(SGGP) - Bị quyến rũ bởi câu ngân nga của người xưa: Nhất vui là hội phủ Giầy/ Vui thì vui vậy, chẳng tày chùa Bi, tôi lặn lội về thành Nam. Thật thú vị, lại được chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật độc đáo có sức sống gần 500 năm.

Độc nhất vô nhị

17 giờ, bà con làng trên xóm dưới đã đổ về đầy sân chùa. Mỗi người mỗi việc, người chuẩn bị lễ vật cúng thánh, phật, người lo quét dọn, người giăng đèn kết hoa, người bắc phông màn, trải chiếu, chuẩn bị trầu nước… Ai nấy tíu tít, hoan hỉ. Hôm nay phát tấu mà!

< Gác chuông chùa Bi.

Chùa Bi (còn gọi chùa Đại Bi) là ngôi chùa chung của 3 làng Vân Chàng, Giáp Ba và Giáp Tư, là một trong 4 ngôi chùa được xây dựng ở huyện Tây Chân (sau đổi thành Nam Chân) thuộc trấn Sơn Nam từ thời Lý (1010 - 1225), nay thuộc thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Chùa rộng 2.600m2 với hơn 60 gian, hầu hết bằng gỗ lim. Nhìn từ ngoài vào ta thấy chùa được nâng cao dần, kiến trúc hình chữ công (nội công, ngoại quốc), trông nguy nga đồ sộ. Hai dãy hành lang dài và thấp hai bên tả hữu càng tôn thêm vẻ đẹp của tháp chuông 2 tầng với 8 mái uốn cong mềm mại, tựa đóa sen đang nở.

Trong chùa lưu giữ nhiều cổ vật quý có từ thời hậu Lê: quả chuông cao hơn 2m, đỉnh đồng, khay, chén, đĩa… Một quần thể lăng mộ, am, tháp với kiến trúc đặc sắc; khung cảnh thiên nhiên trong lành, xanh tươi và khu chợ chùa tấp nập (ngoài việc đáp ứng nhu cầu giao thương hàng ngày của người dân quanh vùng; mùng 8 Tết, chợ còn họp phiên đặc biệt, dân quanh vùng mang đến đây từ nông cụ đến cây cảnh, đồ cổ… để buôn bán cầu may. Theo các bậc cao niên trong vùng, phiên chợ Viềng Nam Giang này ra đời trước và độc đáo hơn cả chợ Viềng phủ Giầy bên kia sông Đào) cũng tạo thêm nét duyên cho ngôi chùa cổ thanh tịnh và đã được Bộ VH-TT (cũ) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa từ năm 1984.

Đại đức Thích Thanh Quyết, trụ trì chùa Bi, cho biết: Chùa thờ vị thánh tổ Từ Đạo Hạnh, con trai của ông Từ Vinh giữ chức đô sát đời vua Lý Nhân Tông. Từ Đạo Hạnh đã kết bạn với Không Lộ thiền sư ở chùa Không Lộ và Giác Hải thiền sư ở chùa Phúc Lâm. Ba người nghiên cứu pháp môn đà la ni và cùng nhau sang Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh và được đức Phật tổ truyền cho tâm án, lục trí thần thông.

Để tưởng nhớ thánh tổ Từ Đạo Hạnh, vị thiền sư đã trụ trì ở chùa Bi, hàng năm, dân làng mở hội từ ngày 20 đến 24 tháng Giêng âm lịch. Trong suốt mấy ngày hội thường tổ chức tưng bừng rước kiệu, tế xuân và các trò vui chơi như đánh cờ, đấu vật, múa rồng, chạy đàn cầu an… Đặc biệt, suốt những đêm hội còn diễn ra các trò múa rối mà người địa phương quen gọi là trò hát rối hay ổi lỗi.

Đúng 19 giờ, trong tiếng chuông, trống, thanh la, mõ vang rộn, gần 20 ông lão mặc quần trắng, áo dài thâm, đội khăn lượt hoặc khăn xếp kính cẩn tiến vào hậu cung thắp hương, cúng lễ rồi mở hòm rước 12 đầu rối, gọi là thánh tượng, ra trước chánh điện. Trong làn hương thơm ngát của hương hoa, phẩm quả, các ông lần lượt xếp hàng trước tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh, điều khiển những thánh tượng cúi đầu lạy thánh rồi tiến ra sân khấu. Sân khấu biểu diễn chỉ đơn giản là một bức rèm che cách điệu hình sóng nước được mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong chùa (gọi là dàn). Người múa rối, người hát, người gõ nhạc cụ đứng sau tấm màn, quay mặt về phía bàn thờ Phật và bàn thờ đức thánh Từ (thế nên mới gọi là múa rối hầu thánh).

Giáo trống rộn ràng báo hiệu đêm hát rối bắt đầu. Mỗi thôn có một bài giáo trống khác nhau, hay nhất là bài của thôn Giáp Ba. Rồi lần lượt đến mở hò, dâng cách, đọc kệ. Tiếp theo, 3 nhóm rối của từng làng (mỗi nhóm 10 người) ra hát chúc làng mình rồi cùng nhau đồng ca lời chúc mừng chung cho cả 3 làng, 3 xã được an lành, phú quý. Các bài hát có những âm điệu, giai điệu khác nhau nhưng đều hát vần ra theo nhịp 1/3 hoặc 2/7. Đặc biệt các lời đệm, lời đón đều dùng tiếng Nôm cổ, làm theo thể song thất lục bát hoặc lục bát: Là ôi là lễ lã lè lại là lèn; hồ la hồ hồ la la lải la lèn; là ôi là a a a ớ dô là vậy, là vậy hờ là là vậy; lê lê là… Nội dung của các bài hát đều mang ý nghĩa chúc phúc, ca ngợi quê hương đất nước tươi đẹp, ca ngợi những chiến công trong lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông xưa, nhắc nhở mọi người biết sống thủy chung, trọng lễ nghĩa…

Rối chùa Bi thuộc thể loại rối tay. Tượng làm bằng gỗ vàng tâm khoét rỗng, phủ sơn ta, với nét mặt được các nghệ nhân dân gian khắc họa khá kỹ lưỡng, thể hiện những tính cách khác nhau, được người dân gọi là thánh tượng. Bộ thánh tượng chùa Bi không chỉ có giá trị lịch sử, tâm linh mà còn giàu tính mỹ thuật, được đánh giá là bộ đầu rối đẹp nhất miền Bắc Việt Nam.

Nguy cơ mai một

Ông Đoàn Quanh (84 tuổi) tham gia phường rối từ năm 13 tuổi và giữ chân trùm phường (chánh trùm) suốt từ năm 1970 tới nay, cho biết: “Chính tên của trò này là hội tu kỳ lệ (răn đời bỏ ác làm thiện); sau này mới có thêm các tên là rối đầu gỗ, ổi lỗi, hát rối”. Căn cứ vào kinh văn (tức lời hát) có thể phỏng đoán trò ổi lỗi được kiện toàn hình thức và nội dung từ thời Lê sơ (cách đây khoảng hơn 450 năm).

Có bài ca ngợi về việc khôi phục đế đô, có bài ca ngợi đức vua (Lê), đức chúa (Trịnh). Còn lại, hầu hết bài ca có ý nghĩa giáo dục răn dạy đạo đức phong kiến tam cương, ngũ thường, đạo gia đình... Trong ca từ có rất nhiều lời cổ, ví dụ như hòa (chàng), nường (nàng), bường (bình)... Còn rất nhiều từ tối nghĩa (nghĩa cổ) các cụ hát được nhưng không hiểu...

“Rối đầu gỗ chùa Bi là một loại hình diễn xướng dân gian rất đặc sắc và độc nhất vô nhị trên đất nước ta. Ở chùa Cổ Lễ (Nam Định) thờ thiền sư Giác Hải còn giữ được một số đầu tượng rối giống như ở chùa Đại Bi nhưng kinh văn (lời hát) ở những nơi này đã mất và cũng không còn phường rối. Ở chùa Keo (Thái Bình) thờ thiền sư Không Lộ cũng có trò diễn bằng những đầu gỗ nhưng chỉ múa đơn thuần chứ không có các làn điệu hát phụ họa và nghệ thuật tạo hình các con trò cũng không đẹp mắt…”, GS-TS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nhận xét.

Nhưng từ hàng trăm năm nay, do gắn liền với lễ hội đậm màu sắc tín ngưỡng của chùa Bi nên chỉ được diễn vài ba lần mỗi năm vào những dịp hội xuân, giỗ thánh. Năm 2002, Bộ Văn hóa - Thông tin đã tài trợ kinh phí nghiên cứu và Viện Âm nhạc Việt Nam đã về chùa Bi ghi âm và quay lại toàn bộ chương trình biểu diễn của trò ổi lỗi để lưu giữ hình ảnh với mục đích bảo tồn. Nhưng nghiên cứu của viện cũng chỉ chú ý về mặt diễn xướng và âm nhạc, không tìm hiểu sâu về nguồn gốc và lý do của trò ổi lỗi.

Tại chùa Đại Bi đang lưu giữ 2 bộ tượng rối, một bộ được làm năm 1957 dùng để tập, bộ còn lại có niên đại cao, mang nhiều giá trị lịch sử nhưng chưa có phương án bảo quản hữu hiệu để chống mối mọt. Hiện nay nơi lưu giữ tượng nằm sau chính điện thờ, ẩm thấp và thiếu ánh sáng. Nhiều đầu rối đã bong sơn, gãy tay cầm. Muốn phục chế, các cụ cũng không biết tìm đâu ra nghệ nhân. Còn làm mới thì theo như ông Sòng cho biết, giá một đầu rối vào khoảng 15 triệu đồng. Hiện nay, Sở VH-TT-DL tỉnh Nam Định đang có kế hoạch ghi hình toàn bộ diễn trình, làm hồ sơ để trình Cục Di sản văn hóa công nhận rối đầu gỗ hầu thánh là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Năm 2009, lần đầu tiên trò ổi lỗi ra mắt công chúng ngoài không gian chùa Bi. 6 nghệ nhân đã đến Hà Nội trình diễn tại tọa đàm “Để di sản sống trong đời sống đương đại” trước các nhà nghiên cứu văn hóa. Lần thứ hai, rối đầu gỗ chùa Bi “xuất ngoại” là ngày 4-3-2012. Các nghệ nhân đã lên chùa Thầy (thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội) để trình diễn trong một cuộc hội thảo về thánh Từ Đạo Hạnh và tín ngưỡng dân gian.

