cạn chỉ trong vòng 2 đến 3 tiếng đồng hồ. những người dân tại đây và cả các nhân viên ban quản lý hồ lâu năm tại đây cũng không thể lý giải được tại sao lại xảy ra hiện tượng như vậy nó không chỉ diễn ra một lần mà lặp đi, lặp lại theo chu kỳ nhưng câu hỏi lớn nhất đặt ra với họ là hàng nghìn mét khối nước trong hồ trơ cạn như vậy sẽ chảy về đâu?.

Cụ Nông Văn Bằng (78 tuổi) người dân tộc Tày cho biết: “Cả cái hồ rộng lớn bao la như vậy mà, nước cạn rút đi không biết chảy về đây chúng tôi đã dùng nhiều cách như tính được chu kỳ nước rút cả bản họp lại dùng trấu thóc đổ xuống hồ để xem nước hồ chảy qua khe núi hay đổ ra đâu nhưng tất cả đều không dấu vết nên từ đó đến nay mọi người ai cũng không còn để ý nhiều đến chuyện này nữa. Mọi người chỉ biết hồ nước cạn là dùng các dụng cụ có sẵn trong gia đình đi bắt cá.

Nhưng cũng theo người dân tại đây thì nước hồ rút cạn trong thời gian ngắn thì cũng tự khắc chảy trở lại hồ y như ban đầu đây là một trong những điều bí ẩn mà đến hàng trăm năm qua không ai giải thích được.
Nước trong hồ rút dần, rút dần xuống mà mắt thường cũng có thể nhìn thấy nước bị rút dần xuống lòng đất. trong khi đó mọi thứ xung quanh đều không có gì thay đổi y như một chiếc chậu nước bị thủng đang chảy nước ra ngoài cụ Bằng cho biết.

Trong 36 hồ được nối liền và thông nhau thì hồ Thang Moỏng nằm gần kề với hồ Thang Hen, hồ Thang Moỏng có diện tích hơn 10ha và sâu hơn 30 mét với trự lượng hàng ngàn mét khối nước và là hồ duy nhất bị trơ cạn. Quần thể 36 hồ tại đây, thì hồ Thang Hen là có thể chứa được lượng nước lơn nhất, khi mùa khô đến tất cả các hồ khác nước đều rút dần xuống rất nhanh và chỉ còn lại hồ Thang hen.

Theo ban quản lý khu du lịch hồ Thang Hen cho biết tổng cộng có 36 hồ nước tự nhiên lớn nhỏ, có nhưng hồ sâu tới 40 – 50 mét và mỗi hồ đều được ngăn cách nhau nhưng được nối liền thông nhau bởi các mạch hang động ngầm trong lòng đất nên mỗi khi nước cạn để lộ ra những hang động rất đẹp tạo nên những khung cảnh huyền ảo rất đẹp.

Tất cả các hồ lớn nhỏ tại đây đều được người dân địa phương đặt vơi những cái tên khac nhau: Thang kiều, Thang Ngả Nôi, Thang Hoi, Thang Khung, Thang Kè…vị trí của hồ nằm ngay giữa thũng lũng giáp ranh giữa hai huyện Hòa An và Trà Lĩnh (Cao Bằng) hồ đã tồn tại từ hàng trăm qua.

Có thể nói đây là hồ nước ngọt lớn nhất của địa phương tỉnh Cao Bằng và thông nhau với các sông suối lớn nhỏ khác nhau bao phủ một vùng rộng khắp. Đã tạo điều kiện thuận lợi cho phục vụ nhu cầu tưới tiêu của hàng ngàn ha ruộng đất ruộng và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân. Không chỉ vậy hồ còn là nơi tích trữ một lượng lớn nước khi có những đợt mưa lũ lớn.

Đồng thời, vị trí Hồ Thang Hen nằm ngay giữa thung lũng được bao bọc bởi rừng núi đã đã vô tình tạo nên một cảnh quan thiên nhiên hết sức thơ mộng với khung cảnh thiên nhiên “non nước hữu tình” tạo nên một địa điểm du lịch rất hấp dẫn đối với du khách khi tới Cao Bằng.

