(SGGP) - Bị quyến rũ bởi câu ngân nga của người xưa: Nhất vui là hội phủ Giầy/ Vui thì vui vậy, chẳng tày chùa Bi, tôi lặn lội về thành Nam. Thật thú vị, lại được chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật độc đáo có sức sống gần 500 năm.

Độc nhất vô nhị

17 giờ, bà con làng trên xóm dưới đã đổ về đầy sân chùa. Mỗi người mỗi việc, người chuẩn bị lễ vật cúng thánh, phật, người lo quét dọn, người giăng đèn kết hoa, người bắc phông màn, trải chiếu, chuẩn bị trầu nước… Ai nấy tíu tít, hoan hỉ. Hôm nay phát tấu mà!

< Gác chuông chùa Bi.

Chùa Bi (còn gọi chùa Đại Bi) là ngôi chùa chung của 3 làng Vân Chàng, Giáp Ba và Giáp Tư, là một trong 4 ngôi chùa được xây dựng ở huyện Tây Chân (sau đổi thành Nam Chân) thuộc trấn Sơn Nam từ thời Lý (1010 - 1225), nay thuộc thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Chùa rộng 2.600m2 với hơn 60 gian, hầu hết bằng gỗ lim. Nhìn từ ngoài vào ta thấy chùa được nâng cao dần, kiến trúc hình chữ công (nội công, ngoại quốc), trông nguy nga đồ sộ. Hai dãy hành lang dài và thấp hai bên tả hữu càng tôn thêm vẻ đẹp của tháp chuông 2 tầng với 8 mái uốn cong mềm mại, tựa đóa sen đang nở.

Trong chùa lưu giữ nhiều cổ vật quý có từ thời hậu Lê: quả chuông cao hơn 2m, đỉnh đồng, khay, chén, đĩa… Một quần thể lăng mộ, am, tháp với kiến trúc đặc sắc; khung cảnh thiên nhiên trong lành, xanh tươi và khu chợ chùa tấp nập (ngoài việc đáp ứng nhu cầu giao thương hàng ngày của người dân quanh vùng; mùng 8 Tết, chợ còn họp phiên đặc biệt, dân quanh vùng mang đến đây từ nông cụ đến cây cảnh, đồ cổ… để buôn bán cầu may. Theo các bậc cao niên trong vùng, phiên chợ Viềng Nam Giang này ra đời trước và độc đáo hơn cả chợ Viềng phủ Giầy bên kia sông Đào) cũng tạo thêm nét duyên cho ngôi chùa cổ thanh tịnh và đã được Bộ VH-TT (cũ) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa từ năm 1984.

Đại đức Thích Thanh Quyết, trụ trì chùa Bi, cho biết: Chùa thờ vị thánh tổ Từ Đạo Hạnh, con trai của ông Từ Vinh giữ chức đô sát đời vua Lý Nhân Tông. Từ Đạo Hạnh đã kết bạn với Không Lộ thiền sư ở chùa Không Lộ và Giác Hải thiền sư ở chùa Phúc Lâm. Ba người nghiên cứu pháp môn đà la ni và cùng nhau sang Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh và được đức Phật tổ truyền cho tâm án, lục trí thần thông.

Để tưởng nhớ thánh tổ Từ Đạo Hạnh, vị thiền sư đã trụ trì ở chùa Bi, hàng năm, dân làng mở hội từ ngày 20 đến 24 tháng Giêng âm lịch. Trong suốt mấy ngày hội thường tổ chức tưng bừng rước kiệu, tế xuân và các trò vui chơi như đánh cờ, đấu vật, múa rồng, chạy đàn cầu an… Đặc biệt, suốt những đêm hội còn diễn ra các trò múa rối mà người địa phương quen gọi là trò hát rối hay ổi lỗi.

Đúng 19 giờ, trong tiếng chuông, trống, thanh la, mõ vang rộn, gần 20 ông lão mặc quần trắng, áo dài thâm, đội khăn lượt hoặc khăn xếp kính cẩn tiến vào hậu cung thắp hương, cúng lễ rồi mở hòm rước 12 đầu rối, gọi là thánh tượng, ra trước chánh điện. Trong làn hương thơm ngát của hương hoa, phẩm quả, các ông lần lượt xếp hàng trước tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh, điều khiển những thánh tượng cúi đầu lạy thánh rồi tiến ra sân khấu. Sân khấu biểu diễn chỉ đơn giản là một bức rèm che cách điệu hình sóng nước được mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong chùa (gọi là dàn). Người múa rối, người hát, người gõ nhạc cụ đứng sau tấm màn, quay mặt về phía bàn thờ Phật và bàn thờ đức thánh Từ (thế nên mới gọi là múa rối hầu thánh).

Giáo trống rộn ràng báo hiệu đêm hát rối bắt đầu. Mỗi thôn có một bài giáo trống khác nhau, hay nhất là bài của thôn Giáp Ba. Rồi lần lượt đến mở hò, dâng cách, đọc kệ. Tiếp theo, 3 nhóm rối của từng làng (mỗi nhóm 10 người) ra hát chúc làng mình rồi cùng nhau đồng ca lời chúc mừng chung cho cả 3 làng, 3 xã được an lành, phú quý. Các bài hát có những âm điệu, giai điệu khác nhau nhưng đều hát vần ra theo nhịp 1/3 hoặc 2/7. Đặc biệt các lời đệm, lời đón đều dùng tiếng Nôm cổ, làm theo thể song thất lục bát hoặc lục bát: Là ôi là lễ lã lè lại là lèn; hồ la hồ hồ la la lải la lèn; là ôi là a a a ớ dô là vậy, là vậy hờ là là vậy; lê lê là… Nội dung của các bài hát đều mang ý nghĩa chúc phúc, ca ngợi quê hương đất nước tươi đẹp, ca ngợi những chiến công trong lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông xưa, nhắc nhở mọi người biết sống thủy chung, trọng lễ nghĩa…

Rối chùa Bi thuộc thể loại rối tay. Tượng làm bằng gỗ vàng tâm khoét rỗng, phủ sơn ta, với nét mặt được các nghệ nhân dân gian khắc họa khá kỹ lưỡng, thể hiện những tính cách khác nhau, được người dân gọi là thánh tượng. Bộ thánh tượng chùa Bi không chỉ có giá trị lịch sử, tâm linh mà còn giàu tính mỹ thuật, được đánh giá là bộ đầu rối đẹp nhất miền Bắc Việt Nam.

Nguy cơ mai một

Ông Đoàn Quanh (84 tuổi) tham gia phường rối từ năm 13 tuổi và giữ chân trùm phường (chánh trùm) suốt từ năm 1970 tới nay, cho biết: “Chính tên của trò này là hội tu kỳ lệ (răn đời bỏ ác làm thiện); sau này mới có thêm các tên là rối đầu gỗ, ổi lỗi, hát rối”. Căn cứ vào kinh văn (tức lời hát) có thể phỏng đoán trò ổi lỗi được kiện toàn hình thức và nội dung từ thời Lê sơ (cách đây khoảng hơn 450 năm).

Có bài ca ngợi về việc khôi phục đế đô, có bài ca ngợi đức vua (Lê), đức chúa (Trịnh). Còn lại, hầu hết bài ca có ý nghĩa giáo dục răn dạy đạo đức phong kiến tam cương, ngũ thường, đạo gia đình... Trong ca từ có rất nhiều lời cổ, ví dụ như hòa (chàng), nường (nàng), bường (bình)... Còn rất nhiều từ tối nghĩa (nghĩa cổ) các cụ hát được nhưng không hiểu...

“Rối đầu gỗ chùa Bi là một loại hình diễn xướng dân gian rất đặc sắc và độc nhất vô nhị trên đất nước ta. Ở chùa Cổ Lễ (Nam Định) thờ thiền sư Giác Hải còn giữ được một số đầu tượng rối giống như ở chùa Đại Bi nhưng kinh văn (lời hát) ở những nơi này đã mất và cũng không còn phường rối. Ở chùa Keo (Thái Bình) thờ thiền sư Không Lộ cũng có trò diễn bằng những đầu gỗ nhưng chỉ múa đơn thuần chứ không có các làn điệu hát phụ họa và nghệ thuật tạo hình các con trò cũng không đẹp mắt…”, GS-TS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nhận xét.

Nhưng từ hàng trăm năm nay, do gắn liền với lễ hội đậm màu sắc tín ngưỡng của chùa Bi nên chỉ được diễn vài ba lần mỗi năm vào những dịp hội xuân, giỗ thánh. Năm 2002, Bộ Văn hóa - Thông tin đã tài trợ kinh phí nghiên cứu và Viện Âm nhạc Việt Nam đã về chùa Bi ghi âm và quay lại toàn bộ chương trình biểu diễn của trò ổi lỗi để lưu giữ hình ảnh với mục đích bảo tồn. Nhưng nghiên cứu của viện cũng chỉ chú ý về mặt diễn xướng và âm nhạc, không tìm hiểu sâu về nguồn gốc và lý do của trò ổi lỗi.

Tại chùa Đại Bi đang lưu giữ 2 bộ tượng rối, một bộ được làm năm 1957 dùng để tập, bộ còn lại có niên đại cao, mang nhiều giá trị lịch sử nhưng chưa có phương án bảo quản hữu hiệu để chống mối mọt. Hiện nay nơi lưu giữ tượng nằm sau chính điện thờ, ẩm thấp và thiếu ánh sáng. Nhiều đầu rối đã bong sơn, gãy tay cầm. Muốn phục chế, các cụ cũng không biết tìm đâu ra nghệ nhân. Còn làm mới thì theo như ông Sòng cho biết, giá một đầu rối vào khoảng 15 triệu đồng. Hiện nay, Sở VH-TT-DL tỉnh Nam Định đang có kế hoạch ghi hình toàn bộ diễn trình, làm hồ sơ để trình Cục Di sản văn hóa công nhận rối đầu gỗ hầu thánh là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Năm 2009, lần đầu tiên trò ổi lỗi ra mắt công chúng ngoài không gian chùa Bi. 6 nghệ nhân đã đến Hà Nội trình diễn tại tọa đàm “Để di sản sống trong đời sống đương đại” trước các nhà nghiên cứu văn hóa. Lần thứ hai, rối đầu gỗ chùa Bi “xuất ngoại” là ngày 4-3-2012. Các nghệ nhân đã lên chùa Thầy (thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội) để trình diễn trong một cuộc hội thảo về thánh Từ Đạo Hạnh và tín ngưỡng dân gian.

Theo Đỗ Quang Tuấn Hoàng (Sàigòn Giải Phóng)
Du lịch, GO!

Hát rối chùa Bi

(SGGP) - Bị quyến rũ bởi câu ngân nga của người xưa: Nhất vui là hội phủ Giầy/ Vui thì vui vậy, chẳng tày chùa Bi, tôi lặn lội về thành Nam. Thật thú vị, lại được chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật độc đáo có sức sống gần 500 năm.

Độc nhất vô nhị

17 giờ, bà con làng trên xóm dưới đã đổ về đầy sân chùa. Mỗi người mỗi việc, người chuẩn bị lễ vật cúng thánh, phật, người lo quét dọn, người giăng đèn kết hoa, người bắc phông màn, trải chiếu, chuẩn bị trầu nước… Ai nấy tíu tít, hoan hỉ. Hôm nay phát tấu mà!

< Gác chuông chùa Bi.

Chùa Bi (còn gọi chùa Đại Bi) là ngôi chùa chung của 3 làng Vân Chàng, Giáp Ba và Giáp Tư, là một trong 4 ngôi chùa được xây dựng ở huyện Tây Chân (sau đổi thành Nam Chân) thuộc trấn Sơn Nam từ thời Lý (1010 - 1225), nay thuộc thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Chùa rộng 2.600m2 với hơn 60 gian, hầu hết bằng gỗ lim. Nhìn từ ngoài vào ta thấy chùa được nâng cao dần, kiến trúc hình chữ công (nội công, ngoại quốc), trông nguy nga đồ sộ. Hai dãy hành lang dài và thấp hai bên tả hữu càng tôn thêm vẻ đẹp của tháp chuông 2 tầng với 8 mái uốn cong mềm mại, tựa đóa sen đang nở.

Trong chùa lưu giữ nhiều cổ vật quý có từ thời hậu Lê: quả chuông cao hơn 2m, đỉnh đồng, khay, chén, đĩa… Một quần thể lăng mộ, am, tháp với kiến trúc đặc sắc; khung cảnh thiên nhiên trong lành, xanh tươi và khu chợ chùa tấp nập (ngoài việc đáp ứng nhu cầu giao thương hàng ngày của người dân quanh vùng; mùng 8 Tết, chợ còn họp phiên đặc biệt, dân quanh vùng mang đến đây từ nông cụ đến cây cảnh, đồ cổ… để buôn bán cầu may. Theo các bậc cao niên trong vùng, phiên chợ Viềng Nam Giang này ra đời trước và độc đáo hơn cả chợ Viềng phủ Giầy bên kia sông Đào) cũng tạo thêm nét duyên cho ngôi chùa cổ thanh tịnh và đã được Bộ VH-TT (cũ) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa từ năm 1984.

Đại đức Thích Thanh Quyết, trụ trì chùa Bi, cho biết: Chùa thờ vị thánh tổ Từ Đạo Hạnh, con trai của ông Từ Vinh giữ chức đô sát đời vua Lý Nhân Tông. Từ Đạo Hạnh đã kết bạn với Không Lộ thiền sư ở chùa Không Lộ và Giác Hải thiền sư ở chùa Phúc Lâm. Ba người nghiên cứu pháp môn đà la ni và cùng nhau sang Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh và được đức Phật tổ truyền cho tâm án, lục trí thần thông.

Để tưởng nhớ thánh tổ Từ Đạo Hạnh, vị thiền sư đã trụ trì ở chùa Bi, hàng năm, dân làng mở hội từ ngày 20 đến 24 tháng Giêng âm lịch. Trong suốt mấy ngày hội thường tổ chức tưng bừng rước kiệu, tế xuân và các trò vui chơi như đánh cờ, đấu vật, múa rồng, chạy đàn cầu an… Đặc biệt, suốt những đêm hội còn diễn ra các trò múa rối mà người địa phương quen gọi là trò hát rối hay ổi lỗi.

Đúng 19 giờ, trong tiếng chuông, trống, thanh la, mõ vang rộn, gần 20 ông lão mặc quần trắng, áo dài thâm, đội khăn lượt hoặc khăn xếp kính cẩn tiến vào hậu cung thắp hương, cúng lễ rồi mở hòm rước 12 đầu rối, gọi là thánh tượng, ra trước chánh điện. Trong làn hương thơm ngát của hương hoa, phẩm quả, các ông lần lượt xếp hàng trước tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh, điều khiển những thánh tượng cúi đầu lạy thánh rồi tiến ra sân khấu. Sân khấu biểu diễn chỉ đơn giản là một bức rèm che cách điệu hình sóng nước được mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong chùa (gọi là dàn). Người múa rối, người hát, người gõ nhạc cụ đứng sau tấm màn, quay mặt về phía bàn thờ Phật và bàn thờ đức thánh Từ (thế nên mới gọi là múa rối hầu thánh).