Theo Đỗ Quang Tuấn Hoàng (Sàigòn Giải Phóng)
Du lịch, GO!

Hát rối chùa Bi

(SGGP) - Bị quyến rũ bởi câu ngân nga của người xưa: Nhất vui là hội phủ Giầy/ Vui thì vui vậy, chẳng tày chùa Bi, tôi lặn lội về thành Nam. Thật thú vị, lại được chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật độc đáo có sức sống gần 500 năm.

Độc nhất vô nhị

17 giờ, bà con làng trên xóm dưới đã đổ về đầy sân chùa. Mỗi người mỗi việc, người chuẩn bị lễ vật cúng thánh, phật, người lo quét dọn, người giăng đèn kết hoa, người bắc phông màn, trải chiếu, chuẩn bị trầu nước… Ai nấy tíu tít, hoan hỉ. Hôm nay phát tấu mà!

< Gác chuông chùa Bi.

Chùa Bi (còn gọi chùa Đại Bi) là ngôi chùa chung của 3 làng Vân Chàng, Giáp Ba và Giáp Tư, là một trong 4 ngôi chùa được xây dựng ở huyện Tây Chân (sau đổi thành Nam Chân) thuộc trấn Sơn Nam từ thời Lý (1010 - 1225), nay thuộc thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Chùa rộng 2.600m2 với hơn 60 gian, hầu hết bằng gỗ lim. Nhìn từ ngoài vào ta thấy chùa được nâng cao dần, kiến trúc hình chữ công (nội công, ngoại quốc), trông nguy nga đồ sộ. Hai dãy hành lang dài và thấp hai bên tả hữu càng tôn thêm vẻ đẹp của tháp chuông 2 tầng với 8 mái uốn cong mềm mại, tựa đóa sen đang nở.

Trong chùa lưu giữ nhiều cổ vật quý có từ thời hậu Lê: quả chuông cao hơn 2m, đỉnh đồng, khay, chén, đĩa… Một quần thể lăng mộ, am, tháp với kiến trúc đặc sắc; khung cảnh thiên nhiên trong lành, xanh tươi và khu chợ chùa tấp nập (ngoài việc đáp ứng nhu cầu giao thương hàng ngày của người dân quanh vùng; mùng 8 Tết, chợ còn họp phiên đặc biệt, dân quanh vùng mang đến đây từ nông cụ đến cây cảnh, đồ cổ… để buôn bán cầu may. Theo các bậc cao niên trong vùng, phiên chợ Viềng Nam Giang này ra đời trước và độc đáo hơn cả chợ Viềng phủ Giầy bên kia sông Đào) cũng tạo thêm nét duyên cho ngôi chùa cổ thanh tịnh và đã được Bộ VH-TT (cũ) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa từ năm 1984.

Đại đức Thích Thanh Quyết, trụ trì chùa Bi, cho biết: Chùa thờ vị thánh tổ Từ Đạo Hạnh, con trai của ông Từ Vinh giữ chức đô sát đời vua Lý Nhân Tông. Từ Đạo Hạnh đã kết bạn với Không Lộ thiền sư ở chùa Không Lộ và Giác Hải thiền sư ở chùa Phúc Lâm. Ba người nghiên cứu pháp môn đà la ni và cùng nhau sang Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh và được đức Phật tổ truyền cho tâm án, lục trí thần thông.

Để tưởng nhớ thánh tổ Từ Đạo Hạnh, vị thiền sư đã trụ trì ở chùa Bi, hàng năm, dân làng mở hội từ ngày 20 đến 24 tháng Giêng âm lịch. Trong suốt mấy ngày hội thường tổ chức tưng bừng rước kiệu, tế xuân và các trò vui chơi như đánh cờ, đấu vật, múa rồng, chạy đàn cầu an… Đặc biệt, suốt những đêm hội còn diễn ra các trò múa rối mà người địa phương quen gọi là trò hát rối hay ổi lỗi.

Đúng 19 giờ, trong tiếng chuông, trống, thanh la, mõ vang rộn, gần 20 ông lão mặc quần trắng, áo dài thâm, đội khăn lượt hoặc khăn xếp kính cẩn tiến vào hậu cung thắp hương, cúng lễ rồi mở hòm rước 12 đầu rối, gọi là thánh tượng, ra trước chánh điện. Trong làn hương thơm ngát của hương hoa, phẩm quả, các ông lần lượt xếp hàng trước tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh, điều khiển những thánh tượng cúi đầu lạy thánh rồi tiến ra sân khấu. Sân khấu biểu diễn chỉ đơn giản là một bức rèm che cách điệu hình sóng nước được mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong chùa (gọi là dàn). Người múa rối, người hát, người gõ nhạc cụ đứng sau tấm màn, quay mặt về phía bàn thờ Phật và bàn thờ đức thánh Từ (thế nên mới gọi là múa rối hầu thánh).

Giáo trống rộn ràng báo hiệu đêm hát rối bắt đầu. Mỗi thôn có một bài giáo trống khác nhau, hay nhất là bài của thôn Giáp Ba. Rồi lần lượt đến mở hò, dâng cách, đọc kệ. Tiếp theo, 3 nhóm rối của từng làng (mỗi nhóm 10 người) ra hát chúc làng mình rồi cùng nhau đồng ca lời chúc mừng chung cho cả 3 làng, 3 xã được an lành, phú quý. Các bài hát có những âm điệu, giai điệu khác nhau nhưng đều hát vần ra theo nhịp 1/3 hoặc 2/7. Đặc biệt các lời đệm, lời đón đều dùng tiếng Nôm cổ, làm theo thể song thất lục bát hoặc lục bát: Là ôi là lễ lã lè lại là lèn; hồ la hồ hồ la la lải la lèn; là ôi là a a a ớ dô là vậy, là vậy hờ là là vậy; lê lê là… Nội dung của các bài hát đều mang ý nghĩa chúc phúc, ca ngợi quê hương đất nước tươi đẹp, ca ngợi những chiến công trong lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông xưa, nhắc nhở mọi người biết sống thủy chung, trọng lễ nghĩa…

Rối chùa Bi thuộc thể loại rối tay. Tượng làm bằng gỗ vàng tâm khoét rỗng, phủ sơn ta, với nét mặt được các nghệ nhân dân gian khắc họa khá kỹ lưỡng, thể hiện những tính cách khác nhau, được người dân gọi là thánh tượng. Bộ thánh tượng chùa Bi không chỉ có giá trị lịch sử, tâm linh mà còn giàu tính mỹ thuật, được đánh giá là bộ đầu rối đẹp nhất miền Bắc Việt Nam.

Nguy cơ mai một

Ông Đoàn Quanh (84 tuổi) tham gia phường rối từ năm 13 tuổi và giữ chân trùm phường (chánh trùm) suốt từ năm 1970 tới nay, cho biết: “Chính tên của trò này là hội tu kỳ lệ (răn đời bỏ ác làm thiện); sau này mới có thêm các tên là rối đầu gỗ, ổi lỗi, hát rối”. Căn cứ vào kinh văn (tức lời hát) có thể phỏng đoán trò ổi lỗi được kiện toàn hình thức và nội dung từ thời Lê sơ (cách đây khoảng hơn 450 năm).

Có bài ca ngợi về việc khôi phục đế đô, có bài ca ngợi đức vua (Lê), đức chúa (Trịnh). Còn lại, hầu hết bài ca có ý nghĩa giáo dục răn dạy đạo đức phong kiến tam cương, ngũ thường, đạo gia đình... Trong ca từ có rất nhiều lời cổ, ví dụ như hòa (chàng), nường (nàng), bường (bình)... Còn rất nhiều từ tối nghĩa (nghĩa cổ) các cụ hát được nhưng không hiểu...

“Rối đầu gỗ chùa Bi là một loại hình diễn xướng dân gian rất đặc sắc và độc nhất vô nhị trên đất nước ta. Ở chùa Cổ Lễ (Nam Định) thờ thiền sư Giác Hải còn giữ được một số đầu tượng rối giống như ở chùa Đại Bi nhưng kinh văn (lời hát) ở những nơi này đã mất và cũng không còn phường rối. Ở chùa Keo (Thái Bình) thờ thiền sư Không Lộ cũng có trò diễn bằng những đầu gỗ nhưng chỉ múa đơn thuần chứ không có các làn điệu hát phụ họa và nghệ thuật tạo hình các con trò cũng không đẹp mắt…”, GS-TS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nhận xét.

Nhưng từ hàng trăm năm nay, do gắn liền với lễ hội đậm màu sắc tín ngưỡng của chùa Bi nên chỉ được diễn vài ba lần mỗi năm vào những dịp hội xuân, giỗ thánh. Năm 2002, Bộ Văn hóa - Thông tin đã tài trợ kinh phí nghiên cứu và Viện Âm nhạc Việt Nam đã về chùa Bi ghi âm và quay lại toàn bộ chương trình biểu diễn của trò ổi lỗi để lưu giữ hình ảnh với mục đích bảo tồn. Nhưng nghiên cứu của viện cũng chỉ chú ý về mặt diễn xướng và âm nhạc, không tìm hiểu sâu về nguồn gốc và lý do của trò ổi lỗi.

Tại chùa Đại Bi đang lưu giữ 2 bộ tượng rối, một bộ được làm năm 1957 dùng để tập, bộ còn lại có niên đại cao, mang nhiều giá trị lịch sử nhưng chưa có phương án bảo quản hữu hiệu để chống mối mọt. Hiện nay nơi lưu giữ tượng nằm sau chính điện thờ, ẩm thấp và thiếu ánh sáng. Nhiều đầu rối đã bong sơn, gãy tay cầm. Muốn phục chế, các cụ cũng không biết tìm đâu ra nghệ nhân. Còn làm mới thì theo như ông Sòng cho biết, giá một đầu rối vào khoảng 15 triệu đồng. Hiện nay, Sở VH-TT-DL tỉnh Nam Định đang có kế hoạch ghi hình toàn bộ diễn trình, làm hồ sơ để trình Cục Di sản văn hóa công nhận rối đầu gỗ hầu thánh là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Năm 2009, lần đầu tiên trò ổi lỗi ra mắt công chúng ngoài không gian chùa Bi. 6 nghệ nhân đã đến Hà Nội trình diễn tại tọa đàm “Để di sản sống trong đời sống đương đại” trước các nhà nghiên cứu văn hóa. Lần thứ hai, rối đầu gỗ chùa Bi “xuất ngoại” là ngày 4-3-2012. Các nghệ nhân đã lên chùa Thầy (thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội) để trình diễn trong một cuộc hội thảo về thánh Từ Đạo Hạnh và tín ngưỡng dân gian.