Theo Võ Sa Hà (Kienthuc)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Núi Cốc là tên gọi một vùng đất, vùng hồ thấm đẫm chất huyền thoại về câu chuyện tình thủy chung giữa nàng Công, chàng Cốc. Họ yêu nhau nhưng không thành, một người ra đi nước mắt chảy thành sông, người kia chờ đợi mỏi mòn hóa thành núi.

Và chính trên con sông Công huyền thoại người ta đã cho xây dựng hồ Núi Cốc, một hồ nước nhân tạo mang vẻ đẹp tự nhiên và trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng ở Thái Nguyên.

Khu du lịch hồ Núi Cốc được xây dựng trên một khuôn viên rộng có những cảnh quan thiên nhiên đẹp và những khu vui chơi giải trí tiện nghi hấp dẫn ở phía Bắc hay phía nam hồ.

Không khí ở đây rất trong lành mát mẻ. Xung quanh hồ là những dãy núi, cây rừng bao phủ và những đồi chè xanh mướt nhấp nhô tạo nên một bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình phảng phất một chút màu huyền thoại. Đứng trước hồ du khách có thể cảm nhận được sự mênh mông của nước hồ, sự bao la của đất trời.

Hồ Núi Cốc giống như một chiếc gương khổng lồ soi chiếu tất cả mọi vật, tạo nên cảnh sắc huyền ảo lung linh lúc ẩn lúc hiện.

Đến hồ Núi Cốc là đến với thiên đường vui chơi giải trí, những địa điểm tham quan hấp dẫn.

Du khách là người yêu thích những trò chơi muốn tìm những phút giây sảng khoái thì hãy đến với công viên nước, công viên khủng long, cá sấu... với những trò chơi hấp dẫn độc đáo đem lại những cảm giác thú vị đến không ngờ. Ngoài ra còn có khu vui chơi dành riêng cho trẻ em với những trò chơi thông minh giúp trẻ phát triển về chiều cao và trí tuệ.

Du khách thích tham quan khám phá sẽ có thể lựa chọn cho mình tuyến tham quan động Huyền Thoại Cung, động Ba Cây Thông, động Thế Giới Cổ Tích. Ở đó du khách sẽ ấn tượng bởi những mê cung huyền ảo, được chiêm ngưỡng những kiệt tác của thiên nhiên với đủ các hình dáng khác nhau hay là đọc các câu chuyện thần tiên, câu chuyện cổ tích khắc trên vách hang.

Tất cả sẽ đưa du khách vào thế giới kỳ diệu để quên đi hết những mệt nhọc, những ưu phiền của cuộc sống hằng ngày và sẽ thấy lòng tĩnh tại.

Thoát ra khỏi mê cung ấy du khách có thể đi thuyền dạo chơi trên mặt hồ, khám phá những đảo quốc xinh đẹp đầy bí ẩn. Ghé thăm đền bà chúa Thượng Ngàn linh thiêng hay vào đảo Núi Cái thăm khu trưng bày các sản phẩm làng nghề truyền thống Việt Nam với hơn 1.000 sản phẩm bằng những chất liệu khác nhau như đồng, gốm, sứ.

Ở chốn non xanh nước biếc này du khách có thể thưởng thức những món ăn đặc sản của hồ Núi Cốc như cá mè, tôm đá, thịt dúi rừng... sẽ giúp du khách lấy lại năng lượng sau những chuyến phiêu lưu đầy thú vị và thoải mái qua đêm trong những khách sạn mini nhấp nhô triền đồi để có những giấc ngủ tuyệt vời sau một ngày vui chơi thỏa thích.

Theo Phạm Lý (VTV)
Du lịch, GO!

Công viên nước ở Hồ Núi Cốc
Hồ Núi Cốc xứ chè

Hồ Núi Cốc - vẻ đẹp huyền thoại

Núi Cốc là tên gọi một vùng đất, vùng hồ thấm đẫm chất huyền thoại về câu chuyện tình thủy chung giữa nàng Công, chàng Cốc. Họ yêu nhau nhưng không thành, một người ra đi nước mắt chảy thành sông, người kia chờ đợi mỏi mòn hóa thành núi.

Và chính trên con sông Công huyền thoại người ta đã cho xây dựng hồ Núi Cốc, một hồ nước nhân tạo mang vẻ đẹp tự nhiên và trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng ở Thái Nguyên.