Giáo trống rộn ràng báo hiệu đêm hát rối bắt đầu. Mỗi thôn có một bài giáo trống khác nhau, hay nhất là bài của thôn Giáp Ba. Rồi lần lượt đến mở hò, dâng cách, đọc kệ. Tiếp theo, 3 nhóm rối của từng làng (mỗi nhóm 10 người) ra hát chúc làng mình rồi cùng nhau đồng ca lời chúc mừng chung cho cả 3 làng, 3 xã được an lành, phú quý. Các bài hát có những âm điệu, giai điệu khác nhau nhưng đều hát vần ra theo nhịp 1/3 hoặc 2/7. Đặc biệt các lời đệm, lời đón đều dùng tiếng Nôm cổ, làm theo thể song thất lục bát hoặc lục bát: Là ôi là lễ lã lè lại là lèn; hồ la hồ hồ la la lải la lèn; là ôi là a a a ớ dô là vậy, là vậy hờ là là vậy; lê lê là… Nội dung của các bài hát đều mang ý nghĩa chúc phúc, ca ngợi quê hương đất nước tươi đẹp, ca ngợi những chiến công trong lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông xưa, nhắc nhở mọi người biết sống thủy chung, trọng lễ nghĩa…

Rối chùa Bi thuộc thể loại rối tay. Tượng làm bằng gỗ vàng tâm khoét rỗng, phủ sơn ta, với nét mặt được các nghệ nhân dân gian khắc họa khá kỹ lưỡng, thể hiện những tính cách khác nhau, được người dân gọi là thánh tượng. Bộ thánh tượng chùa Bi không chỉ có giá trị lịch sử, tâm linh mà còn giàu tính mỹ thuật, được đánh giá là bộ đầu rối đẹp nhất miền Bắc Việt Nam.

Nguy cơ mai một

Ông Đoàn Quanh (84 tuổi) tham gia phường rối từ năm 13 tuổi và giữ chân trùm phường (chánh trùm) suốt từ năm 1970 tới nay, cho biết: “Chính tên của trò này là hội tu kỳ lệ (răn đời bỏ ác làm thiện); sau này mới có thêm các tên là rối đầu gỗ, ổi lỗi, hát rối”. Căn cứ vào kinh văn (tức lời hát) có thể phỏng đoán trò ổi lỗi được kiện toàn hình thức và nội dung từ thời Lê sơ (cách đây khoảng hơn 450 năm).

Có bài ca ngợi về việc khôi phục đế đô, có bài ca ngợi đức vua (Lê), đức chúa (Trịnh). Còn lại, hầu hết bài ca có ý nghĩa giáo dục răn dạy đạo đức phong kiến tam cương, ngũ thường, đạo gia đình... Trong ca từ có rất nhiều lời cổ, ví dụ như hòa (chàng), nường (nàng), bường (bình)... Còn rất nhiều từ tối nghĩa (nghĩa cổ) các cụ hát được nhưng không hiểu...

“Rối đầu gỗ chùa Bi là một loại hình diễn xướng dân gian rất đặc sắc và độc nhất vô nhị trên đất nước ta. Ở chùa Cổ Lễ (Nam Định) thờ thiền sư Giác Hải còn giữ được một số đầu tượng rối giống như ở chùa Đại Bi nhưng kinh văn (lời hát) ở những nơi này đã mất và cũng không còn phường rối. Ở chùa Keo (Thái Bình) thờ thiền sư Không Lộ cũng có trò diễn bằng những đầu gỗ nhưng chỉ múa đơn thuần chứ không có các làn điệu hát phụ họa và nghệ thuật tạo hình các con trò cũng không đẹp mắt…”, GS-TS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nhận xét.

Nhưng từ hàng trăm năm nay, do gắn liền với lễ hội đậm màu sắc tín ngưỡng của chùa Bi nên chỉ được diễn vài ba lần mỗi năm vào những dịp hội xuân, giỗ thánh. Năm 2002, Bộ Văn hóa - Thông tin đã tài trợ kinh phí nghiên cứu và Viện Âm nhạc Việt Nam đã về chùa Bi ghi âm và quay lại toàn bộ chương trình biểu diễn của trò ổi lỗi để lưu giữ hình ảnh với mục đích bảo tồn. Nhưng nghiên cứu của viện cũng chỉ chú ý về mặt diễn xướng và âm nhạc, không tìm hiểu sâu về nguồn gốc và lý do của trò ổi lỗi.

Tại chùa Đại Bi đang lưu giữ 2 bộ tượng rối, một bộ được làm năm 1957 dùng để tập, bộ còn lại có niên đại cao, mang nhiều giá trị lịch sử nhưng chưa có phương án bảo quản hữu hiệu để chống mối mọt. Hiện nay nơi lưu giữ tượng nằm sau chính điện thờ, ẩm thấp và thiếu ánh sáng. Nhiều đầu rối đã bong sơn, gãy tay cầm. Muốn phục chế, các cụ cũng không biết tìm đâu ra nghệ nhân. Còn làm mới thì theo như ông Sòng cho biết, giá một đầu rối vào khoảng 15 triệu đồng. Hiện nay, Sở VH-TT-DL tỉnh Nam Định đang có kế hoạch ghi hình toàn bộ diễn trình, làm hồ sơ để trình Cục Di sản văn hóa công nhận rối đầu gỗ hầu thánh là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Năm 2009, lần đầu tiên trò ổi lỗi ra mắt công chúng ngoài không gian chùa Bi. 6 nghệ nhân đã đến Hà Nội trình diễn tại tọa đàm “Để di sản sống trong đời sống đương đại” trước các nhà nghiên cứu văn hóa. Lần thứ hai, rối đầu gỗ chùa Bi “xuất ngoại” là ngày 4-3-2012. Các nghệ nhân đã lên chùa Thầy (thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội) để trình diễn trong một cuộc hội thảo về thánh Từ Đạo Hạnh và tín ngưỡng dân gian.

Theo Đỗ Quang Tuấn Hoàng (Sàigòn Giải Phóng)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Từ sáng ngày 19.2, rất nhiều du khách đã đổ xô về Sapa để chiêm ngưỡng vẻ đẹp lung linh trong tuyết trắng. Tuyết bắt đầu rơi lúc 2h, nhiệt độ xuống thấp ở mức -0,2 độ C và phủ trắng mọi vật từ khu vực điểm cao đèo Ô Quý Hồ (khoảng 2.000m) lan dần đến khu vực ngã ba Nhà máy nước (thị trấn Sa Pa, khoảng 1.600m).

Đây là lần đầu tiên tuyết rơi ở Sapa trong năm nay, tuyết khiến những cành đào Sapa đẹp lung linh trong tuyết trắng. Hiện tuyết rơi ngày càng mạnh và đã phủ một lớp 3-5 cm trên mặt đất hai bên mặt đường quốc lộ 4D Sa Pa - Lai Châu. Trong khi những du khách đổ xô lên Sapa để ngắm tuyết và hào hứng chụp ảnh... thì lại có một thục tế: Đằng sau vẻ đẹp của tuyết là sự đói khổ!

“Ở đâu cũng thế, những người nghèo là khổ nhất. Tuyết rơi lạnh thế này, đằng sau cái vẻ đẹp của nó thì nó cũng mang tới sự đói khổ. Hoa màu, gia súc thiệt hại. Cái lợi từ du lịch chỉ có tác dụng trên một số người, nhưng phần lớn những người nghèo thì thiệt hại nặng nhất”, một bạn trẻ chia sẻ.

Nhiệt độ giảm xuống âm 0,2 độ C vào sáng 19-2 khiến thị trấn Sapa có tuyết rơi với cường độ nhẹ, phủ lớp mỏng trên cây cối, nhà cửa. Một số vùng núi khác thuộc tỉnh Lào Cai như xã Y Tý (Bát Xát) - nơi nằm ở độ cao trên 2.000 m so với mặt nước biển cũng có mưa tuyết dày khoảng 5-10 cm. Hiện tuyết vẫn chưa tan hết.

Nghe tin Sa Pa có tuyết rơi, không còn sự hứng thú như những lần tuyết rơi trước, nhiều người trẻ bày tỏ sự xót xa, thương cảm với người dân Sa Pa khi hay tin có tuyết rơi.

Bạn Duy Khánh chia sẻ: “Đi leo Fansipan một lần đúng vào dịp tuyết rơi như thế này, tởn tới giờ. Ngày đầu tiên thì còn thích thú, đến tối thì lạnh không ngủ nổi, sáng hôm sau buốt cóng cả tay chân (mặc dù áo ấm khăn giày trang bị đầy đủ) đường trơn trượt leo rất nguy hiểm, cả đoàn đành bỏ cuộc khi đường lên đỉnh bị cây cối gãy đổ và tuyết chặn mất. Khi về xót nhất là thấy cảnh trâu bò chết dọc sườn núi, người dân đành đem xẻ thịt tại chỗ, như vậy là gần như mất trắng. Ảnh chụp đợt đó giờ nhìn lại vẫn phải chặc lưỡi "đẹp lạnh lùng". Không mong tuyết rơi trên Sapa, đồng bào trên ấy khổ lắm”.

Đã từng lên Sa Pa vào đúng mùa mưa rét, cảm nhận được sự khắc nghiệt của cái lạnh cắt da cắt thịt trên đó nên Hoài Anh (Ba Đình, HN) rất đồng cảm với đồng bào trên đó: “Cách đây vài năm mình cũng tới Sapa vào mùa đông, lúc đó không có tuyết rơi nhưng cũng lạnh lắm. Mình thì mặc áo trong , áo ngoài vẫn thấy rét ơi là rét. Vậy mà vào trong bản vẫn thấy có em nhỏ chỉ tầm 3 tuổi thôi nó vẫn cởi chuồng, mặc áo thì phong phanh. Nhìn thấy mà thương quá. Bà con vùng núi của mình vẫn còn nghèo và thiếu thốn quá. Vậy mà giờ lại có tuyết rơi thì lạnh lắm”.

Còn chị Lê Thúy, quê Lào Cai, đang làm việc ở Hà Nội, nghe tin quê nhà có tuyết mà quặn lòng. “Rét buốt thế này, thương mẹ, thương các em, các cháu ở nhà quá”.

Ngay cả những bạn trẻ mê “phượt”, ưa khám phá, khi nghe tin Sa Pa lại có tuyết rơi cũng không còn hứng thú: “Đẹp thật. Nhưng chúng ta chỉ đi ngắm 1, 2 ngày thì thấy nó đẹp nhưng nhìn những đứa trẻ dân tộc phong phanh co ro trong cái rét xót xa lắm bạn ơi. Hy vọng các bạn nào đi Sapa mùa này có thể đem cho mấy em vài tấm áo ấm”, một bạn trẻ chia sẻ.

“Không biết trên đó có bao nhiêu đồng bào mình đang chịu rét và đói! Tội nhất là người già và trẻ em. Cầu mong cho nhiệt độ tăng lên, mặt trời sưởi ấm, tuyết tan”, một bạn trẻ khác tiếp lời.

Hiện tượng tuyết rơi cũng xảy ra ở nhiều nơi vùng cao phía Bắc tại Lào Cai, gồm các xã Y Tý, huyện Bát Xát. Còn tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, hiện tượng tuyết rơi cũng tái diễn lần thứ 3, tính từ giữa tháng 12.2013 đến nay, tại các xã: Tả Lủng, Giàng Chu Phìn, Cán Chu Phìn, Thượng Phùng, Xín Cái, với lượng tuyết dày từ 5 - 7 cm. Nhiệt độ trong ngày thấp nhất ở các xã vùng cao này chỉ còn 1 - 2 độ C.

Du lịch, GO! tổng hợp

Tuyết rơi, đẹp nhưng xót!

Từ sáng ngày 19.2, rất nhiều du khách đã đổ xô về Sapa để chiêm ngưỡng vẻ đẹp lung linh trong tuyết trắng. Tuyết bắt đầu rơi lúc 2h, nhiệt độ xuống thấp ở mức -0,2 độ C và phủ trắng mọi vật từ khu vực điểm cao đèo Ô Quý Hồ (khoảng 2.000m) lan dần đến khu vực ngã ba Nhà máy nước (thị trấn Sa Pa, khoảng 1.600m).

Đây là lần đầu tiên tuyết rơi ở Sapa trong năm nay, tuyết khiến những cành đào Sapa đẹp lung linh trong tuyết trắng. Hiện tuyết rơi ngày càng mạnh và đã phủ một lớp 3-5 cm trên mặt đất hai bên mặt đường quốc lộ 4D Sa Pa - Lai Châu. Trong khi những du khách đổ xô lên Sapa để ngắm tuyết và hào hứng chụp ảnh... thì lại có một thục tế: Đằng sau vẻ đẹp của tuyết là sự đói khổ!

“Ở đâu cũng thế, những người nghèo là khổ nhất. Tuyết rơi lạnh thế này, đằng sau cái vẻ đẹp của nó thì nó cũng mang tới sự đói khổ. Hoa màu, gia súc thiệt hại. Cái lợi từ du lịch chỉ có tác dụng trên một số người, nhưng phần lớn những người nghèo thì thiệt hại nặng nhất”, một bạn trẻ chia sẻ.

Nhiệt độ giảm xuống âm 0,2 độ C vào sáng 19-2 khiến thị trấn Sapa có tuyết rơi với cường độ nhẹ, phủ lớp mỏng trên cây cối, nhà cửa. Một số vùng núi khác thuộc tỉnh Lào Cai như xã Y Tý (Bát Xát) - nơi nằm ở độ cao trên 2.000 m so với mặt nước biển cũng có mưa tuyết dày khoảng 5-10 cm. Hiện tuyết vẫn chưa tan hết.

Nghe tin Sa Pa có tuyết rơi, không còn sự hứng thú như những lần tuyết rơi trước, nhiều người trẻ bày tỏ sự xót xa, thương cảm với người dân Sa Pa khi hay tin có tuyết rơi.