Theo Đỗ Quang Tuấn Hoàng (Sàigòn Giải Phóng)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(Infonet) - Trò chơi dân gian nặn pháo đất từ lâu trở thành một phần không thể thiếu trong Lễ hội đền Trần Thái Bình.
Với sự góp vui của hàng chục pháo thủ đến từ xã Chi Lăng, huyện Hưng Hà, họ đã mang lại cho du khách thập phương về trẩy hội những tiếng cười phấn khích.

Trò chơi pháo đất bắt nguồn theo tích xưa: Vào năm 1288 trong lúc quân ta đang đánh chiến ác liệt với giặc ở Bạch Đằng thì con voi của Trần Hưng Đạo bất ngờ bị sa vào vũng lầy ở bãi sông Hóa thuộc làng A Sào nay thuộc xã ( An Thái – Quỳnh Phụ). Dân quanh vùng thấy vậy liền hô hoán gọi nhau vác quốc xẻng ra đào đất, vác đất hỗ trợ cùng với quân lính ném đất xuống bãi lầy đế đắp đường cho voi lên bờ.

< Mỗi quả pháo đất thường nặng 30 – 40 kg.

Cũng theo các cụ cao niên trong làng cho biết, trò chơi pháo đất huyện Hưng Hà còn gắn liền với tích chuyện quai đê chống lũ lụt ngày xưa. Để tưởng nhớ vết tích của voi thần và vị tướng tài đức, người dân Thái Bình vào những ngày đầu xuân thường xuyên cùng nhau diễn lại màn tung đất cứu voi xưa. Thời gian nông nhàn họ cùng nhau ra ruộng lấy đất sét mang về nhà nhào nặn, rồi trổ tài bằng màn “ nặn pháo đất” như vậy.

Pháo đất có hình dạng giống như một chiếc thuyền. Nguyên liệu được làm bằng đất sét siêu mịn. Người dân nơi đây quan niệm, pháo đất chính là sự biểu tượng mang lại may mắn, một năm làm ăn thuận buồm xuôi gió.

Theo ông Tuấn, trưởng nhóm cho biết, để pháo đất có được những tiếng nổ vang và đanh thì người nặn phải làm theo đúng, đủ quy trình. Trong đó quan trọng nhất là bước nén pháo chặt.

< Để quả pháo hình thù một chiếc thuyền, người làm pháo cần phải sử dụng đến tấm tôn làm khuôn mẫu.

Cụ Nguyễn Mạnh Quân (70 tuổi) là thành viên cao tuổi nhất trong hội và cũng là người dày dặn kinh nghiệm, vừa làm cụ hào hứng chia sẻ: “ Năm nào tôi cũng tham gia, góp vui với hội thi pháo tại đền Trần. Ngày trước còn khỏe mạnh, phong độ vẫn luôn được giao trọng trách quan trọng là gieo pháo. Giờ thì tuổi cao sức yếu, chỉ trổ tài cùng anh em trong đội với những đường nặn dẻo dai vành pháo cơ bản này thôi ”.

< Chuẩn bĩ gieo pháo.

Người được giao trọng trách gieo pháo, phải là người có sức khỏe, dày dặn kinh nghiệm. Có như vậy người chơi mới mang lại được những tiếng nổ vui tai cho khán giả đứng hô hò xem.

< Giám khảo đo giềng pháo sau khi nổ.

Đội nào có giềng pháo dài nhất trong tổng các lần gieo sẽ là đội thắng cuộc. Theo ghi nhận của PV thì giềng phao cao nhất của các đội nỗ lực đạt được có chiều dài gần 3m.

Hội thi pháo đất cuốn hút đông đảo nhiều người đứng xem cổ vũ. Ai cũng muốn tận mắt ngắm những khung “ thuyền pháo” được tạo nặn ra từ đôi bàn tay khéo léo đa tài của thanh niên trai tráng hay các lão nông làm ăn kinh tế giỏi đang sinh sống và làm việc tại mảnh đất quê hương Hưng Hà.

Theo Thanh Tuyền (Infonet)
Du lịch, GO!

Lễ hội pháo đất Hải Dương

Chơi pháo đất ở đền Trần

(Infonet) - Trò chơi dân gian nặn pháo đất từ lâu trở thành một phần không thể thiếu trong Lễ hội đền Trần Thái Bình.
Với sự góp vui của hàng chục pháo thủ đến từ xã Chi Lăng, huyện Hưng Hà, họ đã mang lại cho du khách thập phương về trẩy hội những tiếng cười phấn khích.

Trò chơi pháo đất bắt nguồn theo tích xưa: Vào năm 1288 trong lúc quân ta đang đánh chiến ác liệt với giặc ở Bạch Đằng thì con voi của Trần Hưng Đạo bất ngờ bị sa vào vũng lầy ở bãi sông Hóa thuộc làng A Sào nay thuộc xã ( An Thái – Quỳnh Phụ). Dân quanh vùng thấy vậy liền hô hoán gọi nhau vác quốc xẻng ra đào đất, vác đất hỗ trợ cùng với quân lính ném đất xuống bãi lầy đế đắp đường cho voi lên bờ.

< Mỗi quả pháo đất thường nặng 30 – 40 kg.

Cũng theo các cụ cao niên trong làng cho biết, trò chơi pháo đất huyện Hưng Hà còn gắn liền với tích chuyện quai đê chống lũ lụt ngày xưa. Để tưởng nhớ vết tích của voi thần và vị tướng tài đức, người dân Thái Bình vào những ngày đầu xuân thường xuyên cùng nhau diễn lại màn tung đất cứu voi xưa. Thời gian nông nhàn họ cùng nhau ra ruộng lấy đất sét mang về nhà nhào nặn, rồi trổ tài bằng màn “ nặn pháo đất” như vậy.

Pháo đất có hình dạng giống như một chiếc thuyền. Nguyên liệu được làm bằng đất sét siêu mịn. Người dân nơi đây quan niệm, pháo đất chính là sự biểu tượng mang lại may mắn, một năm làm ăn thuận buồm xuôi gió.

Theo ông Tuấn, trưởng nhóm cho biết, để pháo đất có được những tiếng nổ vang và đanh thì người nặn phải làm theo đúng, đủ quy trình. Trong đó quan trọng nhất là bước nén pháo chặt.

< Để quả pháo hình thù một chiếc thuyền, người làm pháo cần phải sử dụng đến tấm tôn làm khuôn mẫu.

Cụ Nguyễn Mạnh Quân (70 tuổi) là thành viên cao tuổi nhất trong hội và cũng là người dày dặn kinh nghiệm, vừa làm cụ hào hứng chia sẻ: “ Năm nào tôi cũng tham gia, góp vui với hội thi pháo tại đền Trần. Ngày trước còn khỏe mạnh, phong độ vẫn luôn được giao trọng trách quan trọng là gieo pháo. Giờ thì tuổi cao sức yếu, chỉ trổ tài cùng anh em trong đội với những đường nặn dẻo dai vành pháo cơ bản này thôi ”.

< Chuẩn bĩ gieo pháo.

Người được giao trọng trách gieo pháo, phải là người có sức khỏe, dày dặn kinh nghiệm. Có như vậy người chơi mới mang lại được những tiếng nổ vui tai cho khán giả đứng hô hò xem.

< Giám khảo đo giềng pháo sau khi nổ.

Đội nào có giềng pháo dài nhất trong tổng các lần gieo sẽ là đội thắng cuộc. Theo ghi nhận của PV thì giềng phao cao nhất của các đội nỗ lực đạt được có chiều dài gần 3m.

Hội thi pháo đất cuốn hút đông đảo nhiều người đứng xem cổ vũ. Ai cũng muốn tận mắt ngắm những khung “ thuyền pháo” được tạo nặn ra từ đôi bàn tay khéo léo đa tài của thanh niên trai tráng hay các lão nông làm ăn kinh tế giỏi đang sinh sống và làm việc tại mảnh đất quê hương Hưng Hà.

Theo Thanh Tuyền (Infonet)
Du lịch, GO!

Lễ hội pháo đất Hải Dương
Đọc thêm..
(PNO) - Vùng đất võ Bình Định luôn rộn ràng mỗi dịp xuân về, bởi nơi đây còn lưu giữ rất nhiều lễ hội truyền thống mừng xuân, như hội chợ Gò (Tuy Phước), hội đua thuyền, bài chòi, hội Đống Đa (Tây Sơn)… Trong đó, trò chơi dân gian, độc đáo Cổ Nhơn là thú vui tao nhã của người dân Bình Định dịp đầu xuân năm mới.

Gốc tích thú chơi Cổ Nhơn

Chưa có tài liệu sử sách nào ghi lại nguồn gốc xuất xứ của trò chơi Cổ Nhơn, những người chơi hội Cổ Nhơn đều nói trò chơi này đã có từ lâu, truyền qua nhiều đời.

Theo nhà nghiên cứu Đặng Quý Dịch, trò chơi Cổ Nhơn xuất phát từ thời nhà Nguyễn, du nhập vào Bình Định. Qua thời gian, Cổ Nhơn ở Bình Định có nhiều thay đổi, phát triển và thành món ăn tinh thần của người dân nhiều vùng ở địa phương này. Trò chơi có một ban tổ chức, gọi là Hội xổ Cổ Nhơn. Hội này chịu trách nhiệm ra đề, thu tịch và sẽ chung tiền cho những người giải đáp chính xác. Tỷ lệ chiến thắng 1 đồng nhận 25 đồng.

Tịch của trò chơi này gồm 36 con vật, dùng để ghi số tiền mà người chơi mua. 36 con trong bảng Cổ Nhơn được chia thành 9 nhóm: Tứ trạng nguyên: cá trắng, ốc, ngỗng, công; Ngũ hổ tướng: trùn, cọp, heo, thỏ, trâu; Thất sinh lý: rồng bay, chó, ngựa, voi, mèo, chuột, ong; Nhị đạo sĩ: hạt, kỳ lân; Tứ mỹ nữ: bướm, hòn đá, én, cu; Tứ hảo mạng: khỉ, ếch, quạ, rồng nằm; Tứ Hòa Thượng: rùa, gà, lươn, cá đỏ; Ngũ khất thực: tôm, rắn, nhện, nai, dê; Nhất ni cô: con yêu.