Khu du lịch hồ Núi Cốc được xây dựng trên một khuôn viên rộng có những cảnh quan thiên nhiên đẹp và những khu vui chơi giải trí tiện nghi hấp dẫn ở phía Bắc hay phía nam hồ.

Không khí ở đây rất trong lành mát mẻ. Xung quanh hồ là những dãy núi, cây rừng bao phủ và những đồi chè xanh mướt nhấp nhô tạo nên một bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình phảng phất một chút màu huyền thoại. Đứng trước hồ du khách có thể cảm nhận được sự mênh mông của nước hồ, sự bao la của đất trời.

Hồ Núi Cốc giống như một chiếc gương khổng lồ soi chiếu tất cả mọi vật, tạo nên cảnh sắc huyền ảo lung linh lúc ẩn lúc hiện.

Đến hồ Núi Cốc là đến với thiên đường vui chơi giải trí, những địa điểm tham quan hấp dẫn.

Du khách là người yêu thích những trò chơi muốn tìm những phút giây sảng khoái thì hãy đến với công viên nước, công viên khủng long, cá sấu... với những trò chơi hấp dẫn độc đáo đem lại những cảm giác thú vị đến không ngờ. Ngoài ra còn có khu vui chơi dành riêng cho trẻ em với những trò chơi thông minh giúp trẻ phát triển về chiều cao và trí tuệ.

Du khách thích tham quan khám phá sẽ có thể lựa chọn cho mình tuyến tham quan động Huyền Thoại Cung, động Ba Cây Thông, động Thế Giới Cổ Tích. Ở đó du khách sẽ ấn tượng bởi những mê cung huyền ảo, được chiêm ngưỡng những kiệt tác của thiên nhiên với đủ các hình dáng khác nhau hay là đọc các câu chuyện thần tiên, câu chuyện cổ tích khắc trên vách hang.

Tất cả sẽ đưa du khách vào thế giới kỳ diệu để quên đi hết những mệt nhọc, những ưu phiền của cuộc sống hằng ngày và sẽ thấy lòng tĩnh tại.

Thoát ra khỏi mê cung ấy du khách có thể đi thuyền dạo chơi trên mặt hồ, khám phá những đảo quốc xinh đẹp đầy bí ẩn. Ghé thăm đền bà chúa Thượng Ngàn linh thiêng hay vào đảo Núi Cái thăm khu trưng bày các sản phẩm làng nghề truyền thống Việt Nam với hơn 1.000 sản phẩm bằng những chất liệu khác nhau như đồng, gốm, sứ.

Ở chốn non xanh nước biếc này du khách có thể thưởng thức những món ăn đặc sản của hồ Núi Cốc như cá mè, tôm đá, thịt dúi rừng... sẽ giúp du khách lấy lại năng lượng sau những chuyến phiêu lưu đầy thú vị và thoải mái qua đêm trong những khách sạn mini nhấp nhô triền đồi để có những giấc ngủ tuyệt vời sau một ngày vui chơi thỏa thích.

Theo Phạm Lý (VTV)
Du lịch, GO!

Công viên nước ở Hồ Núi Cốc
Hồ Núi Cốc xứ chè
Đọc thêm..
(VnExpress) - Búng Bình Thiên là một trong những hồ nước ngọt lớn nhất của Tây Nam Bộ nằm gần biên giới Campuchia, thông với sông Bình Di (An Phú, An Giang).

Để đến Búng Bình Thiên, bạn có thể đi theo hướng từ trung tâm thị xã Châu Đốc, qua cầu Cồn Tiên, theo tỉnh lộ 956 đến thị trấn An Phú, từ đây đi tiếp về cửa khẩu Khánh Bình, đến ngã tư Quốc Thái, rẽ trái đi tiếp độ 2 km là tới Búng Bình Thiên.

< Búng Bình Thiên hay còn gọi là hồ Nước Trời nằm giữa 3 xã biên giới Khánh Bình, Khánh An và Nhơn Hội.