Bạn Duy Khánh chia sẻ: “Đi leo Fansipan một lần đúng vào dịp tuyết rơi như thế này, tởn tới giờ. Ngày đầu tiên thì còn thích thú, đến tối thì lạnh không ngủ nổi, sáng hôm sau buốt cóng cả tay chân (mặc dù áo ấm khăn giày trang bị đầy đủ) đường trơn trượt leo rất nguy hiểm, cả đoàn đành bỏ cuộc khi đường lên đỉnh bị cây cối gãy đổ và tuyết chặn mất. Khi về xót nhất là thấy cảnh trâu bò chết dọc sườn núi, người dân đành đem xẻ thịt tại chỗ, như vậy là gần như mất trắng. Ảnh chụp đợt đó giờ nhìn lại vẫn phải chặc lưỡi "đẹp lạnh lùng". Không mong tuyết rơi trên Sapa, đồng bào trên ấy khổ lắm”.

Đã từng lên Sa Pa vào đúng mùa mưa rét, cảm nhận được sự khắc nghiệt của cái lạnh cắt da cắt thịt trên đó nên Hoài Anh (Ba Đình, HN) rất đồng cảm với đồng bào trên đó: “Cách đây vài năm mình cũng tới Sapa vào mùa đông, lúc đó không có tuyết rơi nhưng cũng lạnh lắm. Mình thì mặc áo trong , áo ngoài vẫn thấy rét ơi là rét. Vậy mà vào trong bản vẫn thấy có em nhỏ chỉ tầm 3 tuổi thôi nó vẫn cởi chuồng, mặc áo thì phong phanh. Nhìn thấy mà thương quá. Bà con vùng núi của mình vẫn còn nghèo và thiếu thốn quá. Vậy mà giờ lại có tuyết rơi thì lạnh lắm”.

Còn chị Lê Thúy, quê Lào Cai, đang làm việc ở Hà Nội, nghe tin quê nhà có tuyết mà quặn lòng. “Rét buốt thế này, thương mẹ, thương các em, các cháu ở nhà quá”.

Ngay cả những bạn trẻ mê “phượt”, ưa khám phá, khi nghe tin Sa Pa lại có tuyết rơi cũng không còn hứng thú: “Đẹp thật. Nhưng chúng ta chỉ đi ngắm 1, 2 ngày thì thấy nó đẹp nhưng nhìn những đứa trẻ dân tộc phong phanh co ro trong cái rét xót xa lắm bạn ơi. Hy vọng các bạn nào đi Sapa mùa này có thể đem cho mấy em vài tấm áo ấm”, một bạn trẻ chia sẻ.

“Không biết trên đó có bao nhiêu đồng bào mình đang chịu rét và đói! Tội nhất là người già và trẻ em. Cầu mong cho nhiệt độ tăng lên, mặt trời sưởi ấm, tuyết tan”, một bạn trẻ khác tiếp lời.

Hiện tượng tuyết rơi cũng xảy ra ở nhiều nơi vùng cao phía Bắc tại Lào Cai, gồm các xã Y Tý, huyện Bát Xát. Còn tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, hiện tượng tuyết rơi cũng tái diễn lần thứ 3, tính từ giữa tháng 12.2013 đến nay, tại các xã: Tả Lủng, Giàng Chu Phìn, Cán Chu Phìn, Thượng Phùng, Xín Cái, với lượng tuyết dày từ 5 - 7 cm. Nhiệt độ trong ngày thấp nhất ở các xã vùng cao này chỉ còn 1 - 2 độ C.

Du lịch, GO! tổng hợp
Đọc thêm..
(PNO) - Vùng đất võ Bình Định luôn rộn ràng mỗi dịp xuân về, bởi nơi đây còn lưu giữ rất nhiều lễ hội truyền thống mừng xuân, như hội chợ Gò (Tuy Phước), hội đua thuyền, bài chòi, hội Đống Đa (Tây Sơn)… Trong đó, trò chơi dân gian, độc đáo Cổ Nhơn là thú vui tao nhã của người dân Bình Định dịp đầu xuân năm mới.

Gốc tích thú chơi Cổ Nhơn

Chưa có tài liệu sử sách nào ghi lại nguồn gốc xuất xứ của trò chơi Cổ Nhơn, những người chơi hội Cổ Nhơn đều nói trò chơi này đã có từ lâu, truyền qua nhiều đời.

Theo nhà nghiên cứu Đặng Quý Dịch, trò chơi Cổ Nhơn xuất phát từ thời nhà Nguyễn, du nhập vào Bình Định. Qua thời gian, Cổ Nhơn ở Bình Định có nhiều thay đổi, phát triển và thành món ăn tinh thần của người dân nhiều vùng ở địa phương này. Trò chơi có một ban tổ chức, gọi là Hội xổ Cổ Nhơn. Hội này chịu trách nhiệm ra đề, thu tịch và sẽ chung tiền cho những người giải đáp chính xác. Tỷ lệ chiến thắng 1 đồng nhận 25 đồng.

Tịch của trò chơi này gồm 36 con vật, dùng để ghi số tiền mà người chơi mua. 36 con trong bảng Cổ Nhơn được chia thành 9 nhóm: Tứ trạng nguyên: cá trắng, ốc, ngỗng, công; Ngũ hổ tướng: trùn, cọp, heo, thỏ, trâu; Thất sinh lý: rồng bay, chó, ngựa, voi, mèo, chuột, ong; Nhị đạo sĩ: hạt, kỳ lân; Tứ mỹ nữ: bướm, hòn đá, én, cu; Tứ hảo mạng: khỉ, ếch, quạ, rồng nằm; Tứ Hòa Thượng: rùa, gà, lươn, cá đỏ; Ngũ khất thực: tôm, rắn, nhện, nai, dê; Nhất ni cô: con yêu.

Mỗi ngày 2 - 3 lần, BTC sẽ chọn một trong 36 con trong bộ tịch bỏ vào hộp gỗ niêm phong làm đề. Hộp gỗ chứa đề sẽ được trên lên cây nêu cao khoảng 5m ở các trụ sở thôn, xã… Dưới cây nêu có lực lượng canh gác, giữ đề không bị lộ.

Sau khi treo đề, để người chơi luận Cổ Nhơn, BTC sẽ đưa ra đề (câu thai) gồm 4 câu thơ lục bát ứng với đề. Phần luận câu thai để tìm ra đáp án chính là phần sôi nổi nhất của ngày hội Cổ Nhơn. Mỗi câu thai đều là danh lam thắng cảnh, nội dung văn học, sách sử, điển tích điển cố… người chơi dựa vào ý nghĩa của mỗi câu thai để đàm luận. Cổ Nhơn ý vị ở chỗ, người chơi phải thực giỏi, luận đề hay… tuy nhiên chưa hẳn người giỏi chữ nghĩa, luận đề hay là người thắng. Người đoán bừa chưa chắc đã thua. Bởi người ta thường nói, văn chương chữ nghĩa có nhiều lời giải, luận bàn khác nhau, và mỗi người đều tìm ra cái lý của mình.

Khi thắng được câu đề, không quan trọng ở khoản tiền ăn thua mà người chơi hãnh diện bởi khả năng, suy luận của bản thân.

Cổ Nhơn nơi đất Võ

Ở Bình Định, hội Cổ Nhơn nức tiếng nhất đất Hoài Nhơn. Mỗi dịp xuân, khắp thôn, xã ở huyện Hoài Nhơn rộn ràng, háo hức chờ hội Cổ Nhơn. 30 tết (tháng thiếu 29), Cổ Nhơn khai hội và có thể kéo dài đến mồng 5, mồng 6 tùy nơi. Thế nhưng từ độ 25 tháng Chạp, ở Hoài Nhơn đã sôi nổi, bàn luận, chờ đợi một mùa Cổ Nhơn đến. Trong gần 10 năm trở lại đây, Cổ Nhơn trên đất Hoài Nhơn lan tỏa sâu rộng, đến mọi ngóc ngách ở các vùng quê trong huyện. Cổ Nhơn là dịp để những người con xa quê hội ngộ, ngồi bên tách cà phê luận đàm câu thai, tìm lời giải đáp.

Hội Cổ Nhơn ở Hoài Nhơn chơi theo cách thức truyền thống, bộ tịch 36 con và câu thai là 4 câu thơ lục bát. Mỗi ngày hai lần vào lúc 6 giờ sáng và 14 giờ chiều, BTC sẽ chọn môt trong số 36 con trong bộ tịch treo lên cây nêu. Đến 12 giờ trưa và 18 giờ tối, Cổ Nhơn xổ đề trong niềm hân hoan, chờ đợi của hàng trăm người chơi.

Riêng ở TX An Nhơn (Bình Định), hội Cổ Nhơn biến thể hơn. Cách chơi không thay đổi, nhưng sẽ có sự thay đổi trong bộ tịch và câu thai. Bộ tịch ở đây không là 36 con mà 40 con, 4 con được thần. Câu thai không là 4 câu thơ lục bát mà được rút lại thành hai câu thơ lục bát.

Ông Nguyễn Đức Minh (64 tuổi), người 30 năm ghi Cổ Nhơn (P. Bình Định, TX An Nhơn), nói: “Cổ truyền bộ tịch Cổ Nhơn chỉ 36 con, về sau BTC thêm vào bộ thần thành 40 con. Một trò chơi dân gian có từ rất lâu, Cổ Nhơn thiên về chơi xuân, giải trí hơn thắng thua. Người thua cũng vui mà người thắng lại càng vui. Ghi Cổ Nhơn được sự cho phép của chính quyền, BTC Cổ Nhơn hàng năm tổ chức để mọi người vui xuân”.

Thực ra Cổ Nhơn khó cũng khó, mà dễ cũng thực dễ… Người chơi nhìn vào từng câu thơ để giải nghĩa. Ví dụ: “Nhớ ngày kỉ niệm Đống Đa/ Chiến công oanh liệt, vẻ vang nước nhà” là một câu thai được ra trong ngày kỉ niệm chiến thắng Đống Đa (4 -5/1 âm lịch). Câu thai này tương ứng với đáp án là “Thần Tài”. Bởi kỷ niệm Đống Đa là để tướng nhớ vua Quang Trung và các Văn thần Võ tướng tài giỏi của nhà Tây Sơn. Vua Quang Trung, vị vua tài giỏi, xuất chúng… người giỏi xuất chúng được mệnh danh là thần, và có tài nên đáp án ứng với “Thần Tài””.

Cổ Nhơn ở An Nhơn được tổ chức ở 3 địa điểm, P. Bình Định, xã Nhơn Phong và Nhơn Hạnh. Mỗi ngày, Cổ Nhơn xổ hội 3 lần tương ứng với 3 lần chơi. “Cổ Nhơn chỉ còn tổ chức ngày cuối cùng (6.1 AL), nhưng chúng tôi cứ thấy tiếc. Phải chờ một năm nữa mới lại được xem hội Cổ Nhơn quê mình. Đi xa, nhớ tết nhớ nhà và nhớ cả câu đề Cổ Nhơn…”, anh Phạm Mười, người chơi Cổ Nhơn chia sẻ.

Theo Dịu Dịu (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Hội Cổ Nhơn - thú chơi tao nhã ngày xuân

(PNO) - Vùng đất võ Bình Định luôn rộn ràng mỗi dịp xuân về, bởi nơi đây còn lưu giữ rất nhiều lễ hội truyền thống mừng xuân, như hội chợ Gò (Tuy Phước), hội đua thuyền, bài chòi, hội Đống Đa (Tây Sơn)… Trong đó, trò chơi dân gian, độc đáo Cổ Nhơn là thú vui tao nhã của người dân Bình Định dịp đầu xuân năm mới.

Gốc tích thú chơi Cổ Nhơn

Chưa có tài liệu sử sách nào ghi lại nguồn gốc xuất xứ của trò chơi Cổ Nhơn, những người chơi hội Cổ Nhơn đều nói trò chơi này đã có từ lâu, truyền qua nhiều đời.

Theo nhà nghiên cứu Đặng Quý Dịch, trò chơi Cổ Nhơn xuất phát từ thời nhà Nguyễn, du nhập vào Bình Định. Qua thời gian, Cổ Nhơn ở Bình Định có nhiều thay đổi, phát triển và thành món ăn tinh thần của người dân nhiều vùng ở địa phương này. Trò chơi có một ban tổ chức, gọi là Hội xổ Cổ Nhơn. Hội này chịu trách nhiệm ra đề, thu tịch và sẽ chung tiền cho những người giải đáp chính xác. Tỷ lệ chiến thắng 1 đồng nhận 25 đồng.

Tịch của trò chơi này gồm 36 con vật, dùng để ghi số tiền mà người chơi mua. 36 con trong bảng Cổ Nhơn được chia thành 9 nhóm: Tứ trạng nguyên: cá trắng, ốc, ngỗng, công; Ngũ hổ tướng: trùn, cọp, heo, thỏ, trâu; Thất sinh lý: rồng bay, chó, ngựa, voi, mèo, chuột, ong; Nhị đạo sĩ: hạt, kỳ lân; Tứ mỹ nữ: bướm, hòn đá, én, cu; Tứ hảo mạng: khỉ, ếch, quạ, rồng nằm; Tứ Hòa Thượng: rùa, gà, lươn, cá đỏ; Ngũ khất thực: tôm, rắn, nhện, nai, dê; Nhất ni cô: con yêu.

Mỗi ngày 2 - 3 lần, BTC sẽ chọn một trong 36 con trong bộ tịch bỏ vào hộp gỗ niêm phong làm đề. Hộp gỗ chứa đề sẽ được trên lên cây nêu cao khoảng 5m ở các trụ sở thôn, xã… Dưới cây nêu có lực lượng canh gác, giữ đề không bị lộ.

Sau khi treo đề, để người chơi luận Cổ Nhơn, BTC sẽ đưa ra đề (câu thai) gồm 4 câu thơ lục bát ứng với đề. Phần luận câu thai để tìm ra đáp án chính là phần sôi nổi nhất của ngày hội Cổ Nhơn. Mỗi câu thai đều là danh lam thắng cảnh, nội dung văn học, sách sử, điển tích điển cố… người chơi dựa vào ý nghĩa của mỗi câu thai để đàm luận. Cổ Nhơn ý vị ở chỗ, người chơi phải thực giỏi, luận đề hay… tuy nhiên chưa hẳn người giỏi chữ nghĩa, luận đề hay là người thắng. Người đoán bừa chưa chắc đã thua. Bởi người ta thường nói, văn chương chữ nghĩa có nhiều lời giải, luận bàn khác nhau, và mỗi người đều tìm ra cái lý của mình.

Khi thắng được câu đề, không quan trọng ở khoản tiền ăn thua mà người chơi hãnh diện bởi khả năng, suy luận của bản thân.