Mỗi ngày 2 - 3 lần, BTC sẽ chọn một trong 36 con trong bộ tịch bỏ vào hộp gỗ niêm phong làm đề. Hộp gỗ chứa đề sẽ được trên lên cây nêu cao khoảng 5m ở các trụ sở thôn, xã… Dưới cây nêu có lực lượng canh gác, giữ đề không bị lộ.

Sau khi treo đề, để người chơi luận Cổ Nhơn, BTC sẽ đưa ra đề (câu thai) gồm 4 câu thơ lục bát ứng với đề. Phần luận câu thai để tìm ra đáp án chính là phần sôi nổi nhất của ngày hội Cổ Nhơn. Mỗi câu thai đều là danh lam thắng cảnh, nội dung văn học, sách sử, điển tích điển cố… người chơi dựa vào ý nghĩa của mỗi câu thai để đàm luận. Cổ Nhơn ý vị ở chỗ, người chơi phải thực giỏi, luận đề hay… tuy nhiên chưa hẳn người giỏi chữ nghĩa, luận đề hay là người thắng. Người đoán bừa chưa chắc đã thua. Bởi người ta thường nói, văn chương chữ nghĩa có nhiều lời giải, luận bàn khác nhau, và mỗi người đều tìm ra cái lý của mình.

Khi thắng được câu đề, không quan trọng ở khoản tiền ăn thua mà người chơi hãnh diện bởi khả năng, suy luận của bản thân.

Cổ Nhơn nơi đất Võ

Ở Bình Định, hội Cổ Nhơn nức tiếng nhất đất Hoài Nhơn. Mỗi dịp xuân, khắp thôn, xã ở huyện Hoài Nhơn rộn ràng, háo hức chờ hội Cổ Nhơn. 30 tết (tháng thiếu 29), Cổ Nhơn khai hội và có thể kéo dài đến mồng 5, mồng 6 tùy nơi. Thế nhưng từ độ 25 tháng Chạp, ở Hoài Nhơn đã sôi nổi, bàn luận, chờ đợi một mùa Cổ Nhơn đến. Trong gần 10 năm trở lại đây, Cổ Nhơn trên đất Hoài Nhơn lan tỏa sâu rộng, đến mọi ngóc ngách ở các vùng quê trong huyện. Cổ Nhơn là dịp để những người con xa quê hội ngộ, ngồi bên tách cà phê luận đàm câu thai, tìm lời giải đáp.

Hội Cổ Nhơn ở Hoài Nhơn chơi theo cách thức truyền thống, bộ tịch 36 con và câu thai là 4 câu thơ lục bát. Mỗi ngày hai lần vào lúc 6 giờ sáng và 14 giờ chiều, BTC sẽ chọn môt trong số 36 con trong bộ tịch treo lên cây nêu. Đến 12 giờ trưa và 18 giờ tối, Cổ Nhơn xổ đề trong niềm hân hoan, chờ đợi của hàng trăm người chơi.

Riêng ở TX An Nhơn (Bình Định), hội Cổ Nhơn biến thể hơn. Cách chơi không thay đổi, nhưng sẽ có sự thay đổi trong bộ tịch và câu thai. Bộ tịch ở đây không là 36 con mà 40 con, 4 con được thần. Câu thai không là 4 câu thơ lục bát mà được rút lại thành hai câu thơ lục bát.

Ông Nguyễn Đức Minh (64 tuổi), người 30 năm ghi Cổ Nhơn (P. Bình Định, TX An Nhơn), nói: “Cổ truyền bộ tịch Cổ Nhơn chỉ 36 con, về sau BTC thêm vào bộ thần thành 40 con. Một trò chơi dân gian có từ rất lâu, Cổ Nhơn thiên về chơi xuân, giải trí hơn thắng thua. Người thua cũng vui mà người thắng lại càng vui. Ghi Cổ Nhơn được sự cho phép của chính quyền, BTC Cổ Nhơn hàng năm tổ chức để mọi người vui xuân”.

Thực ra Cổ Nhơn khó cũng khó, mà dễ cũng thực dễ… Người chơi nhìn vào từng câu thơ để giải nghĩa. Ví dụ: “Nhớ ngày kỉ niệm Đống Đa/ Chiến công oanh liệt, vẻ vang nước nhà” là một câu thai được ra trong ngày kỉ niệm chiến thắng Đống Đa (4 -5/1 âm lịch). Câu thai này tương ứng với đáp án là “Thần Tài”. Bởi kỷ niệm Đống Đa là để tướng nhớ vua Quang Trung và các Văn thần Võ tướng tài giỏi của nhà Tây Sơn. Vua Quang Trung, vị vua tài giỏi, xuất chúng… người giỏi xuất chúng được mệnh danh là thần, và có tài nên đáp án ứng với “Thần Tài””.

Cổ Nhơn ở An Nhơn được tổ chức ở 3 địa điểm, P. Bình Định, xã Nhơn Phong và Nhơn Hạnh. Mỗi ngày, Cổ Nhơn xổ hội 3 lần tương ứng với 3 lần chơi. “Cổ Nhơn chỉ còn tổ chức ngày cuối cùng (6.1 AL), nhưng chúng tôi cứ thấy tiếc. Phải chờ một năm nữa mới lại được xem hội Cổ Nhơn quê mình. Đi xa, nhớ tết nhớ nhà và nhớ cả câu đề Cổ Nhơn…”, anh Phạm Mười, người chơi Cổ Nhơn chia sẻ.

Theo Dịu Dịu (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Hội Cổ Nhơn - thú chơi tao nhã ngày xuân

(PNO) - Vùng đất võ Bình Định luôn rộn ràng mỗi dịp xuân về, bởi nơi đây còn lưu giữ rất nhiều lễ hội truyền thống mừng xuân, như hội chợ Gò (Tuy Phước), hội đua thuyền, bài chòi, hội Đống Đa (Tây Sơn)… Trong đó, trò chơi dân gian, độc đáo Cổ Nhơn là thú vui tao nhã của người dân Bình Định dịp đầu xuân năm mới.

Gốc tích thú chơi Cổ Nhơn

Chưa có tài liệu sử sách nào ghi lại nguồn gốc xuất xứ của trò chơi Cổ Nhơn, những người chơi hội Cổ Nhơn đều nói trò chơi này đã có từ lâu, truyền qua nhiều đời.

Theo nhà nghiên cứu Đặng Quý Dịch, trò chơi Cổ Nhơn xuất phát từ thời nhà Nguyễn, du nhập vào Bình Định. Qua thời gian, Cổ Nhơn ở Bình Định có nhiều thay đổi, phát triển và thành món ăn tinh thần của người dân nhiều vùng ở địa phương này. Trò chơi có một ban tổ chức, gọi là Hội xổ Cổ Nhơn. Hội này chịu trách nhiệm ra đề, thu tịch và sẽ chung tiền cho những người giải đáp chính xác. Tỷ lệ chiến thắng 1 đồng nhận 25 đồng.

Tịch của trò chơi này gồm 36 con vật, dùng để ghi số tiền mà người chơi mua. 36 con trong bảng Cổ Nhơn được chia thành 9 nhóm: Tứ trạng nguyên: cá trắng, ốc, ngỗng, công; Ngũ hổ tướng: trùn, cọp, heo, thỏ, trâu; Thất sinh lý: rồng bay, chó, ngựa, voi, mèo, chuột, ong; Nhị đạo sĩ: hạt, kỳ lân; Tứ mỹ nữ: bướm, hòn đá, én, cu; Tứ hảo mạng: khỉ, ếch, quạ, rồng nằm; Tứ Hòa Thượng: rùa, gà, lươn, cá đỏ; Ngũ khất thực: tôm, rắn, nhện, nai, dê; Nhất ni cô: con yêu.

Mỗi ngày 2 - 3 lần, BTC sẽ chọn một trong 36 con trong bộ tịch bỏ vào hộp gỗ niêm phong làm đề. Hộp gỗ chứa đề sẽ được trên lên cây nêu cao khoảng 5m ở các trụ sở thôn, xã… Dưới cây nêu có lực lượng canh gác, giữ đề không bị lộ.

Sau khi treo đề, để người chơi luận Cổ Nhơn, BTC sẽ đưa ra đề (câu thai) gồm 4 câu thơ lục bát ứng với đề. Phần luận câu thai để tìm ra đáp án chính là phần sôi nổi nhất của ngày hội Cổ Nhơn. Mỗi câu thai đều là danh lam thắng cảnh, nội dung văn học, sách sử, điển tích điển cố… người chơi dựa vào ý nghĩa của mỗi câu thai để đàm luận. Cổ Nhơn ý vị ở chỗ, người chơi phải thực giỏi, luận đề hay… tuy nhiên chưa hẳn người giỏi chữ nghĩa, luận đề hay là người thắng. Người đoán bừa chưa chắc đã thua. Bởi người ta thường nói, văn chương chữ nghĩa có nhiều lời giải, luận bàn khác nhau, và mỗi người đều tìm ra cái lý của mình.

Khi thắng được câu đề, không quan trọng ở khoản tiền ăn thua mà người chơi hãnh diện bởi khả năng, suy luận của bản thân.

Cổ Nhơn nơi đất Võ

Ở Bình Định, hội Cổ Nhơn nức tiếng nhất đất Hoài Nhơn. Mỗi dịp xuân, khắp thôn, xã ở huyện Hoài Nhơn rộn ràng, háo hức chờ hội Cổ Nhơn. 30 tết (tháng thiếu 29), Cổ Nhơn khai hội và có thể kéo dài đến mồng 5, mồng 6 tùy nơi. Thế nhưng từ độ 25 tháng Chạp, ở Hoài Nhơn đã sôi nổi, bàn luận, chờ đợi một mùa Cổ Nhơn đến. Trong gần 10 năm trở lại đây, Cổ Nhơn trên đất Hoài Nhơn lan tỏa sâu rộng, đến mọi ngóc ngách ở các vùng quê trong huyện. Cổ Nhơn là dịp để những người con xa quê hội ngộ, ngồi bên tách cà phê luận đàm câu thai, tìm lời giải đáp.