Truyền thuyết kể rằng, một viên tướng nhà Tây Sơn là Võ Văn đã chọn vùng đất này làm căn cứ để tích trữ lương thực, thao luyện binh sĩ. Vào một mùa khô hạn,  ông lập đàn làm lễ tế cáo trời - đất, xin ban cho nguồn nước. Khấn vái xong, ông rút gươm đâm thẳng xuống lòng đất trũng.

Lạ thay, khi lưỡi gươm vừa cắm xuống mặt đất thì một dòng nước ngọt trong vắt phun lên rất cao. Theo thời gian, nước tràn ngập thành hồ như ngày nay. Dân gọi là Búng Bình Thiên (Hồ nước trời). Búng theo tiếng địa phương có nghĩa hồ hay đầm, bình là do mặt nước trong búng lúc nào cũng êm ả, còn thiên có nghĩa là trời.

< Giữa mênh mông biển nước ấy là những chiếc thuyền của ngư dân cần mẫn ngày đêm giăng câu, buông lưới kiếm sống.

Búng có 2 hồ gọi là Búng Lớn và Búng nhỏ. Búng Bình Thiên Lớn có diện tích mặt nước là 193 ha, Búng Bình Thiên Nhỏ khoảng 10 ha, độ sâu trung bình khoảng 5 m. Tháng 8 hàng năm, dòng sông Me Kong cuồn cuộn đổ nước từ Campuchia vào Việt Nam tạo thành những cơn lũ đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu. Nước lũ tràn bờ, chảy vào làm 2 hồ hòa làm một, chìm ngập trong biển nước mênh mông, mặt hồ phủ kín sen, súng, lục bình.

< Búng Bình Thiên có độ sâu trung bình khoảng 5 m, diện tích mặt nước vào mùa nước cạn khoảng 200 ha, vào mùa nước nổi lên đến 900 ha, đặc biệt không bao giờ cạn.

Hồ trong vắt, chỉ dâng lên và hạ xuống chứ không chảy. Miệng Búng thông với nhánh sông Bình Di, nhưng dòng nước đỏ ngầu phù sa ấy chỉ cần chạm đến cái miệng hồ kỳ lạ này thì lại trở nên xanh biếc và trong lành. Dường như ở đây không có cơ chế thu và chia nước với nhánh sông Cửu Long. Đường phân thủy trong, đục này được nhìn thấy rất rõ vào mùa nước nổi. Điều này làm cho Búng Bình Thiên trở thành một trong những hồ nước có hiện tượng thiên nhiên kỳ thú trên thế giới.

Cộng đồng người Chăm theo đạo Hồi (Chăm islam) sống tập trung quanh Búng  vẫn giữ được nguyên vẹn sự riêng biệt, độc đáo trong văn hóa tín ngưỡng và đời sống hàng ngày như thuở xa xưa, cũng là một điểm đặc biệt hấp dẫn du khách. Thánh đường Mas Jid Khoy Ri Yah với mái vòm hình củ tỏi sát bên búng Bình Thiên mỗi ngày đều nhộp nhịp con chiên lui tới cầu nguyện.

Đến đây, bạn có thể thuê một chiếc thuyền dạo chơi trên hồ trong mùa nước nổi, ngắm nhìn những cụm hoa điên điển khoe sắc hay lang thang dọc các xóm Chăm để ngắm những ngôi nhà gỗ cổ. Ánh mắt to tròn duyên dáng với áo váy dài và khăn thêu của những cô gái Chăm hiền lành, trẻ thơ vui đùa trên đường làng, hồ nước trong lành xanh mát, tất cả hòa quyện khiến du khách cảm thấy Búng Bình Thiên thật huyền ảo mà quá đỗi thanh bình và gần gũi.
Xem thêm >

Theo Duyên Mới (báo VnExpress)
Du lịch, GO!

Làng Chăm ở búng Bình Thiên

Búng Bình Thiên mùa nước nổi

(VnExpress) - Búng Bình Thiên là một trong những hồ nước ngọt lớn nhất của Tây Nam Bộ nằm gần biên giới Campuchia, thông với sông Bình Di (An Phú, An Giang).

Để đến Búng Bình Thiên, bạn có thể đi theo hướng từ trung tâm thị xã Châu Đốc, qua cầu Cồn Tiên, theo tỉnh lộ 956 đến thị trấn An Phú, từ đây đi tiếp về cửa khẩu Khánh Bình, đến ngã tư Quốc Thái, rẽ trái đi tiếp độ 2 km là tới Búng Bình Thiên.