Cổ Nhơn nơi đất Võ

Ở Bình Định, hội Cổ Nhơn nức tiếng nhất đất Hoài Nhơn. Mỗi dịp xuân, khắp thôn, xã ở huyện Hoài Nhơn rộn ràng, háo hức chờ hội Cổ Nhơn. 30 tết (tháng thiếu 29), Cổ Nhơn khai hội và có thể kéo dài đến mồng 5, mồng 6 tùy nơi. Thế nhưng từ độ 25 tháng Chạp, ở Hoài Nhơn đã sôi nổi, bàn luận, chờ đợi một mùa Cổ Nhơn đến. Trong gần 10 năm trở lại đây, Cổ Nhơn trên đất Hoài Nhơn lan tỏa sâu rộng, đến mọi ngóc ngách ở các vùng quê trong huyện. Cổ Nhơn là dịp để những người con xa quê hội ngộ, ngồi bên tách cà phê luận đàm câu thai, tìm lời giải đáp.

Hội Cổ Nhơn ở Hoài Nhơn chơi theo cách thức truyền thống, bộ tịch 36 con và câu thai là 4 câu thơ lục bát. Mỗi ngày hai lần vào lúc 6 giờ sáng và 14 giờ chiều, BTC sẽ chọn môt trong số 36 con trong bộ tịch treo lên cây nêu. Đến 12 giờ trưa và 18 giờ tối, Cổ Nhơn xổ đề trong niềm hân hoan, chờ đợi của hàng trăm người chơi.

Riêng ở TX An Nhơn (Bình Định), hội Cổ Nhơn biến thể hơn. Cách chơi không thay đổi, nhưng sẽ có sự thay đổi trong bộ tịch và câu thai. Bộ tịch ở đây không là 36 con mà 40 con, 4 con được thần. Câu thai không là 4 câu thơ lục bát mà được rút lại thành hai câu thơ lục bát.

Ông Nguyễn Đức Minh (64 tuổi), người 30 năm ghi Cổ Nhơn (P. Bình Định, TX An Nhơn), nói: “Cổ truyền bộ tịch Cổ Nhơn chỉ 36 con, về sau BTC thêm vào bộ thần thành 40 con. Một trò chơi dân gian có từ rất lâu, Cổ Nhơn thiên về chơi xuân, giải trí hơn thắng thua. Người thua cũng vui mà người thắng lại càng vui. Ghi Cổ Nhơn được sự cho phép của chính quyền, BTC Cổ Nhơn hàng năm tổ chức để mọi người vui xuân”.

Thực ra Cổ Nhơn khó cũng khó, mà dễ cũng thực dễ… Người chơi nhìn vào từng câu thơ để giải nghĩa. Ví dụ: “Nhớ ngày kỉ niệm Đống Đa/ Chiến công oanh liệt, vẻ vang nước nhà” là một câu thai được ra trong ngày kỉ niệm chiến thắng Đống Đa (4 -5/1 âm lịch). Câu thai này tương ứng với đáp án là “Thần Tài”. Bởi kỷ niệm Đống Đa là để tướng nhớ vua Quang Trung và các Văn thần Võ tướng tài giỏi của nhà Tây Sơn. Vua Quang Trung, vị vua tài giỏi, xuất chúng… người giỏi xuất chúng được mệnh danh là thần, và có tài nên đáp án ứng với “Thần Tài””.

Cổ Nhơn ở An Nhơn được tổ chức ở 3 địa điểm, P. Bình Định, xã Nhơn Phong và Nhơn Hạnh. Mỗi ngày, Cổ Nhơn xổ hội 3 lần tương ứng với 3 lần chơi. “Cổ Nhơn chỉ còn tổ chức ngày cuối cùng (6.1 AL), nhưng chúng tôi cứ thấy tiếc. Phải chờ một năm nữa mới lại được xem hội Cổ Nhơn quê mình. Đi xa, nhớ tết nhớ nhà và nhớ cả câu đề Cổ Nhơn…”, anh Phạm Mười, người chơi Cổ Nhơn chia sẻ.

Theo Dịu Dịu (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Lục Ngạn, vùng đất mang nhiều dấu ấn văn hóa của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử. Nói tới Lục Ngạn, mọi người đều biết đến đặc sản vải thiều Lục đã nổi tiếng trong và ngoài nước và nhiều loại nông sản khác cũng nổi tiếng không kém như hồng không hạt, mật ong rừng và nhiều đặc sản khác nữa của huyện.

Nhưng, vùng đất Lục Ngạn còn một đặc sản vô cùng ý nghĩa mà bất cứ ai đã từng đến nơi đây cũng không thể quên mang về làm quà cho người thân, đó chính là đặc sản rượu Kiên Thành. Rượu Kiên Thành không được nhiều người biết tới như rượu Vân (Việt Yên), rượu Kim Sơn (Ninh Bình) và nhiều loại rượu khác nữa, nhưng ai đã một lần được uống rượu Kiên Thành chắc không bao giờ quên được thứ rượu mang hương vị của núi rừng Lục Ngạn.

Kiên Thành là một xã vùng cao của huyện Lục Ngạn. Từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 31 tới thị trấn Chũ (trung tâm - huyện lỵ của Lục Ngạn) chừng 40km. Từ thị trấn Chũ theo đường đi Kiên Lao 7km là đến trung tâm của xã nằm ở phía bắc của huyện lỵ Lục Ngạn. Phía bắc giáp xã Sơn Hải, nam giáp xã Trù Hựu, đông giáp xã Thanh Hải và phía tây giáp xã Kiên Lao. Trước cách mạng tháng Tám 1945 miền đất này thuộc tổng Kiên Lao, huyện Lục Ngạn. Sau cách mạng tháng Tám - 1945 thuộc xã Kiên Lao, cho tới tháng 7 – 1958 chia xã Kiên Lao thành hai xã Kiên Lao và Kiên Thành. Nghề nấu rượu ở đây không biết đã có từ bao giờ nhưng hương vị của nó từ lâu nay vẫn mang hương vị của núi rừng nơi đây.

Trải qua bao năm tháng người Nùng nơi đây vẫn giữ được bí quyết tạo nên hương vị của thứ rượu men lá đậm đà hương vị núi rừng. Men rượu Kiên Thành được làm từ nhiều thứ lá và rễ cây được lấy từ trên núi về  vò lấy nước ủ men. Theo những người nấu rượu lâu năm trong vùng nói về bí quyết của việc làm men thì để làm được loại men ngon thì phải lấy được cây trăm rễ một loại cây trên rừng về ngâm ủ rồi mới làm thành men. Khi đã làm được men thì mới tới công đoạn chọn gạo nấu cơm rượu và ủ men rượu.

Loại gạo được chọn nấu rượu  phải là loại gạo bao thai hồng không được xay trắng làm mất lớp gạo nức bên ngoài mà chỉ xay cho hết vỏ chấu được nấu thành cơm nấu cơm rượu cũng là một nghệ thuật. Cơm phải được nấu bằng củi chứ không nấu bằng than hay bếp gas và cơm nấu phải vừa chín tới không được cứng cũng không được quá nát. Cơm nấu xong để nguội  rồi mới trộn với men đã được xay nhỏ.

Sau đó hỗn hợp trên sẽ được đem vào các chum vại sành, sứ ủ khoảng ba, bốn ngày cho đến khi ngấu men thì mới đổ nước vào thời gian ngâm nước khoảng hai, ba  ngày rồi mới đem ra chưng cất thành rượu.

Nấu rượu cũng là một nghệ thuật không phải nấu sao cũng được. Người Nùng ở Kiên Thành vẫn duy trì kiểu nấu rượu truyền thống của mình đó là kiểu nấu “ba ba”. Vật dụng để nấu ruợu cũng đơn giản, đó là một nồi bằng đồng hoặc nhôm, một chõ nấu rượu một chiếc chảo bằng gang hoặc nhôm đều được, một mảnh gỗ đục hình con ba ba một ống nứa và một chiếc chum hoặc can để đựng lấy rượu chẩy ra.

Sau khi cái rượu ngâm nước đã ngấu kỹ người nấu rượu cho vào nồi rồi đặt chiếc chõ trong đó đã có sẵn mảnh gỗ đục hình con ba ba vào rồi đặt lên đó chiếc chảo sau đó dùng hỗn hợp cám hoặc do bếp đắp vào các khe hở sao cho hơi nước không thoát ra ngoài được, đổ nước lạnh vào chảo trên cùng rồi đun nhỏ lửa cho tới khi  nồi cái rượu sôi bốc hơi nên gặp chảo nước lạnh sẽ ngưng tụ thành giọt nuớc và rơi vào mảnh gỗ đục hình ba ba và chảy ra ngoài theo đường ống.

Mỗi khi thấy nước trên chảo nóng phải thay nước đó bằng nước khác. Cứ như vậy cho tới khi nào người nấu rượu lấy đủ số lượng rượu tương ứng với số gạo thì thôi. Thông thường thì một kg gạo tương ứng với 1 lít ruợu. Cứ mỗi khi đến mùa cưới tức là khoảng tháng 8 tới cuối năm âm lịch thì đó là mùa nấu rượu được nhiều nhất.

Ngày trước người Nùng nơi đây dùng nước suối để nấu rượu tuy nhiên do ảnh hưởng của khí hậu ô nhiễm nên hiện nay không dùng nước suối mà dùng nước giếng khoan để nấu rượu, nhưng kỹ thuật và cách ngâm ủ men của người Nùng nơi đây vẫn mang hương vị truyền thống.

Ai đã một lần đến với Lục Ngạn và được thưởng thức đặc sản rượu Kiên Thành chắc sẽ không bao giờ quên được hương vị của rượu nơi đây chính vì hương vị đặc trưng của núi rừng Lục Ngạn  mà mỗi người tới đây đều mang về một vài lít rượu về làm quà cho người thân cũng là một cách quảng bá cho một đặc sản của núi rừng nơi đây.

Theo Vanhoabacgiang
Du lịch, GO!

Rượu men lá của người Nùng

Lục Ngạn, vùng đất mang nhiều dấu ấn văn hóa của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử. Nói tới Lục Ngạn, mọi người đều biết đến đặc sản vải thiều Lục đã nổi tiếng trong và ngoài nước và nhiều loại nông sản khác cũng nổi tiếng không kém như hồng không hạt, mật ong rừng và nhiều đặc sản khác nữa của huyện.

Nhưng, vùng đất Lục Ngạn còn một đặc sản vô cùng ý nghĩa mà bất cứ ai đã từng đến nơi đây cũng không thể quên mang về làm quà cho người thân, đó chính là đặc sản rượu Kiên Thành. Rượu Kiên Thành không được nhiều người biết tới như rượu Vân (Việt Yên), rượu Kim Sơn (Ninh Bình) và nhiều loại rượu khác nữa, nhưng ai đã một lần được uống rượu Kiên Thành chắc không bao giờ quên được thứ rượu mang hương vị của núi rừng Lục Ngạn.

Kiên Thành là một xã vùng cao của huyện Lục Ngạn. Từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 31 tới thị trấn Chũ (trung tâm - huyện lỵ của Lục Ngạn) chừng 40km. Từ thị trấn Chũ theo đường đi Kiên Lao 7km là đến trung tâm của xã nằm ở phía bắc của huyện lỵ Lục Ngạn. Phía bắc giáp xã Sơn Hải, nam giáp xã Trù Hựu, đông giáp xã Thanh Hải và phía tây giáp xã Kiên Lao. Trước cách mạng tháng Tám 1945 miền đất này thuộc tổng Kiên Lao, huyện Lục Ngạn. Sau cách mạng tháng Tám - 1945 thuộc xã Kiên Lao, cho tới tháng 7 – 1958 chia xã Kiên Lao thành hai xã Kiên Lao và Kiên Thành. Nghề nấu rượu ở đây không biết đã có từ bao giờ nhưng hương vị của nó từ lâu nay vẫn mang hương vị của núi rừng nơi đây.

Trải qua bao năm tháng người Nùng nơi đây vẫn giữ được bí quyết tạo nên hương vị của thứ rượu men lá đậm đà hương vị núi rừng. Men rượu Kiên Thành được làm từ nhiều thứ lá và rễ cây được lấy từ trên núi về  vò lấy nước ủ men. Theo những người nấu rượu lâu năm trong vùng nói về bí quyết của việc làm men thì để làm được loại men ngon thì phải lấy được cây trăm rễ một loại cây trên rừng về ngâm ủ rồi mới làm thành men. Khi đã làm được men thì mới tới công đoạn chọn gạo nấu cơm rượu và ủ men rượu.

Loại gạo được chọn nấu rượu  phải là loại gạo bao thai hồng không được xay trắng làm mất lớp gạo nức bên ngoài mà chỉ xay cho hết vỏ chấu được nấu thành cơm nấu cơm rượu cũng là một nghệ thuật. Cơm phải được nấu bằng củi chứ không nấu bằng than hay bếp gas và cơm nấu phải vừa chín tới không được cứng cũng không được quá nát. Cơm nấu xong để nguội  rồi mới trộn với men đã được xay nhỏ.

Sau đó hỗn hợp trên sẽ được đem vào các chum vại sành, sứ ủ khoảng ba, bốn ngày cho đến khi ngấu men thì mới đổ nước vào thời gian ngâm nước khoảng hai, ba  ngày rồi mới đem ra chưng cất thành rượu.

Nấu rượu cũng là một nghệ thuật không phải nấu sao cũng được. Người Nùng ở Kiên Thành vẫn duy trì kiểu nấu rượu truyền thống của mình đó là kiểu nấu “ba ba”. Vật dụng để nấu ruợu cũng đơn giản, đó là một nồi bằng đồng hoặc nhôm, một chõ nấu rượu một chiếc chảo bằng gang hoặc nhôm đều được, một mảnh gỗ đục hình con ba ba một ống nứa và một chiếc chum hoặc can để đựng lấy rượu chẩy ra.

Sau khi cái rượu ngâm nước đã ngấu kỹ người nấu rượu cho vào nồi rồi đặt chiếc chõ trong đó đã có sẵn mảnh gỗ đục hình con ba ba vào rồi đặt lên đó chiếc chảo sau đó dùng hỗn hợp cám hoặc do bếp đắp vào các khe hở sao cho hơi nước không thoát ra ngoài được, đổ nước lạnh vào chảo trên cùng rồi đun nhỏ lửa cho tới khi  nồi cái rượu sôi bốc hơi nên gặp chảo nước lạnh sẽ ngưng tụ thành giọt nuớc và rơi vào mảnh gỗ đục hình ba ba và chảy ra ngoài theo đường ống.

Mỗi khi thấy nước trên chảo nóng phải thay nước đó bằng nước khác. Cứ như vậy cho tới khi nào người nấu rượu lấy đủ số lượng rượu tương ứng với số gạo thì thôi. Thông thường thì một kg gạo tương ứng với 1 lít ruợu. Cứ mỗi khi đến mùa cưới tức là khoảng tháng 8 tới cuối năm âm lịch thì đó là mùa nấu rượu được nhiều nhất.