Hội Cổ Nhơn ở Hoài Nhơn chơi theo cách thức truyền thống, bộ tịch 36 con và câu thai là 4 câu thơ lục bát. Mỗi ngày hai lần vào lúc 6 giờ sáng và 14 giờ chiều, BTC sẽ chọn môt trong số 36 con trong bộ tịch treo lên cây nêu. Đến 12 giờ trưa và 18 giờ tối, Cổ Nhơn xổ đề trong niềm hân hoan, chờ đợi của hàng trăm người chơi.

Riêng ở TX An Nhơn (Bình Định), hội Cổ Nhơn biến thể hơn. Cách chơi không thay đổi, nhưng sẽ có sự thay đổi trong bộ tịch và câu thai. Bộ tịch ở đây không là 36 con mà 40 con, 4 con được thần. Câu thai không là 4 câu thơ lục bát mà được rút lại thành hai câu thơ lục bát.

Ông Nguyễn Đức Minh (64 tuổi), người 30 năm ghi Cổ Nhơn (P. Bình Định, TX An Nhơn), nói: “Cổ truyền bộ tịch Cổ Nhơn chỉ 36 con, về sau BTC thêm vào bộ thần thành 40 con. Một trò chơi dân gian có từ rất lâu, Cổ Nhơn thiên về chơi xuân, giải trí hơn thắng thua. Người thua cũng vui mà người thắng lại càng vui. Ghi Cổ Nhơn được sự cho phép của chính quyền, BTC Cổ Nhơn hàng năm tổ chức để mọi người vui xuân”.

Thực ra Cổ Nhơn khó cũng khó, mà dễ cũng thực dễ… Người chơi nhìn vào từng câu thơ để giải nghĩa. Ví dụ: “Nhớ ngày kỉ niệm Đống Đa/ Chiến công oanh liệt, vẻ vang nước nhà” là một câu thai được ra trong ngày kỉ niệm chiến thắng Đống Đa (4 -5/1 âm lịch). Câu thai này tương ứng với đáp án là “Thần Tài”. Bởi kỷ niệm Đống Đa là để tướng nhớ vua Quang Trung và các Văn thần Võ tướng tài giỏi của nhà Tây Sơn. Vua Quang Trung, vị vua tài giỏi, xuất chúng… người giỏi xuất chúng được mệnh danh là thần, và có tài nên đáp án ứng với “Thần Tài””.

Cổ Nhơn ở An Nhơn được tổ chức ở 3 địa điểm, P. Bình Định, xã Nhơn Phong và Nhơn Hạnh. Mỗi ngày, Cổ Nhơn xổ hội 3 lần tương ứng với 3 lần chơi. “Cổ Nhơn chỉ còn tổ chức ngày cuối cùng (6.1 AL), nhưng chúng tôi cứ thấy tiếc. Phải chờ một năm nữa mới lại được xem hội Cổ Nhơn quê mình. Đi xa, nhớ tết nhớ nhà và nhớ cả câu đề Cổ Nhơn…”, anh Phạm Mười, người chơi Cổ Nhơn chia sẻ.

Theo Dịu Dịu (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
(VnExpress) - Cứ vào tháng Giêng, nhiều làng chài tại các địa phương lại tưng bừng tổ chức ngày hội Cầu Ngư với mong muốn một năm trời yên biển lặng, tôm cá đầy khoang.

Lễ hội Cầu Ngư, thờ cúng Cá Ông là một nét văn hóa dân gian tiêu biểu của ngư dân chài lưới ven biển miền Trung. Tục thờ Cá Ông (cái voi) đã tồn tại lâu đời nay, trong dân gian, cá voi là một loài cá thần, thường giúp họ vượt qua tai nạn khi lênh đênh trên biển cả, “Ông” là tiếng gọi tôn kính của ngư dân dành riêng cho cá này. Hàng năm, thường là sau khi ăn Tết xong, ngư dân tổ chức lễ tế Cá Ông lồng ghép dưới hình thức lễ hội Cầu Ngư và lễ ra quân đánh bắt vụ cá Nam.

Tại Huế, lễ hội cầu ngư làng Thai Dương (huyện Phú Vang) được diễn ra vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch. Lễ hội năm nay được tổ chức lớn vì theo truyền thống của làng là “tam niên đáo lệ”, tức sau ba năm mở hội lớn vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Lễ hội cầu ngư làng Thai Dương có từ hơn 500 năm trước, được tổ chức với mong muốn cầu mưa thuận gió hòa, mọi nhà làm ăn phát đạt, đồng thời, bày tỏ lòng nhớ ơn vị khai canh làng là Trương Quý Công.

Cùng chung không khí đó, lễ hội Cầu Ngư Đà Nẵng đã diễn ra vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch với nhiều hoạt động sôi nổi.

Ông Nguyễn Đăng Dương (Thanh Khê Tây, Đà Nẵng), một trong những người tham gia lễ bái chính cho biết: “Cầu Ngư là lễ hội lớn của ngư dân Đà Nẵng, vào ngày này hàng năm, mọi người cùng tổ chức lễ cúng để cầu mong một năm trời yên biển lặng, mùa màng bội thu”.

Lễ hội thường được diễn ra trong hai ngày. Vào ngày lễ chính, làng chọn ra một ban nghi lễ gồm các cụ cao niên, hiền đức, có uy tín với bạn chài và không bị mắc tang chế. Vị chánh bái dâng đồ tế lễ và đọc văn tế nói lên lòng biết ơn của dân làng đối với công đức Cá Ông và cầu mong mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn.

Hình thức múa hát đặc trưng của lễ hội Cầu Ngư là múa hát bả trạo (bả: nắm, trạo: chèo đò) diễn tả tinh thần đoàn kết giữa các thành viên trong một con thuyền, vượt qua sóng to gió cả, mang về một mùa bội thu cho ngư dân. Hát múa bả trạo, vừa là nghi thức tế lễ, vừa là hoạt động nghệ thuật.

Bên cạnh các nghi lễ còn có phần hội. Mỗi địa phương có những hình thức tổ chức khác nhau nhưng chung lại đều có những trò chơi dân gian vùng biển như: lắc thúng, đua thuyền, bơi lội, kéo co, đá bóng, thi đan lưới, … Các đêm văn nghệ cũng được tổ chức phục vụ bà con xem hát tuồng, hát hò khoan, hát bài chòi, hát bội.

Ngoài tháng giêng, lễ hội Cầu Ngư còn được tổ chức tại các địa phương vào tháng tư âm lịch như tại Cù Lao Chàm (Quảng Nam) vào ngày mồng 3. Đối với các tỉnh Phan Thiết, Bình Thuận, Khánh Hòa thì lễ hội thường diễn ra vào tháng 6 âm lịch.

Lễ hội cúng Cá Ông có vị trí đặc biệt trong đời sống tâm linh và tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân. Theo truyền thuyết, cá Ông vốn hóa thân từ những mảnh áo cà sa của Phật Bà Quan Âm quăng xuống biển để cứu vớt sinh linh bị chìm đắm. Từ đó, người dân luôn tin rằng cá Ông là vị thần luôn phò trợ, giúp sức cho người đi biển.

Nhiều đời vua nhà Nguyễn đã ban sắc phong tặng cá voi là “Nam Hải cự tộc Ngọc Lân tôn Thần”, ban sắc phong cho thần Nam Hải, chính thức công nhận tục thờ cúng Cá Ông tại các làng quê dọc ven biển miền Trung.

Lễ hội Cầu Ngư không chỉ là môt phong tục tập quán mà còn lưu giữ tín ngưỡng dân gian mang nét đẹp văn hóa, tôn giáo của ngư dân Việt Nam. Lễ hội thể hiện ý thức "uống nước nhớ nguồn", tưởng nhớ công đức của các vị tiền hiền, có công lập làng, dựng nghề. Thông qua lễ hội thắt chặt thêm tình đoàn kết gắn bó giữa các ngư dân làng chài ven biển.

Theo Thùy Trang (VnExpress)
Du lịch, GO!

Miền Trung khai hội Cầu Ngư

(VnExpress) - Cứ vào tháng Giêng, nhiều làng chài tại các địa phương lại tưng bừng tổ chức ngày hội Cầu Ngư với mong muốn một năm trời yên biển lặng, tôm cá đầy khoang.

Lễ hội Cầu Ngư, thờ cúng Cá Ông là một nét văn hóa dân gian tiêu biểu của ngư dân chài lưới ven biển miền Trung. Tục thờ Cá Ông (cái voi) đã tồn tại lâu đời nay, trong dân gian, cá voi là một loài cá thần, thường giúp họ vượt qua tai nạn khi lênh đênh trên biển cả, “Ông” là tiếng gọi tôn kính của ngư dân dành riêng cho cá này. Hàng năm, thường là sau khi ăn Tết xong, ngư dân tổ chức lễ tế Cá Ông lồng ghép dưới hình thức lễ hội Cầu Ngư và lễ ra quân đánh bắt vụ cá Nam.

Tại Huế, lễ hội cầu ngư làng Thai Dương (huyện Phú Vang) được diễn ra vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch. Lễ hội năm nay được tổ chức lớn vì theo truyền thống của làng là “tam niên đáo lệ”, tức sau ba năm mở hội lớn vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Lễ hội cầu ngư làng Thai Dương có từ hơn 500 năm trước, được tổ chức với mong muốn cầu mưa thuận gió hòa, mọi nhà làm ăn phát đạt, đồng thời, bày tỏ lòng nhớ ơn vị khai canh làng là Trương Quý Công.

Cùng chung không khí đó, lễ hội Cầu Ngư Đà Nẵng đã diễn ra vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch với nhiều hoạt động sôi nổi.

Ông Nguyễn Đăng Dương (Thanh Khê Tây, Đà Nẵng), một trong những người tham gia lễ bái chính cho biết: “Cầu Ngư là lễ hội lớn của ngư dân Đà Nẵng, vào ngày này hàng năm, mọi người cùng tổ chức lễ cúng để cầu mong một năm trời yên biển lặng, mùa màng bội thu”.

Lễ hội thường được diễn ra trong hai ngày. Vào ngày lễ chính, làng chọn ra một ban nghi lễ gồm các cụ cao niên, hiền đức, có uy tín với bạn chài và không bị mắc tang chế. Vị chánh bái dâng đồ tế lễ và đọc văn tế nói lên lòng biết ơn của dân làng đối với công đức Cá Ông và cầu mong mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn.