< Búng Bình Thiên hay còn gọi là hồ Nước Trời nằm giữa 3 xã biên giới Khánh Bình, Khánh An và Nhơn Hội.

Truyền thuyết kể rằng, một viên tướng nhà Tây Sơn là Võ Văn đã chọn vùng đất này làm căn cứ để tích trữ lương thực, thao luyện binh sĩ. Vào một mùa khô hạn,  ông lập đàn làm lễ tế cáo trời - đất, xin ban cho nguồn nước. Khấn vái xong, ông rút gươm đâm thẳng xuống lòng đất trũng.

Lạ thay, khi lưỡi gươm vừa cắm xuống mặt đất thì một dòng nước ngọt trong vắt phun lên rất cao. Theo thời gian, nước tràn ngập thành hồ như ngày nay. Dân gọi là Búng Bình Thiên (Hồ nước trời). Búng theo tiếng địa phương có nghĩa hồ hay đầm, bình là do mặt nước trong búng lúc nào cũng êm ả, còn thiên có nghĩa là trời.

< Giữa mênh mông biển nước ấy là những chiếc thuyền của ngư dân cần mẫn ngày đêm giăng câu, buông lưới kiếm sống.

Búng có 2 hồ gọi là Búng Lớn và Búng nhỏ. Búng Bình Thiên Lớn có diện tích mặt nước là 193 ha, Búng Bình Thiên Nhỏ khoảng 10 ha, độ sâu trung bình khoảng 5 m. Tháng 8 hàng năm, dòng sông Me Kong cuồn cuộn đổ nước từ Campuchia vào Việt Nam tạo thành những cơn lũ đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu. Nước lũ tràn bờ, chảy vào làm 2 hồ hòa làm một, chìm ngập trong biển nước mênh mông, mặt hồ phủ kín sen, súng, lục bình.

< Búng Bình Thiên có độ sâu trung bình khoảng 5 m, diện tích mặt nước vào mùa nước cạn khoảng 200 ha, vào mùa nước nổi lên đến 900 ha, đặc biệt không bao giờ cạn.

Hồ trong vắt, chỉ dâng lên và hạ xuống chứ không chảy. Miệng Búng thông với nhánh sông Bình Di, nhưng dòng nước đỏ ngầu phù sa ấy chỉ cần chạm đến cái miệng hồ kỳ lạ này thì lại trở nên xanh biếc và trong lành. Dường như ở đây không có cơ chế thu và chia nước với nhánh sông Cửu Long. Đường phân thủy trong, đục này được nhìn thấy rất rõ vào mùa nước nổi. Điều này làm cho Búng Bình Thiên trở thành một trong những hồ nước có hiện tượng thiên nhiên kỳ thú trên thế giới.

Cộng đồng người Chăm theo đạo Hồi (Chăm islam) sống tập trung quanh Búng  vẫn giữ được nguyên vẹn sự riêng biệt, độc đáo trong văn hóa tín ngưỡng và đời sống hàng ngày như thuở xa xưa, cũng là một điểm đặc biệt hấp dẫn du khách. Thánh đường Mas Jid Khoy Ri Yah với mái vòm hình củ tỏi sát bên búng Bình Thiên mỗi ngày đều nhộp nhịp con chiên lui tới cầu nguyện.

Đến đây, bạn có thể thuê một chiếc thuyền dạo chơi trên hồ trong mùa nước nổi, ngắm nhìn những cụm hoa điên điển khoe sắc hay lang thang dọc các xóm Chăm để ngắm những ngôi nhà gỗ cổ. Ánh mắt to tròn duyên dáng với áo váy dài và khăn thêu của những cô gái Chăm hiền lành, trẻ thơ vui đùa trên đường làng, hồ nước trong lành xanh mát, tất cả hòa quyện khiến du khách cảm thấy Búng Bình Thiên thật huyền ảo mà quá đỗi thanh bình và gần gũi.
Xem thêm >

Theo Duyên Mới (báo VnExpress)
Du lịch, GO!

Làng Chăm ở búng Bình Thiên
Đọc thêm..