Ngày trước người Nùng nơi đây dùng nước suối để nấu rượu tuy nhiên do ảnh hưởng của khí hậu ô nhiễm nên hiện nay không dùng nước suối mà dùng nước giếng khoan để nấu rượu, nhưng kỹ thuật và cách ngâm ủ men của người Nùng nơi đây vẫn mang hương vị truyền thống.

Ai đã một lần đến với Lục Ngạn và được thưởng thức đặc sản rượu Kiên Thành chắc sẽ không bao giờ quên được hương vị của rượu nơi đây chính vì hương vị đặc trưng của núi rừng Lục Ngạn  mà mỗi người tới đây đều mang về một vài lít rượu về làm quà cho người thân cũng là một cách quảng bá cho một đặc sản của núi rừng nơi đây.

Theo Vanhoabacgiang
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Trong mâm ngũ quả chưng trên bàn thờ gia tiên ngày tết của nhiều người dân cố cựu ở Biên Hòa, Vĩnh Cửu (tỉnh Đồng Nai), Tân Uyên, Dĩ An (tỉnh Bình Dương) ngoài thứ không thể thiếu là bưởi Tân Triều, còn có một loại trái cây rất được ưa chuộng là ngâu. Cho đến giờ, trong cả nước không ghi nhận được nơi đâu có loại trái này.

Ngâu gần như là đặc sản chỉ có ở vùng Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu). Trái ngâu chín tỏa một mùi thơm đặc trưng và để được lâu ngày không thua kém gì bưởi. Mùi thơm của ngâu trong mâm ngũ quả kết hợp với mùi bông vạn thọ tạo thành hương sắc độc đáo cho cái Tết Nguyên đán của một thời chưa xa lắm trên vùng đất Biên Hòa.

Trái gì lạ quá!

Bà Nguyễn Thị Trung Hiếu, 43 tuổi, nhà ở phường Quang Vinh (TP. Biên Hòa) chuyên nghề bỏ mối bánh kẹo, có chồng người xã Tân An (huyện Vĩnh Cửu) 4 năm nay cũng tham gia vào việc bán trái ngâu tết. Bà mua ngâu tại nhà vườn ở Tân An, dú khí đá rồi chở lên Biên Hòa bán ngay bên lề đường trước nhà mẹ ruột. Bà Trung Hiếu cho biết, ngâu năm nay chín sớm và bán rất được giá (40-45 ngàn đồng/kg, năm rồi chỉ 30-35 ngàn đồng/kg).

Là người bán ngâu kém thâm niên nhất, không ít lần phải nghe những nam nữ thanh niên đi chơi ngang qua nhìn đống ngâu chất bên đường, ngừng xe lại hỏi: “Trái gì lạ quá vậy? Và ăn làm sao?”… Ấy vậy, bà Trung Hiếu cũng có khá đông khách hàng là mối quen đặt mua mỗi người 10kg để ngâm rượu, còn lại là khách đến mua ngâu chín đập vỏ ăn tại chỗ. Với số vỏ bỏ lại, bà cân bán cho người sành rượu ngâu với giá trên 200 ngàn đồng/kg, tùy theo việc thu được nhiều ít.

Mấy năm bán ngâu mùa tết, bà Trung Hiếu có được một vị khách hàng rất đặc biệt với tuổi đời khoảng 70, mái tóc bạc phơ, mỗi ngày ông mua và ăn sống hết 3kg trái ngâu. Hôm nào không đi được, ông cho vợ đến mua và cho biết là ăn ngâu trị đau lưng, nhức mỏi tay chân rất công hiệu.Tôi cũng từng gặp ông Phước ”ruồi”, một thương lái lúa gạo ở Tân An, cho rằng ông khỏe mạnh là nhờ ăn trái ngâu và đã dứt được chứng đau bao tử đã giày vò ông nhiều năm.

Tôi đã quá tuổi lục tuần và cũng may là không dính mấy loại bệnh vừa nêu, mà lại rất thích ăn trái ngâu, kể cả ngâu còn sống nhớt nhớt có vị nhẫn nhẫn, hoặc trái ngâu nướng thơm phức mùi khoai lang lùi, nhưng mê nhất là uống rượu ngâu.
Cách chỗ bà Trung Hiếu bán ngâu chừng 100m, phía đầu phố đi bộ chợ đêm Biên Hùng có quán ngâu đã nổi tiếng đến vài mươi năm ỏ Biên Hòa với rượu ngâu pha sôđa đá, nặn tắc cùng chút xíu muối. Thứ cốc-tai ngâu này mà nhắm với món bò tả tơi, bù tọt chiên giòn... có thể nói là ngon thấu trời. Tôi đã từng đưa rất nhiều đồng nghiệp trong Nam ngoài Bắc đến quán này để thưởng thức những món ”lần đầu mới biết”, ai cũng khen và lần nào gặp lại nhau cũng còn nhắc.

Người có bí quyết ngâm rượu ngâu ngon không thua kém gì với các loại rượu ngoại danh tiếng, đến nỗi đem ra đãi nhiều dân nhậu khen nức nở là ông Phan Hùng, Bí thư Chi bộ ấp Bình Ý (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu), nguyên Trưởng đài Truyền thanh huyện. Suốt gần 30 năm công tác, gần như mỗi ngày ông đều đi ngang qua xã Tân An nên chỉ cần nhìn mấy hàng ngâu bên đường hoặc trong vườn nhà người quen là xác định trúng phóc ”bây giờ tháng mấy”.

Trái ngâu chín đập vỡ đôi.

Không những có kinh nghiệm ”xem ngâu thay lịch”, ông Phan Hùng còn biết cả vườn nhà ai có loại ngâu ngon nhất để chọn mua ngâm rượu. Theo ông, ngâu có đến mấy loại: ngâu sẻ: trái bằng nắm tay, vỏ mỏng, dẻo, ngon; ngâu trâu: trái bự hơn, vỏ dày và cứng. Ngon nhất và cũng hiếm nhất là ngâu giấy: vỏ mỏng, mềm, trái nhỏ và rất thơm.

Vỏ ngâu giấy chín vàng còn tươi đem ngâm cho ra loại rượu ngâu thượng hạng. Ông Phan Hùng còn cho biết, cách đây hơn 20 năm, thời ngành mía đường Vĩnh Cửu còn đang thịnh, đến mùa ngâu nhiều ông chủ lò đường mua ngâu giấy đem về bỏ vô chảo mật đường tạo ra một món ăn ”cực ngon” chỉ dùng đãi thượng khách.

Biết đâu nguồn cội

Về xuất xứ của cây ngâu cũng có nhiều luồng thông tin khác nhau. Tìm đến Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu), nơi duy nhất hiện nay có trồng loại cây này, qua sự giới thiệu của ông Tư Cò (Hồ Minh Quang, Chủ tịch Hội Nông dân xã), tôi gặp ông Lương Văn Năm có vợ là bà Lâm Thị Nữ  (Hai Nữ) ở nhà số 463, ấp Bình Chánh là người trồng ngâu nhiều nhất và lâu đời nhất ở đây.

Bà Hai Nữ cho biết, bà ngoại của bà là cụ Năm Tú (Nguyễn Thị Bảy, sinh năm 1894, mất năm 1987) là người đầu tiên trồng ngâu ở Đại An. Bà Hai Nữ năm nay 77 tuổi còn quả quyết là ”hồi nhỏ xíu tôi đã biết cây ngâu do ngoại tôi trồng rồi, nhưng hổng biết là trồng lúc nào và kiếm giống ở đâu. Cây ngâu đầu tiên có cả trăm năm tuổi đó cao hơn 30m đã bị đổ ngã năm 2004”.

Rượu ngâu.
Có một chuyện cũng rất lạ là những cây ngâu con phát sinh từ rễ cây ngâu cổ thụ này cho trái mỏng vỏ, thơm nồng nàn; còn cũng chính trái ngâu của cây này lấy hạt đem gieo ươm lại cho trái ngâu vỏ dày, cứng ngắc, ruột nhiều xơ và có vị hơi đăng đắng. Do đó dân buôn bán trái cây chuyên nghiệp thường ”bắt mối” trước những nhà vườn có ngâu ngon; trong số đó có tiếng nhất là vườn bà Hai Nữ, ông Tám Tiên, bà Hai Báu, bé Bảnh, Tư Thẳng...

Trước đây, tôi có biết đến bà Chín Thọ (tên đầy đủ là Lê Thị Thọ, nhà ở Đại An, đã mất cách đây vài năm) với nửa thế kỷ chuyên nghề mua bán trái cây theo thời vụ, biết một cách rành rẻ ngâu nhà nào ngon, dở, trúng thất ra sao. Vào mỗi mùa tết, bà thu gom đến vài thiên (mỗi thiên: 1.200 trái) ngâu loại ngon đem lên Biên Hòa bỏ mối cho các tiệm thuốc Bắc và bán cho khách hàng quen. Ngoài thương lái mua mão, đến mùa ngâu chín, các nhà xứ ở vùng Hố Nai, mấy quán nhậu đặc sản còn đưa xe về tận vườn chọn mua ngâu ngon đem về ngâm rượu.

“Am hiểu về ngâu đến như vậy, thế nhưng khi hỏi về nguồn gốc cây ngâu ở Đại An, ông Phan Hùng cũng như nhiều lão nông tri điền khác ở huyện Vĩnh Cửu đều nói một cách khá mơ hồ: Nghe đâu mấy ông cha ở nhà thờ đem giống ở đâu đó về trồng!”.
Gặp chủ vườn Trần Văn Thạch, một ”thổ địa” đất Đại An, có vợ chuyên mua bán trái cây nên ông chẳng những thông thạo mọi ngóc ngách địa bàn, mà còn được cập nhật thường xuyên về giá cả nông sản. Ông Thạch cho biết: ”Ngâu năm nay chín sớm, do thời tiết có một số trái ngâu bị bệnh thúi đầu, nhưng không nhiều lắm. Ngâu năm nay trúng, phần lớn ngâu thu hoạch được đều ngon và bán được giá.

Lần đầu ăn thử ngâu trong ngày tết.
”Nghề” ngâu này cực nhất là khâu thu hoạch, do hầu hết cây ngâu ở Đại An đã già cỗi và cao, trái ngâu lại mọc ở đầu cành nhánh có gai nhọn và dài nên rất khó bẻ. Trước đây, dân bẻ ngâu thiện chiến lắm một ngày leo bẻ cũng không tới một thiên trái. Nay số người bẻ ngâu giỏi này không còn nữa. Khỏang 3 năm trước, đến mùa kiếm không ra người bẻ ngâu, chủ vườn mướn được người bẻ thì bán ngâu trả tiền công bẻ tính ra không đủ sở hụi.
Hai mùa ngâu gần đây nhờ ngâu có giá, thương lái đến vườn mua mão thường đưa theo người bẻ. Dân bẻ ngâu trẻ dùng lồng bẻ từng trái, chứ không dùng sào tre đập, giật như lớp đàn anh trước đây, tuy thu hoạch có chậm hơn, nhưng bảo đảm cho trái ngâu không bị bể, dập”.

Chiều 29 tết rảo một vòng từ Thiện Tân (huyện Vĩnh Cửu) về Biên Hòa, tôi thấy bưởi, ngâu bày bán hai bên đường 768 khá nhiều. Hỏi giá, các điểm bán ngâu ở Bình Hòa, Bửu Long đều đòi 50 ngàn đồng/kg. Nghe tôi chê mắc, mấy bà bán ngâu liền nói: ”Về chợ Biên Hòa mua thử đi. Bữa nay họ bán một ký phải từ 62-65 ngàn đồng!”.
Mùng 6 tết vừa rồi, đến ấp Bình Ý tôi lại bất chợt nghe thoang thoảng mùi thơm của ngâu, khó lầm lẫn với bất cứ loại trái cây nào khác. Hỏi ra mới biết, ngoài Tân An, chỉ ở Bình Ý là có ngâu, nhưng chỉ còn một cây duy nhất trồng khoảng 20 năm ở vườn nhà ông Phó trưởng ban ấp Ngô Văn Dũng.

Theo Bùi Thuận (báo Đồng Nai)
Du lịch, GO!

Lao xao mùa ngâu chín

Trong mâm ngũ quả chưng trên bàn thờ gia tiên ngày tết của nhiều người dân cố cựu ở Biên Hòa, Vĩnh Cửu (tỉnh Đồng Nai), Tân Uyên, Dĩ An (tỉnh Bình Dương) ngoài thứ không thể thiếu là bưởi Tân Triều, còn có một loại trái cây rất được ưa chuộng là ngâu. Cho đến giờ, trong cả nước không ghi nhận được nơi đâu có loại trái này.

Ngâu gần như là đặc sản chỉ có ở vùng Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu). Trái ngâu chín tỏa một mùi thơm đặc trưng và để được lâu ngày không thua kém gì bưởi. Mùi thơm của ngâu trong mâm ngũ quả kết hợp với mùi bông vạn thọ tạo thành hương sắc độc đáo cho cái Tết Nguyên đán của một thời chưa xa lắm trên vùng đất Biên Hòa.

Trái gì lạ quá!

Bà Nguyễn Thị Trung Hiếu, 43 tuổi, nhà ở phường Quang Vinh (TP. Biên Hòa) chuyên nghề bỏ mối bánh kẹo, có chồng người xã Tân An (huyện Vĩnh Cửu) 4 năm nay cũng tham gia vào việc bán trái ngâu tết. Bà mua ngâu tại nhà vườn ở Tân An, dú khí đá rồi chở lên Biên Hòa bán ngay bên lề đường trước nhà mẹ ruột. Bà Trung Hiếu cho biết, ngâu năm nay chín sớm và bán rất được giá (40-45 ngàn đồng/kg, năm rồi chỉ 30-35 ngàn đồng/kg).

Là người bán ngâu kém thâm niên nhất, không ít lần phải nghe những nam nữ thanh niên đi chơi ngang qua nhìn đống ngâu chất bên đường, ngừng xe lại hỏi: “Trái gì lạ quá vậy? Và ăn làm sao?”… Ấy vậy, bà Trung Hiếu cũng có khá đông khách hàng là mối quen đặt mua mỗi người 10kg để ngâm rượu, còn lại là khách đến mua ngâu chín đập vỏ ăn tại chỗ. Với số vỏ bỏ lại, bà cân bán cho người sành rượu ngâu với giá trên 200 ngàn đồng/kg, tùy theo việc thu được nhiều ít.

Mấy năm bán ngâu mùa tết, bà Trung Hiếu có được một vị khách hàng rất đặc biệt với tuổi đời khoảng 70, mái tóc bạc phơ, mỗi ngày ông mua và ăn sống hết 3kg trái ngâu. Hôm nào không đi được, ông cho vợ đến mua và cho biết là ăn ngâu trị đau lưng, nhức mỏi tay chân rất công hiệu.Tôi cũng từng gặp ông Phước ”ruồi”, một thương lái lúa gạo ở Tân An, cho rằng ông khỏe mạnh là nhờ ăn trái ngâu và đã dứt được chứng đau bao tử đã giày vò ông nhiều năm.