Hình thức múa hát đặc trưng của lễ hội Cầu Ngư là múa hát bả trạo (bả: nắm, trạo: chèo đò) diễn tả tinh thần đoàn kết giữa các thành viên trong một con thuyền, vượt qua sóng to gió cả, mang về một mùa bội thu cho ngư dân. Hát múa bả trạo, vừa là nghi thức tế lễ, vừa là hoạt động nghệ thuật.

Bên cạnh các nghi lễ còn có phần hội. Mỗi địa phương có những hình thức tổ chức khác nhau nhưng chung lại đều có những trò chơi dân gian vùng biển như: lắc thúng, đua thuyền, bơi lội, kéo co, đá bóng, thi đan lưới, … Các đêm văn nghệ cũng được tổ chức phục vụ bà con xem hát tuồng, hát hò khoan, hát bài chòi, hát bội.

Ngoài tháng giêng, lễ hội Cầu Ngư còn được tổ chức tại các địa phương vào tháng tư âm lịch như tại Cù Lao Chàm (Quảng Nam) vào ngày mồng 3. Đối với các tỉnh Phan Thiết, Bình Thuận, Khánh Hòa thì lễ hội thường diễn ra vào tháng 6 âm lịch.

Lễ hội cúng Cá Ông có vị trí đặc biệt trong đời sống tâm linh và tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân. Theo truyền thuyết, cá Ông vốn hóa thân từ những mảnh áo cà sa của Phật Bà Quan Âm quăng xuống biển để cứu vớt sinh linh bị chìm đắm. Từ đó, người dân luôn tin rằng cá Ông là vị thần luôn phò trợ, giúp sức cho người đi biển.

Nhiều đời vua nhà Nguyễn đã ban sắc phong tặng cá voi là “Nam Hải cự tộc Ngọc Lân tôn Thần”, ban sắc phong cho thần Nam Hải, chính thức công nhận tục thờ cúng Cá Ông tại các làng quê dọc ven biển miền Trung.

Lễ hội Cầu Ngư không chỉ là môt phong tục tập quán mà còn lưu giữ tín ngưỡng dân gian mang nét đẹp văn hóa, tôn giáo của ngư dân Việt Nam. Lễ hội thể hiện ý thức "uống nước nhớ nguồn", tưởng nhớ công đức của các vị tiền hiền, có công lập làng, dựng nghề. Thông qua lễ hội thắt chặt thêm tình đoàn kết gắn bó giữa các ngư dân làng chài ven biển.

Theo Thùy Trang (VnExpress)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..
Khi đang được rước từ đền về đình làng ở Đông Anh, kiệu chở chúa đã lật đổ xuống đường. Rất may, do được buộc bảo hiểm chặt nên cụ ông 70 tuổi không bị rơi ra ngoài.

Lễ hội đền Sái ở thôn Thụy Lôi, xã Thụy Lâm (Đông Anh, Hà Nội) diễn ra lúc 13h ngày 11/1 âm lịch nổi bật với nghi lễ rước vua, chúa giả. Tích xưa kể rằng, sau nhiều lần xây thành Cổ Loa không xong, vua Thục Phán An Dương Vương được thần Huyền Thiên Trấn Vũ giúp diệt trừ yêu tinh, xây được thành. Để tạc ghi công đức của thần, nhà vua cho xây dựng đền Sái, thờ thần Trấn Vũ và hàng năm, vào đầu xuân, nhà vua lại đích thân xa giá về bái yết tại đền.

< Hàng năm vào ngày này, người dân trong làng lại tưởng nhớ sự tích An Dương Vương xây thành Cổ Loa, được các tiên nữ đêm đêm xuống trần gánh đất đắp hộ nhưng thần ma gà tác yêu giả tiếng gà gáy sáng làm các tiên cô bỏ cuộc bay về trời, nên đắp mãi chưa xong thành.

Về sau, do đi lại khó khăn và tốn kém, nhà vua ban chiếu cho làng Thụỵ Lôi thực hành nghi lễ này. Từ đó xuất hiện lễ hội “Rước vua giả” - còn gọi là lễ rước vua sống - ở đền Sái. Từ đó đến nay, cứ đến ngày 11 tháng Giêng có lễ hội rước Vua (lễ hội đền Sái) với sự tham gia của đông đảo dân làng và du khách thập phương.

< Nhờ được thần Huyền Thiên Trấn Vũ ra tay diệt được ma gà trắng núp ở Thất Diệu Sơn nên vua Thục mới xây xong thành Cổ Loa. Thần Trấn Vũ được thờ trên núi Sái của Thất Diệu Sơn. Vua, chúa nhiều đời sau từng về đây bái yết, nhưng thấy việc đi lại làm hao phí tiền bạc, công sức của nhân dân nên vua ban chiếu cho dân làng làm nghi lễ rước vua giả.

< Và từ đó đến nay vào mỗi dịp ăn Tết xong, cả làng lại rộn rã tổ chức hội. Bắt đầu từ 13h, lễ khênh kiệu từ đền Sái về đình làng với màn quay kiệu khí thế, vui nhộn. Đám rước kiệu đi trong tiếng nhạc của phường bát âm và tiếng chiêng trống vang dội.

< Chúa được vẽ mặt đỏ để phân biệt với vua, cả hai ngồi trên kiệu buộc bảo hiểm chặt nhưng cũng phải hãi hùng mỗi khi đám trai làng dô và quay kiệu nghiêng ngả.

< Khi kiệu về gần đến đình làng, pha lúng túng vấp chân của một thanh niên khênh kiệu đi đầu đã kéo theo hàng loạt người phía sau ngã theo khiến chiếc kiệu lật nhào.

< Chàng trai ngã bật ra xa 2 mét, may mắn người đóng vai chúa không bị chấn thương do đã được buộc chặt.

< Người được đóng vai chúa (hay còn gọi là Thanh Trang) năm Giáp Ngọ là cụ Lê Quang Hân (70 tuổi). Đây là một trong hai lão ông cao niên trong làng được tuyển chọn kỹ lưỡng (phải từ 70 tuổi trở lên, con cháu đuề huề hạnh phúc, đầy đủ nội ngoại, gia đình văn hoá).

< Còn vua là cụ Trần Văn Chương (72 tuổi). Thỉnh thoảng vua đứng hẳn lên kiệu khua kiếm náo động đường làng.

< Ngoài ra còn có bốn vị "quan tứ trụ triều đình", quan Thị vệ, quan Tán Lý, quan Đề lĩnh và quan Trấn thủ (trên 60 tuổi) được ngồi võng cho 'lính' rước.

< Trẻ em cũng được tham gia đóng vai quân lính tại lễ hội này.

Theo Zing
Du lịch, GO!

Kiệu chúa bổ nhào trong hội rước vua

Khi đang được rước từ đền về đình làng ở Đông Anh, kiệu chở chúa đã lật đổ xuống đường. Rất may, do được buộc bảo hiểm chặt nên cụ ông 70 tuổi không bị rơi ra ngoài.

Lễ hội đền Sái ở thôn Thụy Lôi, xã Thụy Lâm (Đông Anh, Hà Nội) diễn ra lúc 13h ngày 11/1 âm lịch nổi bật với nghi lễ rước vua, chúa giả. Tích xưa kể rằng, sau nhiều lần xây thành Cổ Loa không xong, vua Thục Phán An Dương Vương được thần Huyền Thiên Trấn Vũ giúp diệt trừ yêu tinh, xây được thành. Để tạc ghi công đức của thần, nhà vua cho xây dựng đền Sái, thờ thần Trấn Vũ và hàng năm, vào đầu xuân, nhà vua lại đích thân xa giá về bái yết tại đền.

< Hàng năm vào ngày này, người dân trong làng lại tưởng nhớ sự tích An Dương Vương xây thành Cổ Loa, được các tiên nữ đêm đêm xuống trần gánh đất đắp hộ nhưng thần ma gà tác yêu giả tiếng gà gáy sáng làm các tiên cô bỏ cuộc bay về trời, nên đắp mãi chưa xong thành.

Về sau, do đi lại khó khăn và tốn kém, nhà vua ban chiếu cho làng Thụỵ Lôi thực hành nghi lễ này. Từ đó xuất hiện lễ hội “Rước vua giả” - còn gọi là lễ rước vua sống - ở đền Sái. Từ đó đến nay, cứ đến ngày 11 tháng Giêng có lễ hội rước Vua (lễ hội đền Sái) với sự tham gia của đông đảo dân làng và du khách thập phương.

< Nhờ được thần Huyền Thiên Trấn Vũ ra tay diệt được ma gà trắng núp ở Thất Diệu Sơn nên vua Thục mới xây xong thành Cổ Loa. Thần Trấn Vũ được thờ trên núi Sái của Thất Diệu Sơn. Vua, chúa nhiều đời sau từng về đây bái yết, nhưng thấy việc đi lại làm hao phí tiền bạc, công sức của nhân dân nên vua ban chiếu cho dân làng làm nghi lễ rước vua giả.

< Và từ đó đến nay vào mỗi dịp ăn Tết xong, cả làng lại rộn rã tổ chức hội. Bắt đầu từ 13h, lễ khênh kiệu từ đền Sái về đình làng với màn quay kiệu khí thế, vui nhộn. Đám rước kiệu đi trong tiếng nhạc của phường bát âm và tiếng chiêng trống vang dội.

< Chúa được vẽ mặt đỏ để phân biệt với vua, cả hai ngồi trên kiệu buộc bảo hiểm chặt nhưng cũng phải hãi hùng mỗi khi đám trai làng dô và quay kiệu nghiêng ngả.

< Khi kiệu về gần đến đình làng, pha lúng túng vấp chân của một thanh niên khênh kiệu đi đầu đã kéo theo hàng loạt người phía sau ngã theo khiến chiếc kiệu lật nhào.

< Chàng trai ngã bật ra xa 2 mét, may mắn người đóng vai chúa không bị chấn thương do đã được buộc chặt.

< Người được đóng vai chúa (hay còn gọi là Thanh Trang) năm Giáp Ngọ là cụ Lê Quang Hân (70 tuổi). Đây là một trong hai lão ông cao niên trong làng được tuyển chọn kỹ lưỡng (phải từ 70 tuổi trở lên, con cháu đuề huề hạnh phúc, đầy đủ nội ngoại, gia đình văn hoá).

< Còn vua là cụ Trần Văn Chương (72 tuổi). Thỉnh thoảng vua đứng hẳn lên kiệu khua kiếm náo động đường làng.

< Ngoài ra còn có bốn vị "quan tứ trụ triều đình", quan Thị vệ, quan Tán Lý, quan Đề lĩnh và quan Trấn thủ (trên 60 tuổi) được ngồi võng cho 'lính' rước.

< Trẻ em cũng được tham gia đóng vai quân lính tại lễ hội này.

Theo Zing
Du lịch, GO!

Đọc thêm..
Sáng nay 9-2 (tức mùng 10 tháng Giêng năm Giáp Ngọ), Hội Xuân Yên Tử sẽ chính thức khai mạc tại lễ trường Yên Tử, khu vực bến xe Giải Oan, Khu di tích lịch sử-danh thắng Yên Tử (TP Uông Bí).

Lễ khai hội có các hoạt động như: Cầu quốc thái, dân an; lễ đóng dấu thiêng Yên Tử; biểu diễn múa rồng-lân, các tiết mục văn nghệ cùng các trò chơi dân gian...
Một trong những điểm nhấn của lễ hội năm nay là công trình tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông trên khu vực An Kỳ Sinh đã khánh thành, phục vụ nhu cầu chiêm bái, lễ phật của du khách.

Ngoài ra lễ hội còn có nhiều hoạt động khác như: Lễ cầu an, cầu phúc, tổ chức các chương trình về nguồn…

Theo Ban Tổ chức Hội Xuân Yên Tử, đến nay mọi công tác tổ chức, phục vụ lễ hội đã hoàn tất. Các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, phân luồng, chống ùn tắc giao thông, phòng chống cháy nổ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thường trực y tế… luôn sẵn sàng.

Ngay từ chiều tối ngày 8/2 (trước ngày khai hội), Yên Tử đã đón hàng nghìn du khách. Hầu hết những người này đều đến từ sớm để dự lễ khai hội vào ngày hôm nay.

Yên Tử mỗi năm đón hàng triệu du khách thập phương về thắp hương lễ Phật. Vị trong Ban quản lý phán đoán: "Năm nay, do số ngày nghỉ sau Tết không dài, cộng với thời tiết ấm áp, nắng ráo nên có lẽ lượng người từ các nơi đi du xuân và hành hương lễ Phật tăng đột biến".

Sáng sớm 9/2, mọi công tác tổ chức, phục vụ lễ hội đã hoàn tất. Các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, phân luồng, chống ùn tắc giao thông, phòng chống cháy nổ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thường trực y tế… luôn sẵn sàng. Dọc tuyến đường từ Chùa Trình lên Yên Tử được trang hoàng bằng nhiều băng rôn, cờ phướn, cờ ngũ sắc, cờ phật giáo và nhiều điểm chỉ dẫn cho du khách lên khu di tích Yên Tử.

Trong ngày khai hội sẽ có trên 300 người thuộc các lực lượng Công an, dân quân tự vệ, dân phòng… được rải khắp tuyến đường lên Yên Tử, đảm bảo an ninh trật tự và giao thông được thông suốt.

Năm 2014, Ban quản lý di tích và rừng quốc gia Yên Tử cũng sắp xếp 4 điểm trông giữ xe miễn phí ở nhiều khu vực nhằm giảm tải lượng xe lưu thông trong lễ hội và thuận tiện cho du khách đi lễ.
Bên cạnh đó, các loại hàng hóa dịch vụ dọc đường hành hương đã được dẹp bỏ và bố trí tại khu vực chợ Xuân, khu bán hàng lưu niệm, khu vực chùa Giải Oan và các kiốt quanh sân ga cáp treo.

Ban tổ chức cũng yêu cầu các hộ kinh doanh trong khu di tích phải ký cam kết, niêm yết giá bán các mặt hàng và không tăng giá vé gửi xe tại khu vực chùa chính.

Du lịch, GO! tổng hợp

Khai hội xuân Yên Tử 2014

Sáng nay 9-2 (tức mùng 10 tháng Giêng năm Giáp Ngọ), Hội Xuân Yên Tử sẽ chính thức khai mạc tại lễ trường Yên Tử, khu vực bến xe Giải Oan, Khu di tích lịch sử-danh thắng Yên Tử (TP Uông Bí).

Lễ khai hội có các hoạt động như: Cầu quốc thái, dân an; lễ đóng dấu thiêng Yên Tử; biểu diễn múa rồng-lân, các tiết mục văn nghệ cùng các trò chơi dân gian...
Một trong những điểm nhấn của lễ hội năm nay là công trình tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông trên khu vực An Kỳ Sinh đã khánh thành, phục vụ nhu cầu chiêm bái, lễ phật của du khách.

Ngoài ra lễ hội còn có nhiều hoạt động khác như: Lễ cầu an, cầu phúc, tổ chức các chương trình về nguồn…

Theo Ban Tổ chức Hội Xuân Yên Tử, đến nay mọi công tác tổ chức, phục vụ lễ hội đã hoàn tất. Các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, phân luồng, chống ùn tắc giao thông, phòng chống cháy nổ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thường trực y tế… luôn sẵn sàng.

Ngay từ chiều tối ngày 8/2 (trước ngày khai hội), Yên Tử đã đón hàng nghìn du khách. Hầu hết những người này đều đến từ sớm để dự lễ khai hội vào ngày hôm nay.

Yên Tử mỗi năm đón hàng triệu du khách thập phương về thắp hương lễ Phật. Vị trong Ban quản lý phán đoán: "Năm nay, do số ngày nghỉ sau Tết không dài, cộng với thời tiết ấm áp, nắng ráo nên có lẽ lượng người từ các nơi đi du xuân và hành hương lễ Phật tăng đột biến".

Sáng sớm 9/2, mọi công tác tổ chức, phục vụ lễ hội đã hoàn tất. Các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, phân luồng, chống ùn tắc giao thông, phòng chống cháy nổ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thường trực y tế… luôn sẵn sàng. Dọc tuyến đường từ Chùa Trình lên Yên Tử được trang hoàng bằng nhiều băng rôn, cờ phướn, cờ ngũ sắc, cờ phật giáo và nhiều điểm chỉ dẫn cho du khách lên khu di tích Yên Tử.

Trong ngày khai hội sẽ có trên 300 người thuộc các lực lượng Công an, dân quân tự vệ, dân phòng… được rải khắp tuyến đường lên Yên Tử, đảm bảo an ninh trật tự và giao thông được thông suốt.

Năm 2014, Ban quản lý di tích và rừng quốc gia Yên Tử cũng sắp xếp 4 điểm trông giữ xe miễn phí ở nhiều khu vực nhằm giảm tải lượng xe lưu thông trong lễ hội và thuận tiện cho du khách đi lễ.
Bên cạnh đó, các loại hàng hóa dịch vụ dọc đường hành hương đã được dẹp bỏ và bố trí tại khu vực chợ Xuân, khu bán hàng lưu niệm, khu vực chùa Giải Oan và các kiốt quanh sân ga cáp treo.

Ban tổ chức cũng yêu cầu các hộ kinh doanh trong khu di tích phải ký cam kết, niêm yết giá bán các mặt hàng và không tăng giá vé gửi xe tại khu vực chùa chính.

Du lịch, GO! tổng hợp
Đọc thêm..
(VnExpress) - Trong suốt tháng đầu năm, các vùng miền trên cả nước đều tưng bừng tổ chức lễ hội với nhiều hoạt động sôi nổi và hấp dẫn.

Lễ hội bắt chồng, Lâm Đồng

Từ mùng 1 Tết đến hết tháng 3 âm lịch là thời gian diễn ra lễ hội bắt chồng của đồng bào các dân tộc Chu Ru, Cil, Cơ Ho... ở Lâm Đồng nói riêng và Tây Nguyên nói chung. Lễ hội diễn ra ban đêm. Khi thích một chàng trai nào đó, cô gái về thông báo cho gia đình và dòng họ biết. Gia đình sẽ đến nhà trai hỏi dạm. Nếu nhà trai đồng ý, lễ bắt chồng sẽ được diễn ra vào hôm trước ngày cưới. Cô gái sẽ đến đeo nhẫn vào tay người con trai. Sau lễ cưới 7 ngày, cô gái tháo nhẫn đưa mẹ chồng cất giữ và ngược lại nhẫn chàng trai do mẹ vợ cất giữ.

Lễ hội Đống Đa - Tây Sơn, Bình Định

Lễ hội Đống Đa - Tây Sơn là dịp tưởng nhớ công tích lẫy lừng của các thủ lĩnh phong trào Tây Sơn, đặc biệt là người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ và kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa. Lễ hội diễn ra từ mùng 4 đến mùng 5 tháng Giêng âm lịch, tại Bảo tàng Quang Trung, thị trấn Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định.

Ngoài nghi lễ truyền thống, lễ hội còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa dân gian như biểu diễn võ thuật và trống trận Tây Sơn, đua thuyền, trò chơi dân gian, hát tuồng...  thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Lễ hội núi Bà Đen, Tây Ninh

Hội xuân núi Bà Đen năm nay được khai mạc đúng mùng 4 Tết Nguyên Đán và kéo dài đến hết tháng Giêng. Đây là lễ hội truyền thống nổi tiếng Tây Ninh và các tỉnh Đông Nam Bộ.

Du khách có thể lên chùa Bà trên núi bằng cách đi bộ hoặc hệ thống máng trượt, cáp treo. Ngoài hành hương lễ Phật đầu năm, núi Bà Đen với độ cao 968 m còn là thử thách thú vị với nhiều bạn trẻ mê chinh phục.

Lễ hội chùa Hương, Hà Nội

Lễ hội Chùa Hương năm nay với chủ đề “Lễ hội Du lịch – Chùa Hương nét đẹp truyền thống Văn hóa Việt” sẽ chính thức khai hội vào ngày 6 tháng Giêng, và kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch. Thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, lễ hội chùa Hương là một trong những lễ hội kéo dài nhất cả nước. Đến với lễ hội, du khách không chỉ được tham gia vào hành trình về cõi Phật mà còn được đắm mình trong không gian của non nước mênh mông với hàng giờ ngồi thuyền ngắm cảnh.