Tôi đã quá tuổi lục tuần và cũng may là không dính mấy loại bệnh vừa nêu, mà lại rất thích ăn trái ngâu, kể cả ngâu còn sống nhớt nhớt có vị nhẫn nhẫn, hoặc trái ngâu nướng thơm phức mùi khoai lang lùi, nhưng mê nhất là uống rượu ngâu.
Cách chỗ bà Trung Hiếu bán ngâu chừng 100m, phía đầu phố đi bộ chợ đêm Biên Hùng có quán ngâu đã nổi tiếng đến vài mươi năm ỏ Biên Hòa với rượu ngâu pha sôđa đá, nặn tắc cùng chút xíu muối. Thứ cốc-tai ngâu này mà nhắm với món bò tả tơi, bù tọt chiên giòn... có thể nói là ngon thấu trời. Tôi đã từng đưa rất nhiều đồng nghiệp trong Nam ngoài Bắc đến quán này để thưởng thức những món ”lần đầu mới biết”, ai cũng khen và lần nào gặp lại nhau cũng còn nhắc.

Người có bí quyết ngâm rượu ngâu ngon không thua kém gì với các loại rượu ngoại danh tiếng, đến nỗi đem ra đãi nhiều dân nhậu khen nức nở là ông Phan Hùng, Bí thư Chi bộ ấp Bình Ý (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu), nguyên Trưởng đài Truyền thanh huyện. Suốt gần 30 năm công tác, gần như mỗi ngày ông đều đi ngang qua xã Tân An nên chỉ cần nhìn mấy hàng ngâu bên đường hoặc trong vườn nhà người quen là xác định trúng phóc ”bây giờ tháng mấy”.

Trái ngâu chín đập vỡ đôi.

Không những có kinh nghiệm ”xem ngâu thay lịch”, ông Phan Hùng còn biết cả vườn nhà ai có loại ngâu ngon nhất để chọn mua ngâm rượu. Theo ông, ngâu có đến mấy loại: ngâu sẻ: trái bằng nắm tay, vỏ mỏng, dẻo, ngon; ngâu trâu: trái bự hơn, vỏ dày và cứng. Ngon nhất và cũng hiếm nhất là ngâu giấy: vỏ mỏng, mềm, trái nhỏ và rất thơm.

Vỏ ngâu giấy chín vàng còn tươi đem ngâm cho ra loại rượu ngâu thượng hạng. Ông Phan Hùng còn cho biết, cách đây hơn 20 năm, thời ngành mía đường Vĩnh Cửu còn đang thịnh, đến mùa ngâu nhiều ông chủ lò đường mua ngâu giấy đem về bỏ vô chảo mật đường tạo ra một món ăn ”cực ngon” chỉ dùng đãi thượng khách.

Biết đâu nguồn cội

Về xuất xứ của cây ngâu cũng có nhiều luồng thông tin khác nhau. Tìm đến Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu), nơi duy nhất hiện nay có trồng loại cây này, qua sự giới thiệu của ông Tư Cò (Hồ Minh Quang, Chủ tịch Hội Nông dân xã), tôi gặp ông Lương Văn Năm có vợ là bà Lâm Thị Nữ  (Hai Nữ) ở nhà số 463, ấp Bình Chánh là người trồng ngâu nhiều nhất và lâu đời nhất ở đây.

Bà Hai Nữ cho biết, bà ngoại của bà là cụ Năm Tú (Nguyễn Thị Bảy, sinh năm 1894, mất năm 1987) là người đầu tiên trồng ngâu ở Đại An. Bà Hai Nữ năm nay 77 tuổi còn quả quyết là ”hồi nhỏ xíu tôi đã biết cây ngâu do ngoại tôi trồng rồi, nhưng hổng biết là trồng lúc nào và kiếm giống ở đâu. Cây ngâu đầu tiên có cả trăm năm tuổi đó cao hơn 30m đã bị đổ ngã năm 2004”.

Rượu ngâu.
Có một chuyện cũng rất lạ là những cây ngâu con phát sinh từ rễ cây ngâu cổ thụ này cho trái mỏng vỏ, thơm nồng nàn; còn cũng chính trái ngâu của cây này lấy hạt đem gieo ươm lại cho trái ngâu vỏ dày, cứng ngắc, ruột nhiều xơ và có vị hơi đăng đắng. Do đó dân buôn bán trái cây chuyên nghiệp thường ”bắt mối” trước những nhà vườn có ngâu ngon; trong số đó có tiếng nhất là vườn bà Hai Nữ, ông Tám Tiên, bà Hai Báu, bé Bảnh, Tư Thẳng...

Trước đây, tôi có biết đến bà Chín Thọ (tên đầy đủ là Lê Thị Thọ, nhà ở Đại An, đã mất cách đây vài năm) với nửa thế kỷ chuyên nghề mua bán trái cây theo thời vụ, biết một cách rành rẻ ngâu nhà nào ngon, dở, trúng thất ra sao. Vào mỗi mùa tết, bà thu gom đến vài thiên (mỗi thiên: 1.200 trái) ngâu loại ngon đem lên Biên Hòa bỏ mối cho các tiệm thuốc Bắc và bán cho khách hàng quen. Ngoài thương lái mua mão, đến mùa ngâu chín, các nhà xứ ở vùng Hố Nai, mấy quán nhậu đặc sản còn đưa xe về tận vườn chọn mua ngâu ngon đem về ngâm rượu.

“Am hiểu về ngâu đến như vậy, thế nhưng khi hỏi về nguồn gốc cây ngâu ở Đại An, ông Phan Hùng cũng như nhiều lão nông tri điền khác ở huyện Vĩnh Cửu đều nói một cách khá mơ hồ: Nghe đâu mấy ông cha ở nhà thờ đem giống ở đâu đó về trồng!”.
Gặp chủ vườn Trần Văn Thạch, một ”thổ địa” đất Đại An, có vợ chuyên mua bán trái cây nên ông chẳng những thông thạo mọi ngóc ngách địa bàn, mà còn được cập nhật thường xuyên về giá cả nông sản. Ông Thạch cho biết: ”Ngâu năm nay chín sớm, do thời tiết có một số trái ngâu bị bệnh thúi đầu, nhưng không nhiều lắm. Ngâu năm nay trúng, phần lớn ngâu thu hoạch được đều ngon và bán được giá.

Lần đầu ăn thử ngâu trong ngày tết.
”Nghề” ngâu này cực nhất là khâu thu hoạch, do hầu hết cây ngâu ở Đại An đã già cỗi và cao, trái ngâu lại mọc ở đầu cành nhánh có gai nhọn và dài nên rất khó bẻ. Trước đây, dân bẻ ngâu thiện chiến lắm một ngày leo bẻ cũng không tới một thiên trái. Nay số người bẻ ngâu giỏi này không còn nữa. Khỏang 3 năm trước, đến mùa kiếm không ra người bẻ ngâu, chủ vườn mướn được người bẻ thì bán ngâu trả tiền công bẻ tính ra không đủ sở hụi.
Hai mùa ngâu gần đây nhờ ngâu có giá, thương lái đến vườn mua mão thường đưa theo người bẻ. Dân bẻ ngâu trẻ dùng lồng bẻ từng trái, chứ không dùng sào tre đập, giật như lớp đàn anh trước đây, tuy thu hoạch có chậm hơn, nhưng bảo đảm cho trái ngâu không bị bể, dập”.

Chiều 29 tết rảo một vòng từ Thiện Tân (huyện Vĩnh Cửu) về Biên Hòa, tôi thấy bưởi, ngâu bày bán hai bên đường 768 khá nhiều. Hỏi giá, các điểm bán ngâu ở Bình Hòa, Bửu Long đều đòi 50 ngàn đồng/kg. Nghe tôi chê mắc, mấy bà bán ngâu liền nói: ”Về chợ Biên Hòa mua thử đi. Bữa nay họ bán một ký phải từ 62-65 ngàn đồng!”.
Mùng 6 tết vừa rồi, đến ấp Bình Ý tôi lại bất chợt nghe thoang thoảng mùi thơm của ngâu, khó lầm lẫn với bất cứ loại trái cây nào khác. Hỏi ra mới biết, ngoài Tân An, chỉ ở Bình Ý là có ngâu, nhưng chỉ còn một cây duy nhất trồng khoảng 20 năm ở vườn nhà ông Phó trưởng ban ấp Ngô Văn Dũng.

Theo Bùi Thuận (báo Đồng Nai)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(BAVN) - Bảo tàng Đông Nam Á là bảo tàng đầu tiên về văn hóa các nước Đông Nam Á, một trong những điểm kết nối giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa các nước trong khu vực.

< Bảo tàng Đông Nam Á mang kiến trúc đặc trưng, nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Bảo tàng Đông Nam Á trực thuộc và nằm trong khuôn viên Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, là công trình chào mừng kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.


< Bộ Dao cau của Malaysia.

Tòa nhà bảo tàng có diện tích gần 500m2, được thiết kế theo hình cánh diều thể hiện văn hóa Đông Nam Á. Đây là thành quả của sự đầu tư từ Chính phủ Việt Nam và sự hợp tác của một số chuyên gia Pháp trong khuôn khổ dự án "Phát huy di sản bảo tàng Việt Nam" do Chính phủ Pháp tài trợ.

< Dao hộ thân của người dân Indonesia.

Để có một cái nhìn khái quát về văn hóa Đông Nam Á, trong 5 năm qua, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã thực hiện nhiều chuyến đi nghiên cứu, sưu tầm hiện vật và tư liệu ở các nước trong khu vực. Với hơn 2.000 hiện vật và gần 100 băng ghi âm, ghi hình, tư liệu quan trọng tạo dựng trưng bày để khách tham quan có một cái nhìn đầy đủ về văn hóa các nước Đông Nam Á.

< Bộ giá đựng trầu của người Malaysia.

Ngoài ra, Bảo tàng được thừa hưởng nhiều bộ sưu tập quí của các nhà khoa học ở các nước hiến tặng với gần 400 hiện vật và 130 ảnh, kèm theo là hệ thống thông tin bao gồm bản đồ, các chú thích, bài viết và phim video, được bố trí trong không gian rộng gần 500m2, ở tầng 1 của tòa nhà 4 tầng.

< Âu của người Campuchia.

< Sách lá cọ của người Lào.

< Rối bóng của Indonesia.

Việc trưng bày được tổ chức theo phong cách cách hiện đại, mang tính khoa học và mỹ thuật cao thông qua 5 chủ đề chính: đồ vải, đời sống hàng ngày, đời sống xã hội, nghệ thuật biểu diễn và tôn giáo. Nhiều yếu tố văn hóa của các cư dân Đông Nam Á được thể hiện, gợi mở về một Đông Nam Á đa dạng, thống nhất trong văn hóa và lối sống.

< Bộ đồ của các thầy cúng Malaysia.

< Đầu tượng phật được làm bằng gỗ, sơn mài mạ vàng ở Myanmar.

Khách tham quan bảo tàng có thể tìm hiểu sự đa dạng của văn hóa các nước Đông Nam Á. Chẳng hạn như bộ sưu tập trưng bày rối của các nước Indonesia và Myanmar có nhiều đặc điểm tương đồng với rối nước Việt Nam. Hay như các hiện vật trưng bày về đạo Phật các nước Thái Lan, Lào, Camphuchia và Việt Nam thể hiện con đường truyền giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đến sự hình thành văn hóa các nước.

< Cuốn kinh Coran của Singapore.

< Du khách thích thú với tủ trưng bày những chiếc mũ truyền thống của các dân tộc Trung Quốc.

Bà Lê Thị Thanh (Đống Đa, Hà Nội) chia sẻ cảm xúc của mình khi đi thăm bảo tàng: “Thông qua việc tham quan, tìm hiểu các hiện vật trưng bày, tôi như được đi du lịch đến các nước Đông Nam Á. Tôi đặc biệt thích thú với bộ trang phục cô dâu của nước bạn Lào vì tính độc đáo của nó”.

< Bảo tàng Đông Nam Á hiện là nơi mỗi ngày thu hút rất đông các lượt khách tới tham quan.

Bảo tàng Đông Nam Á là một minh chứng sống động cho quan điểm, tầm nhìn cũng như quyết tâm của Việt Nam trong việc tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, hướng tới xây dựng cộng đồng ASEAN - ngôi nhà chung của các quốc gia Đông Nam Á.

Theo Thông Thiện - Tất Sơn (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!

Bảo tàng Đông Nam Á - Hà Nội

(BAVN) - Bảo tàng Đông Nam Á là bảo tàng đầu tiên về văn hóa các nước Đông Nam Á, một trong những điểm kết nối giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa các nước trong khu vực.

< Bảo tàng Đông Nam Á mang kiến trúc đặc trưng, nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Bảo tàng Đông Nam Á trực thuộc và nằm trong khuôn viên Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, là công trình chào mừng kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.


< Bộ Dao cau của Malaysia.

Tòa nhà bảo tàng có diện tích gần 500m2, được thiết kế theo hình cánh diều thể hiện văn hóa Đông Nam Á. Đây là thành quả của sự đầu tư từ Chính phủ Việt Nam và sự hợp tác của một số chuyên gia Pháp trong khuôn khổ dự án "Phát huy di sản bảo tàng Việt Nam" do Chính phủ Pháp tài trợ.

< Dao hộ thân của người dân Indonesia.

Để có một cái nhìn khái quát về văn hóa Đông Nam Á, trong 5 năm qua, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã thực hiện nhiều chuyến đi nghiên cứu, sưu tầm hiện vật và tư liệu ở các nước trong khu vực. Với hơn 2.000 hiện vật và gần 100 băng ghi âm, ghi hình, tư liệu quan trọng tạo dựng trưng bày để khách tham quan có một cái nhìn đầy đủ về văn hóa các nước Đông Nam Á.

< Bộ giá đựng trầu của người Malaysia.

Ngoài ra, Bảo tàng được thừa hưởng nhiều bộ sưu tập quí của các nhà khoa học ở các nước hiến tặng với gần 400 hiện vật và 130 ảnh, kèm theo là hệ thống thông tin bao gồm bản đồ, các chú thích, bài viết và phim video, được bố trí trong không gian rộng gần 500m2, ở tầng 1 của tòa nhà 4 tầng.

< Âu của người Campuchia.

< Sách lá cọ của người Lào.

< Rối bóng của Indonesia.

Việc trưng bày được tổ chức theo phong cách cách hiện đại, mang tính khoa học và mỹ thuật cao thông qua 5 chủ đề chính: đồ vải, đời sống hàng ngày, đời sống xã hội, nghệ thuật biểu diễn và tôn giáo. Nhiều yếu tố văn hóa của các cư dân Đông Nam Á được thể hiện, gợi mở về một Đông Nam Á đa dạng, thống nhất trong văn hóa và lối sống.

< Bộ đồ của các thầy cúng Malaysia.

< Đầu tượng phật được làm bằng gỗ, sơn mài mạ vàng ở Myanmar.

Khách tham quan bảo tàng có thể tìm hiểu sự đa dạng của văn hóa các nước Đông Nam Á. Chẳng hạn như bộ sưu tập trưng bày rối của các nước Indonesia và Myanmar có nhiều đặc điểm tương đồng với rối nước Việt Nam. Hay như các hiện vật trưng bày về đạo Phật các nước Thái Lan, Lào, Camphuchia và Việt Nam thể hiện con đường truyền giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đến sự hình thành văn hóa các nước.

< Cuốn kinh Coran của Singapore.

< Du khách thích thú với tủ trưng bày những chiếc mũ truyền thống của các dân tộc Trung Quốc.

Bà Lê Thị Thanh (Đống Đa, Hà Nội) chia sẻ cảm xúc của mình khi đi thăm bảo tàng: “Thông qua việc tham quan, tìm hiểu các hiện vật trưng bày, tôi như được đi du lịch đến các nước Đông Nam Á. Tôi đặc biệt thích thú với bộ trang phục cô dâu của nước bạn Lào vì tính độc đáo của nó”.

< Bảo tàng Đông Nam Á hiện là nơi mỗi ngày thu hút rất đông các lượt khách tới tham quan.

Bảo tàng Đông Nam Á là một minh chứng sống động cho quan điểm, tầm nhìn cũng như quyết tâm của Việt Nam trong việc tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, hướng tới xây dựng cộng đồng ASEAN - ngôi nhà chung của các quốc gia Đông Nam Á.

Theo Thông Thiện - Tất Sơn (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Nơi đây có những con người đến để thi gan cùng trời đất. Có những người, đã vùi lấp cả tuổi xuân để Pha Đin thêm xanh

< Trên vùng núi cao, có một khoảng trời mang tên Pha Din...

Truyền thuyết về một cuộc tranh giành

Sống lâu nhất ở đây là một người có khuôn mặt như chính cái tên của ông: Phạm Văn Dị. Để gặp được ông Dị, phải leo qua một đồi thông lên tít tận đỉnh trời chẳng khác nào một khu rừng già với những gốc đào rừng một người ôm. Ông Dị bảo rằng tôi là khách lạ đầu tiên lên đây kể từ dịp một khách Tây đi du lịch bị mất hết đồ đạc lên xin ngủ nhờ. Bất kể là ai ông đều quý như nhau bởi đơn giản là “thèm người để nói chuyện lắm”.

Quê Dị mãi tận Thái Bình. Từ nhỏ mặt đã bị dị tật nên bỏ xứ lên Điện Biên sinh sống. Dần dần ông được nhận vào làm ở ngành viễn thông. Hơn mười năm nay một mình ông lầm lũi lên đỉnh đèo làm bạn với mấy chiếc máy phát. Công việc nặng nhất của người đàn ông này là đóng bật cầu dao điện. Có lẽ chính sự buồn tẻ ấy đã biến ông thành một pho sử sống về đỉnh Pha Đin.

< Ông Dị.

“Thuở mới lên đây chỉ một mình nên sợ lắm. Đường sá đi lại không có. Người dân tộc đi rừng thấy tôi họ cứ trố mắt nhìn. Cũng là người Nhà nước hẳn hoi nhưng cuộc sống chẳng khác mấy so với người rừng. Hết việc làm lại lang thang vào các bản nằm rải rác ở lưng đèo tìm mấy cụ trưởng bản nghe kể chuyện về cái nơi mình sẽ gắn bó này”. Ông Dị bảo, đèo Pha Đin từng xảy ra những cuộc chiến.

Ông nghe dân bản địa kể rằng người Lai Châu cũ (nay là Điện Biên) và Sơn La từ xa xưa còn lưu truyền câu chuyện kể về cuộc bàn thảo tìm cách vạch định ranh giới của hai địa phương bằng một cuộc đua ngựa vượt dốc Pha Đin.

Người và ngựa của cả hai phía đều đồng thời xuất phát từ dốc đèo. Hai dũng sĩ và hai con tuấn mã đều có sức mạnh và ý chí như nhau nên khoảng cách mà họ đi được cho tới địa điểm gặp nhau trên đèo không chênh lệch bao nhiêu. Tuy vậy, phần ngựa Lai Châu phi nhanh hơn nên phần đèo thuộc về Lai Châu dài hơn một chút so với phía Sơn La.

Một truyền thuyết khác cũng kể lại rằng: Xưa trên đỉnh Phạ Đin có một nàng con gái xinh đẹp tuyệt trần. Nàng bị tranh chấp bởi hai lãnh chúa trong vùng. Một cuộc chiến diễn ra để tranh giành người đẹp, cuối cùng hai lãnh chúa đi về hai hướng và hết lương thực nên chọn đỉnh đèo làm mốc phân chia không bao giờ được xâm phạm lẫn nhau.

Chuyện xưa chỉ nghe kể nên “pho sử Dị” chẳng dám chắc. Nhưng có những chuyện ông dám chắc thì hẳn bất cứ ai nghe cũng thấy buồn. Ông dẫn tôi đi xa hơn lên phía đồi thông. Hai ngôi mộ liệt sĩ chưa biết tên được phát hiện trong một lần công nhân làm đường mấy năm trước. Cách đó chừng một cây về phía dốc đèo là tấm bia ghi lại một sự kiện lịch sử. Lễ tết ông lại lên nhang khói và trò chuyện với vong linh người đã khuất. “Và chẳng biết trong lớp đất đá này còn bao nhiêu người ngã xuống chưa được tìm thấy. Nếu họ lên trò chuyện với tôi cho đỡ buồn thì hay biết mấy”. Ông Dị nói xong rồi nhìn sang mấy tảng đá bên cạnh khiến tôi thấy lành lạnh ở sống lưng.

Nhà ông ở Điện Biên. Mỗi tháng được về nhà một ngày để thăm gia đình và chuẩn bị lương thực. Một lần về như thế ông phải cõng tất tần tật cho một tháng. Gạo, thịt, mỳ tôm lên chất vào tủ. Chỉ thỉnh thoảng mới cải thiện được bữa ăn tươi thì phải vào rừng hái rau hoặc xuống chân đèo mua của dân bản.

Lâu lắm gia đình hoặc cơ quan mới có người lên thăm. Phần vì bận rộn mưu sinh, phần nữa họ sợ con đèo dài đằng đẵng và độ dốc chẳng khác nào lên trời từ đỉnh đèo lên nơi ông sống. Thành thử bạn với ông là một con mèo. Chỉ có điều là con mèo ấy bao năm không lớn nổi vì thời tiết ở đây khắc nghiệt quá. Đào rừng cũng trốn rét đến cuối tháng Giêng mới bắt đầu hé nụ ra hoa.

Cuộc gặp gỡ người đàn bà kỳ lạ

Cuộc rượu thâu đêm với ông Dị trên đỉnh Pha Đin tôi được nghe kể về một người đàn bà kỳ lạ. Một người mà ông bảo: “Không sợ trời, không sợ đất chỉ sợ Pha Đin không giữ được màu xanh". Đó là một người phụ nữ 38 tuổi, xinh đẹp và có lối nói chuyện đâu ra đấy. “Tên Trần Thị Thủy, quê ở Hà Tĩnh. Lên đây vì tình yêu với Pha Đin”. Chị bắt đầu câu chuyện một cách gọn gàng như thế.

Tôi xin phép được gọi chị là người phụ nữ gan lỳ. Chẳng gan sao được khi nghe chị kể rằng hơn chục năm về trước đỉnh Pha Đin hoang vu này chỉ có một mình chị và…sên. Ngày đó Thủy còn là một cô gái đầy sức sống, có trong tay nhiều điều bất cứ người phụ nữ nào cũng phải mơ ước. Tuổi trẻ, sắc đẹp, tiền bạc, gia đình…

< Chị Thủy.

Quê chị ở Hà Tĩnh nhưng cả nhà chuyển ra TP Sơn La làm ăn. Đang yên vị ở một Cty kinh doanh thì đùng một cái Thủy báo tin cho gia đình là mình lên sống ở… đỉnh đèo.
Bà Điểm, mẹ chị nghe xong như muốn quỵ. Còn cậu em trai đang học đại học ở Hà Nội vội vàng nhảy xe về nằng nặc bắt gia đình đưa bà chị của mình đi xem bói thử có bị ma làm không. Nhưng đã quá muộn. Khi Thủy thông báo với gia đình thì chị đã hoàn tất thủ tục mua lại đất trên đỉnh đèo của một cán bộ về hưu.

Ngày Thủy lên, gia tài là một túp lều cỏ tranh và vài con bò thả rong làm vốn. Sương muối, rét cắt cộng với lũ sên dày như tấm rải ở các cánh rừng khiến đàn bò của chị chỉ làm bạn với chủ được vài tháng rồi rủ nhau chết sạch. Chưa hết, mấy lần cuốc nương xong chị ngủ lại lều.

“Có hai lý do để tôi đến với đỉnh Pha Đin. Thứ nhất, con đèo này chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, nơi ngã xuống của nhiều bộ đội. Tôi yêu hình ảnh người bộ đội. Bố tôi cũng là bộ đội nên tôi xem nơi đẻ ra hình ảnh “anh gánh chị thồ” trong thơ Tố Hữu hết sức thiêng liêng. Muốn làm một cái gì đó cho con đèo lịch sử. Thứ hai là vì tôi lãng mạn. Thích cuộc sống giữa ngàn mây hư hư thực thực này”.

< Những nấm mồ liệt sỹ được chị Thủy quy tập về.

Sáng ra hai bắp chân chi chít đám sên no máu không buồn nhả. Khóc chẳng ai nghe, la hét mãi cũng khản giọng. Đành quệt nước mắt, tẩm nước bọt xoa lũ sên xong phải chạy xuống chân đèo mua thuốc uống. Gặp ông chủ tịch xã Tỏa Tình (huyện Tuần Giáo, Điện Biên) khi ấy, chị còn được khuyên: “Mày về đi. Không thành công được đâu. Con gái có thì, mày sẽ chôn vùi hết ở cái nơi khỉ ho cò gáy ấy thôi con ạ”.

Chỉ có chị tin rằng đỉnh Pha Đin sẽ không bạc đãi với lòng thành. Và cái cách đối phó của Thủy với sên cũng lạ lắm. Lũ sên hút máu nên chị chuyển sang trồng cây với suy nghĩ  "chỉ có cây mới không bị sên cắn, mới chống chịu nổi với thời tiết khắc nghiệt ở đỉnh đèo”.

Thế mà thành công. Ban đầu là những cây ngắn ngày như ngô, sắn… Vừa giữ đất, vừa có tiền để tiếp tục giấc mơ. Khi ngô sắn đã đủ để duy trì cuộc sống, Thủy bắt đầu đi trồng thông. Một tay người phụ nữ ấy lật từng viên đá nhan nhản giữa rừng lau lách. Thỉnh thoảng Thủy còn nhặt được cả…vỏ đạn. Cây thông trồng trên đất đá đỉnh đèo mất gấp đôi thời gian bình thường để lớn. Đã có lúc chị nhìn cây thông còi cọc rồi rơi nước mắt thương cho thân gái. Nhưng hình ảnh người bộ đội, giấc mơ đỉnh Pha Đin lại thôi thúc vượt lên. Đất không phụ lòng người. Cây èo uột mãi rồi cũng lớn.

Trớ trêu khi cây thông vừa nhô lên khỏi những tảng đá thì một mối đe dọa khác lại ập đến. Cháy.
“Xung quanh đỉnh đèo chủ hầu hết là người Mông. Họ thích sống cao và đốt nương làm rẫy. Không ít lần đám thông của Thủy họa lây từ những lần đốt nương của đồng bào. Lại phải đi vận động, xin dân bản đừng phát nương cạnh đỉnh đèo…”.
Mảnh đất hoang sơ cứ thế xanh dần, đến lúc trong tay người phụ nữ này có vài chục ha rừng trồng thì mới ớ ra mình đã là…tỷ phú.

“Phải. Tôi có tiền tỷ. Nhưng với điều kiện là bán hết khu rừng đỉnh đèo này cho một người khác. Còn hiện trong túi chỉ có vài đồng bạc lẻ. Bao nhiêu tiền của làm ra tôi đều đổ hết vào đỉnh Pha Đin này rồi. Có cả những ông chủ nước ngoài muốn mua lại khu này với giá gần 3 tỷ đồng. Nhưng nói thật, tôi chẳng bao giờ bán mảnh đất đã lấy đi của tôi tất cả. Tình yêu, tuổi trẻ, sắc đẹp và rất nhiều tiền bạc”.

Truyền thuyết về đèo Pha Đin có một cuộc tranh giành giữa tỉnh Lai Châu cũ và Sơn La. Chẳng thể ngờ đến tận hôm nay cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt. Chẳng biết họ giành nhau khu đất tiền tỷ hay giành cô gái kỳ lạ tên Thủy. Chỉ biết rằng toàn bộ khu đất rừng rộng hơn 200 ha của Thủy một nửa thuộc Sơn La, một nửa thuộc Điện Biên. Mọi chuyện chưa rõ ràng, nhưng Thủy bảo với tôi rằng chị vẫn tiếp tục thực hiện giấc mơ. Giấc mơ về một Pha Đin không bê tông cốt thép. Giấc mơ biến đỉnh đèo thành một Sa Pa thứ hai. Tôi tỏ ý lo ngại về vấn đề kinh tế thời buổi bây giờ chỉ quyết tâm thì không đủ.

Đến lúc này chị mới “khai” rằng mình đã từng phải giấu mẹ mang mấy chỉ vàng của gia đình đi bán. “Khó khăn? Tất nhiên. Nhưng tôi không chấp nhận những sự cộng tác chỉ vì tiền. Tôi muốn tìm một địa chỉ có chung tình yêu Pha Đin với mình. Tôi đối với nơi này chỉ có một thứ duy nhất: Đó là tình yêu”. Với một người đã bỏ phí cả tuổi xuân và hạnh phúc ở nơi này thì tôi tin rằng những lời ấy chắc chắn xuất phát tận đáy lòng.