Lễ hội Lồng Tồng, Tuyên Quang

Lễ hội Lồng Tông là lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang. Lễ hội được tổ chức vào mùng 8 tháng Giêng hàng năm với mong ước cầu một năm mới mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình ấm no, hạnh phúc.

Trong ngày này, nhà nào cũng chuẩn bị các vật phẩm làm ra từ nông nghiệp để dâng lên các vị thần linh, như bánh chưng, thịt lợn, trứng luộc, xôi ngũ sắc. Ngoài phần lễ, phần hội gắn liền với các trò chơi dân gian luôn được đồng bào và du khách đón đợi như ném còn, đi cà kheo, múa rối, chọi gà, đánh đu, múa võ, kéo co, đẩy gậy, bắn nỏ và hát then.

Hội đua ngựa Gò Thì Thùng, Phú Yên

Lễ hội được tổ chức vào mùng 9 tháng Giêng, tại Gò Thì Thùng, xã An Xuân, huyện Tuy An. Mặc dù tham gia đường đua là những chú ngựa hàng ngày thồ hàng và kỵ sĩ là những người nông dân chân chất, nhưng vào ngày hội, du khách sẽ được chứng kiến những màn phi nước đại trong tiếng reo hò cổ vũ của hàng nghìn người xem. Ngoài phần đua, lễ hội còn có các trò chơi dân gian sôi động.

Lễ hội Yên Tử, Quảng Ninh

Là một trong những trung tâm Phật giáo của Việt Nam, Yên Tử mỗi năm vào mùa lễ hội thu hút hàng trăm nghìn lượt khách hành hương. Trong ngày khai hội mùng 10 tháng Giêng, lễ hội xuân năm nay ngoài điểm nhấn là công trình tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông trên khu vực An Kỳ Sinh đã khánh thành, phục vụ nhu cầu chiêm bái, lễ phật của du khách, sẽ có nhiều hoạt động khác như: Lễ cầu an, cầu phúc, tổ chức các chương trình về nguồn…

Hội cầu ngư, Huế

Hàng năm vào ngày 12 tháng Giêng, cư dân Thái Dương Hạ, Thuận An lại long trọng tổ chức hội Cầu ngư. Trò diễn bủa lưới trong hội cầu ngư sẽ được tổ chức trước đình làng. Sau đó là cuộc đua thuyền trên phá của các xã lận cận.

Kết thúc buổi lễ là buổi cơm thân mật giữa quan khách và dân làng ở địa phương. Lễ hội cầu ngư được tổ chức để tỏ lòng nhớ ơn vị cai canh làng là Trương Thiều, được gọi một cách kính cẩn là Trương Quý Công.

Hội Lim, Bắc Ninh

Hội Lim là một lễ hội lớn của tỉnh Bắc Ninh, chính hội được tổ chức vào ngày 13 tháng Giêng hàng năm, trên địa bàn huyện Tiên Du.

Đến với lễ hội, du khách không chỉ được lắng nghe những câu hát quan họ say đắm lòng người, từ hát mời trầu, gọi đò đến con sáo sang sông, con nhện giăng mùng; mà còn được tham gia nhiều trò chơi dân gian như đấu võ, đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm.

Hội Đền Trần, Nam Định

Năm nay, lễ hội Đền Trần sẽ diễn ra từ ngày 12 đến 16 tháng Giêng với hai nghi thức được khôi phục là rước nước và tế cá.

Lễ phát ấn cho nhân dân và khách thập phương bắt đầu từ 7h sáng ngày 15 tháng Giêng (14/2). Ấn Đền Trần sẽ được phát tại 3 nhà là nhà Giải Vũ, nhà trưng bày đền Trùng Hoa và một điểm trong khu vực vườn cây đền Trần.

Theo Vy An (VnExpress)
Du lịch, GO!

10 lễ hội lớn tháng Giêng

(VnExpress) - Trong suốt tháng đầu năm, các vùng miền trên cả nước đều tưng bừng tổ chức lễ hội với nhiều hoạt động sôi nổi và hấp dẫn.

Lễ hội bắt chồng, Lâm Đồng

Từ mùng 1 Tết đến hết tháng 3 âm lịch là thời gian diễn ra lễ hội bắt chồng của đồng bào các dân tộc Chu Ru, Cil, Cơ Ho... ở Lâm Đồng nói riêng và Tây Nguyên nói chung. Lễ hội diễn ra ban đêm. Khi thích một chàng trai nào đó, cô gái về thông báo cho gia đình và dòng họ biết. Gia đình sẽ đến nhà trai hỏi dạm. Nếu nhà trai đồng ý, lễ bắt chồng sẽ được diễn ra vào hôm trước ngày cưới. Cô gái sẽ đến đeo nhẫn vào tay người con trai. Sau lễ cưới 7 ngày, cô gái tháo nhẫn đưa mẹ chồng cất giữ và ngược lại nhẫn chàng trai do mẹ vợ cất giữ.

Lễ hội Đống Đa - Tây Sơn, Bình Định

Lễ hội Đống Đa - Tây Sơn là dịp tưởng nhớ công tích lẫy lừng của các thủ lĩnh phong trào Tây Sơn, đặc biệt là người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ và kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa. Lễ hội diễn ra từ mùng 4 đến mùng 5 tháng Giêng âm lịch, tại Bảo tàng Quang Trung, thị trấn Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định.

Ngoài nghi lễ truyền thống, lễ hội còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa dân gian như biểu diễn võ thuật và trống trận Tây Sơn, đua thuyền, trò chơi dân gian, hát tuồng...  thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Lễ hội núi Bà Đen, Tây Ninh

Hội xuân núi Bà Đen năm nay được khai mạc đúng mùng 4 Tết Nguyên Đán và kéo dài đến hết tháng Giêng. Đây là lễ hội truyền thống nổi tiếng Tây Ninh và các tỉnh Đông Nam Bộ.

Du khách có thể lên chùa Bà trên núi bằng cách đi bộ hoặc hệ thống máng trượt, cáp treo. Ngoài hành hương lễ Phật đầu năm, núi Bà Đen với độ cao 968 m còn là thử thách thú vị với nhiều bạn trẻ mê chinh phục.

Lễ hội chùa Hương, Hà Nội

Lễ hội Chùa Hương năm nay với chủ đề “Lễ hội Du lịch – Chùa Hương nét đẹp truyền thống Văn hóa Việt” sẽ chính thức khai hội vào ngày 6 tháng Giêng, và kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch. Thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, lễ hội chùa Hương là một trong những lễ hội kéo dài nhất cả nước. Đến với lễ hội, du khách không chỉ được tham gia vào hành trình về cõi Phật mà còn được đắm mình trong không gian của non nước mênh mông với hàng giờ ngồi thuyền ngắm cảnh.

Lễ hội Lồng Tồng, Tuyên Quang

Lễ hội Lồng Tông là lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang. Lễ hội được tổ chức vào mùng 8 tháng Giêng hàng năm với mong ước cầu một năm mới mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình ấm no, hạnh phúc.

Trong ngày này, nhà nào cũng chuẩn bị các vật phẩm làm ra từ nông nghiệp để dâng lên các vị thần linh, như bánh chưng, thịt lợn, trứng luộc, xôi ngũ sắc. Ngoài phần lễ, phần hội gắn liền với các trò chơi dân gian luôn được đồng bào và du khách đón đợi như ném còn, đi cà kheo, múa rối, chọi gà, đánh đu, múa võ, kéo co, đẩy gậy, bắn nỏ và hát then.

Hội đua ngựa Gò Thì Thùng, Phú Yên

Lễ hội được tổ chức vào mùng 9 tháng Giêng, tại Gò Thì Thùng, xã An Xuân, huyện Tuy An. Mặc dù tham gia đường đua là những chú ngựa hàng ngày thồ hàng và kỵ sĩ là những người nông dân chân chất, nhưng vào ngày hội, du khách sẽ được chứng kiến những màn phi nước đại trong tiếng reo hò cổ vũ của hàng nghìn người xem. Ngoài phần đua, lễ hội còn có các trò chơi dân gian sôi động.

Lễ hội Yên Tử, Quảng Ninh

Là một trong những trung tâm Phật giáo của Việt Nam, Yên Tử mỗi năm vào mùa lễ hội thu hút hàng trăm nghìn lượt khách hành hương. Trong ngày khai hội mùng 10 tháng Giêng, lễ hội xuân năm nay ngoài điểm nhấn là công trình tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông trên khu vực An Kỳ Sinh đã khánh thành, phục vụ nhu cầu chiêm bái, lễ phật của du khách, sẽ có nhiều hoạt động khác như: Lễ cầu an, cầu phúc, tổ chức các chương trình về nguồn…

Hội cầu ngư, Huế

Hàng năm vào ngày 12 tháng Giêng, cư dân Thái Dương Hạ, Thuận An lại long trọng tổ chức hội Cầu ngư. Trò diễn bủa lưới trong hội cầu ngư sẽ được tổ chức trước đình làng. Sau đó là cuộc đua thuyền trên phá của các xã lận cận.

Kết thúc buổi lễ là buổi cơm thân mật giữa quan khách và dân làng ở địa phương. Lễ hội cầu ngư được tổ chức để tỏ lòng nhớ ơn vị cai canh làng là Trương Thiều, được gọi một cách kính cẩn là Trương Quý Công.

Hội Lim, Bắc Ninh

Hội Lim là một lễ hội lớn của tỉnh Bắc Ninh, chính hội được tổ chức vào ngày 13 tháng Giêng hàng năm, trên địa bàn huyện Tiên Du.

Đến với lễ hội, du khách không chỉ được lắng nghe những câu hát quan họ say đắm lòng người, từ hát mời trầu, gọi đò đến con sáo sang sông, con nhện giăng mùng; mà còn được tham gia nhiều trò chơi dân gian như đấu võ, đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm.

Hội Đền Trần, Nam Định

Năm nay, lễ hội Đền Trần sẽ diễn ra từ ngày 12 đến 16 tháng Giêng với hai nghi thức được khôi phục là rước nước và tế cá.

Lễ phát ấn cho nhân dân và khách thập phương bắt đầu từ 7h sáng ngày 15 tháng Giêng (14/2). Ấn Đền Trần sẽ được phát tại 3 nhà là nhà Giải Vũ, nhà trưng bày đền Trùng Hoa và một điểm trong khu vực vườn cây đền Trần.

Theo Vy An (VnExpress)
Du lịch, GO!
Đọc thêm..