Thủy từng một lần thất bại trong tình yêu. Đó là khi gia đình anh chàng người yêu là một kỹ sư nông nghiệp chê nhà chị nghèo, là gia đình nông thôn. Nhưng chị cũng nói rằng chính vì được sinh ra ở nông thôn mới giúp chị đứng vững ở ngọn đèo khắc nghiệt này. Có lẽ đó cũng là một phần khiến người đàn bà có gia tài tiền tỷ này…sợ tiền. “Đồng tiền nhũng nhiễu ghê lắm. Tôi sợ nó và sợ luôn những người muốn hợp tác đầu tư. Sợ rằng một ngày họ sẽ vì lợi nhuận mà phá vỡ Pha Đin như tôi mơ ước”.

Chia tay tôi, Thủy rút từ đống giấy tờ cũ nát ra một bài thơ mà chị viết từ những đêm mòn mỏi một mình trong túp lều ở đỉnh đèo này. Chị còn nói sẽ viết tiểu thuyết. Tôi chợt nghĩ, riêng đời người đàn bà cũng đã là một cuốn tiểu thuyết quá hay rồi.

Theo Hoàng Sang – H.Anh (Vietnamnet)
Du lịch, GO!

2 dị nhân trên đỉnh đèo Pha Đin

Nơi đây có những con người đến để thi gan cùng trời đất. Có những người, đã vùi lấp cả tuổi xuân để Pha Đin thêm xanh

< Trên vùng núi cao, có một khoảng trời mang tên Pha Din...

Truyền thuyết về một cuộc tranh giành

Sống lâu nhất ở đây là một người có khuôn mặt như chính cái tên của ông: Phạm Văn Dị. Để gặp được ông Dị, phải leo qua một đồi thông lên tít tận đỉnh trời chẳng khác nào một khu rừng già với những gốc đào rừng một người ôm. Ông Dị bảo rằng tôi là khách lạ đầu tiên lên đây kể từ dịp một khách Tây đi du lịch bị mất hết đồ đạc lên xin ngủ nhờ. Bất kể là ai ông đều quý như nhau bởi đơn giản là “thèm người để nói chuyện lắm”.

Quê Dị mãi tận Thái Bình. Từ nhỏ mặt đã bị dị tật nên bỏ xứ lên Điện Biên sinh sống. Dần dần ông được nhận vào làm ở ngành viễn thông. Hơn mười năm nay một mình ông lầm lũi lên đỉnh đèo làm bạn với mấy chiếc máy phát. Công việc nặng nhất của người đàn ông này là đóng bật cầu dao điện. Có lẽ chính sự buồn tẻ ấy đã biến ông thành một pho sử sống về đỉnh Pha Đin.

< Ông Dị.

“Thuở mới lên đây chỉ một mình nên sợ lắm. Đường sá đi lại không có. Người dân tộc đi rừng thấy tôi họ cứ trố mắt nhìn. Cũng là người Nhà nước hẳn hoi nhưng cuộc sống chẳng khác mấy so với người rừng. Hết việc làm lại lang thang vào các bản nằm rải rác ở lưng đèo tìm mấy cụ trưởng bản nghe kể chuyện về cái nơi mình sẽ gắn bó này”. Ông Dị bảo, đèo Pha Đin từng xảy ra những cuộc chiến.

Ông nghe dân bản địa kể rằng người Lai Châu cũ (nay là Điện Biên) và Sơn La từ xa xưa còn lưu truyền câu chuyện kể về cuộc bàn thảo tìm cách vạch định ranh giới của hai địa phương bằng một cuộc đua ngựa vượt dốc Pha Đin.

Người và ngựa của cả hai phía đều đồng thời xuất phát từ dốc đèo. Hai dũng sĩ và hai con tuấn mã đều có sức mạnh và ý chí như nhau nên khoảng cách mà họ đi được cho tới địa điểm gặp nhau trên đèo không chênh lệch bao nhiêu. Tuy vậy, phần ngựa Lai Châu phi nhanh hơn nên phần đèo thuộc về Lai Châu dài hơn một chút so với phía Sơn La.

Một truyền thuyết khác cũng kể lại rằng: Xưa trên đỉnh Phạ Đin có một nàng con gái xinh đẹp tuyệt trần. Nàng bị tranh chấp bởi hai lãnh chúa trong vùng. Một cuộc chiến diễn ra để tranh giành người đẹp, cuối cùng hai lãnh chúa đi về hai hướng và hết lương thực nên chọn đỉnh đèo làm mốc phân chia không bao giờ được xâm phạm lẫn nhau.

Chuyện xưa chỉ nghe kể nên “pho sử Dị” chẳng dám chắc. Nhưng có những chuyện ông dám chắc thì hẳn bất cứ ai nghe cũng thấy buồn. Ông dẫn tôi đi xa hơn lên phía đồi thông. Hai ngôi mộ liệt sĩ chưa biết tên được phát hiện trong một lần công nhân làm đường mấy năm trước. Cách đó chừng một cây về phía dốc đèo là tấm bia ghi lại một sự kiện lịch sử. Lễ tết ông lại lên nhang khói và trò chuyện với vong linh người đã khuất. “Và chẳng biết trong lớp đất đá này còn bao nhiêu người ngã xuống chưa được tìm thấy. Nếu họ lên trò chuyện với tôi cho đỡ buồn thì hay biết mấy”. Ông Dị nói xong rồi nhìn sang mấy tảng đá bên cạnh khiến tôi thấy lành lạnh ở sống lưng.

Nhà ông ở Điện Biên. Mỗi tháng được về nhà một ngày để thăm gia đình và chuẩn bị lương thực. Một lần về như thế ông phải cõng tất tần tật cho một tháng. Gạo, thịt, mỳ tôm lên chất vào tủ. Chỉ thỉnh thoảng mới cải thiện được bữa ăn tươi thì phải vào rừng hái rau hoặc xuống chân đèo mua của dân bản.

Lâu lắm gia đình hoặc cơ quan mới có người lên thăm. Phần vì bận rộn mưu sinh, phần nữa họ sợ con đèo dài đằng đẵng và độ dốc chẳng khác nào lên trời từ đỉnh đèo lên nơi ông sống. Thành thử bạn với ông là một con mèo. Chỉ có điều là con mèo ấy bao năm không lớn nổi vì thời tiết ở đây khắc nghiệt quá. Đào rừng cũng trốn rét đến cuối tháng Giêng mới bắt đầu hé nụ ra hoa.

Cuộc gặp gỡ người đàn bà kỳ lạ

Cuộc rượu thâu đêm với ông Dị trên đỉnh Pha Đin tôi được nghe kể về một người đàn bà kỳ lạ. Một người mà ông bảo: “Không sợ trời, không sợ đất chỉ sợ Pha Đin không giữ được màu xanh". Đó là một người phụ nữ 38 tuổi, xinh đẹp và có lối nói chuyện đâu ra đấy. “Tên Trần Thị Thủy, quê ở Hà Tĩnh. Lên đây vì tình yêu với Pha Đin”. Chị bắt đầu câu chuyện một cách gọn gàng như thế.

Tôi xin phép được gọi chị là người phụ nữ gan lỳ. Chẳng gan sao được khi nghe chị kể rằng hơn chục năm về trước đỉnh Pha Đin hoang vu này chỉ có một mình chị và…sên. Ngày đó Thủy còn là một cô gái đầy sức sống, có trong tay nhiều điều bất cứ người phụ nữ nào cũng phải mơ ước. Tuổi trẻ, sắc đẹp, tiền bạc, gia đình…

< Chị Thủy.

Quê chị ở Hà Tĩnh nhưng cả nhà chuyển ra TP Sơn La làm ăn. Đang yên vị ở một Cty kinh doanh thì đùng một cái Thủy báo tin cho gia đình là mình lên sống ở… đỉnh đèo.
Bà Điểm, mẹ chị nghe xong như muốn quỵ. Còn cậu em trai đang học đại học ở Hà Nội vội vàng nhảy xe về nằng nặc bắt gia đình đưa bà chị của mình đi xem bói thử có bị ma làm không. Nhưng đã quá muộn. Khi Thủy thông báo với gia đình thì chị đã hoàn tất thủ tục mua lại đất trên đỉnh đèo của một cán bộ về hưu.

Ngày Thủy lên, gia tài là một túp lều cỏ tranh và vài con bò thả rong làm vốn. Sương muối, rét cắt cộng với lũ sên dày như tấm rải ở các cánh rừng khiến đàn bò của chị chỉ làm bạn với chủ được vài tháng rồi rủ nhau chết sạch. Chưa hết, mấy lần cuốc nương xong chị ngủ lại lều.

“Có hai lý do để tôi đến với đỉnh Pha Đin. Thứ nhất, con đèo này chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, nơi ngã xuống của nhiều bộ đội. Tôi yêu hình ảnh người bộ đội. Bố tôi cũng là bộ đội nên tôi xem nơi đẻ ra hình ảnh “anh gánh chị thồ” trong thơ Tố Hữu hết sức thiêng liêng. Muốn làm một cái gì đó cho con đèo lịch sử. Thứ hai là vì tôi lãng mạn. Thích cuộc sống giữa ngàn mây hư hư thực thực này”.

< Những nấm mồ liệt sỹ được chị Thủy quy tập về.

Sáng ra hai bắp chân chi chít đám sên no máu không buồn nhả. Khóc chẳng ai nghe, la hét mãi cũng khản giọng. Đành quệt nước mắt, tẩm nước bọt xoa lũ sên xong phải chạy xuống chân đèo mua thuốc uống. Gặp ông chủ tịch xã Tỏa Tình (huyện Tuần Giáo, Điện Biên) khi ấy, chị còn được khuyên: “Mày về đi. Không thành công được đâu. Con gái có thì, mày sẽ chôn vùi hết ở cái nơi khỉ ho cò gáy ấy thôi con ạ”.

Chỉ có chị tin rằng đỉnh Pha Đin sẽ không bạc đãi với lòng thành. Và cái cách đối phó của Thủy với sên cũng lạ lắm. Lũ sên hút máu nên chị chuyển sang trồng cây với suy nghĩ  "chỉ có cây mới không bị sên cắn, mới chống chịu nổi với thời tiết khắc nghiệt ở đỉnh đèo”.

Thế mà thành công. Ban đầu là những cây ngắn ngày như ngô, sắn… Vừa giữ đất, vừa có tiền để tiếp tục giấc mơ. Khi ngô sắn đã đủ để duy trì cuộc sống, Thủy bắt đầu đi trồng thông. Một tay người phụ nữ ấy lật từng viên đá nhan nhản giữa rừng lau lách. Thỉnh thoảng Thủy còn nhặt được cả…vỏ đạn. Cây thông trồng trên đất đá đỉnh đèo mất gấp đôi thời gian bình thường để lớn. Đã có lúc chị nhìn cây thông còi cọc rồi rơi nước mắt thương cho thân gái. Nhưng hình ảnh người bộ đội, giấc mơ đỉnh Pha Đin lại thôi thúc vượt lên. Đất không phụ lòng người. Cây èo uột mãi rồi cũng lớn.

Trớ trêu khi cây thông vừa nhô lên khỏi những tảng đá thì một mối đe dọa khác lại ập đến. Cháy.
“Xung quanh đỉnh đèo chủ hầu hết là người Mông. Họ thích sống cao và đốt nương làm rẫy. Không ít lần đám thông của Thủy họa lây từ những lần đốt nương của đồng bào. Lại phải đi vận động, xin dân bản đừng phát nương cạnh đỉnh đèo…”.
Mảnh đất hoang sơ cứ thế xanh dần, đến lúc trong tay người phụ nữ này có vài chục ha rừng trồng thì mới ớ ra mình đã là…tỷ phú.

“Phải. Tôi có tiền tỷ. Nhưng với điều kiện là bán hết khu rừng đỉnh đèo này cho một người khác. Còn hiện trong túi chỉ có vài đồng bạc lẻ. Bao nhiêu tiền của làm ra tôi đều đổ hết vào đỉnh Pha Đin này rồi. Có cả những ông chủ nước ngoài muốn mua lại khu này với giá gần 3 tỷ đồng. Nhưng nói thật, tôi chẳng bao giờ bán mảnh đất đã lấy đi của tôi tất cả. Tình yêu, tuổi trẻ, sắc đẹp và rất nhiều tiền bạc”.

Truyền thuyết về đèo Pha Đin có một cuộc tranh giành giữa tỉnh Lai Châu cũ và Sơn La. Chẳng thể ngờ đến tận hôm nay cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt. Chẳng biết họ giành nhau khu đất tiền tỷ hay giành cô gái kỳ lạ tên Thủy. Chỉ biết rằng toàn bộ khu đất rừng rộng hơn 200 ha của Thủy một nửa thuộc Sơn La, một nửa thuộc Điện Biên. Mọi chuyện chưa rõ ràng, nhưng Thủy bảo với tôi rằng chị vẫn tiếp tục thực hiện giấc mơ. Giấc mơ về một Pha Đin không bê tông cốt thép. Giấc mơ biến đỉnh đèo thành một Sa Pa thứ hai. Tôi tỏ ý lo ngại về vấn đề kinh tế thời buổi bây giờ chỉ quyết tâm thì không đủ.

Đến lúc này chị mới “khai” rằng mình đã từng phải giấu mẹ mang mấy chỉ vàng của gia đình đi bán. “Khó khăn? Tất nhiên. Nhưng tôi không chấp nhận những sự cộng tác chỉ vì tiền. Tôi muốn tìm một địa chỉ có chung tình yêu Pha Đin với mình. Tôi đối với nơi này chỉ có một thứ duy nhất: Đó là tình yêu”. Với một người đã bỏ phí cả tuổi xuân và hạnh phúc ở nơi này thì tôi tin rằng những lời ấy chắc chắn xuất phát tận đáy lòng.

Thủy từng một lần thất bại trong tình yêu. Đó là khi gia đình anh chàng người yêu là một kỹ sư nông nghiệp chê nhà chị nghèo, là gia đình nông thôn. Nhưng chị cũng nói rằng chính vì được sinh ra ở nông thôn mới giúp chị đứng vững ở ngọn đèo khắc nghiệt này. Có lẽ đó cũng là một phần khiến người đàn bà có gia tài tiền tỷ này…sợ tiền. “Đồng tiền nhũng nhiễu ghê lắm. Tôi sợ nó và sợ luôn những người muốn hợp tác đầu tư. Sợ rằng một ngày họ sẽ vì lợi nhuận mà phá vỡ Pha Đin như tôi mơ ước”.

Chia tay tôi, Thủy rút từ đống giấy tờ cũ nát ra một bài thơ mà chị viết từ những đêm mòn mỏi một mình trong túp lều ở đỉnh đèo này. Chị còn nói sẽ viết tiểu thuyết. Tôi chợt nghĩ, riêng đời người đàn bà cũng đã là một cuốn tiểu thuyết quá hay rồi.

Theo Hoàng Sang – H.Anh (Vietnamnet)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..